Kỷ niệm hai trăm năm
Ðức Mẹ hiện ra tại Lavang.


Năm 1998 là năm kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại Lavang năm 1978.

Dữ kiện xảy ra trong bối cảnh chính trị và tôn giáo sau đây:

Ðất nước đang ở vào thời kỳ phân tranh giữa ba phe phái là Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn. Vua Quang Trung (Tây Sơn) sau khi bình định các tỉnh Trung Nam, đã kéo quân ra Bắc Hà, dưới chiêu bài: "Phò Lê diệt Trịnh" Ông thống nhất đất nước và lên ngôi báu. Nhưng ông đoãn mệnh và mất năm 1792. Người con của Ông, thái tử Nguyễn quang Toản, lên thay thế lấy tên là Cảnh Thịnh. Thoạt đầu, Cảnh Thịnh phải đương đầu với Chúa Nguyễn Ánh ở miền Nam. Vì thế từ năm 1792 đến 1797, tôn giáo không có vấn đề gì khó khăn. Thừa sai Gire cho biết đầu năm 1796 khu vực Huế và các tỉnh miền Bắc địa phận Ðàng Trong có khoảng 13 đến 14 ngàn giáo dân..

Ở miềnNam Nguyễn Ánh được sự yểm trợ cua Ðức Cha Bá-đa-Lộc Pigneau de Béhaine, lấy lại nhiều phần đất ở miền Trung, tuy rằng nhà Tây Sơn còn rất mạnh thế. Bá đa Lộc trong cái mộng tạo nên một Constantinô thứ hai cho Giáo Hội Việt Nam, đã khuyên Nguyễn Ánh sang Pháp, ngụ tại nhà Mẹ Hội Thừa Sai Paris, ở đường rue du Bác. Sau nhiều cuộc điều đình, được Cha và Hoàng Tử trở về với bá tước Convay có phận sự thi hành hiệp ước ký kết.

Công việc của Giám mục Bá đa Lộc không được sự đồng ý của các Thừa sai, và đi ngược lại các chỉ thị của Tòa Thánh.

Hồi ấy, ở địa phận Bắc Ðàng Trong có đức Cha An -G. Labartette- Cha Gire, cha Doussain ở Ðất Ðỏ (Quảng Trị) coi sóc cả một vùng rộng lớn Dinh Cát, có rất nhiều giáo dân.

NguyễnÁnh, được sự hỗ trợ của Ðức Cha Bá Ða Lộc đang kình chống kịch liệt vua Cảnh Thịnh. Thêm nữa, quan quân nhà vua chận bắt được lá thư của Nguyễn Ánh gởi cho đức Cha Labartette. Bức thư xin đức Cha tổ chức tại Huế, một đạo quân giáo dân, để hỗ trợ cho lực lượng quân Pháp đánh từ ngoài vào.

Có những sử gia hoài nghi về lá thư này. Nhưng, nếu có thì mưu đồ khôn ranh của Nguyễn Ánh rất phù hợp với hoàn cảnh lúc ấy.

Vua Cảnh Thịnh càng lo cảnh giác đối với người công giáo trong vùng ông kiểm soát hơn.

Lại thêm, năm 1797, có một vị quan võ đại thần tên là Lê văn Lợi, rất ác cảm với đạo Công giáo, hay rót vào tai vua: "Họ rất xảo quyệt, không khéo thì mất nước! Xin Hoàng đế hạ lệnh bắt tất cả đạo trưởng Tây phương và các cụ đạo bản quốc." Nghe biết như vậy, một quan văn, người công giáo, tên làHồ Công Diệu, một mặt đúng ra bênh vực đạo: "Ðạo Công giáo truyền dạy vâng phép vua, thảo kính cha mẹ. Sao lại xui dân làm loạn được?" Mặt khác, ông sai một bà giúp việc người Công giáo, đi cấp báo cho đức Cha An đang ở Chủng viện Di-loan (Cửa Tùng) để đề phòng.

Ngày 17 tháng 8 nam 1798, vua Cảnh Thịnh công khai ra sắc dụ cấm đạo. Với sắc dụ cấm đạo về mặt nổi, nhà vua còn gửi một mật lệnh cho các quan, hẹn đến tháng năm năm 1798, phải ra tay bắt hết linh mục và giáo dân rồi "giết sạch".

Ngày 7 tháng 8 năm 1798, quân lính nhà vua đột nhập vào các giáo xứ xung quanh Huế và bắt Cha Emmanuel Nguyễn văn Triệu, cùng một số giáo dân. Ngày 11 tháng 8 năm 1798 quan quân lại vào vây giáo xứ Di-loan (Cửa Tùng). Ðức Cha An và các vị thừa sai chạy trốn kịp.

Cha Emmanuel Trịệu, vừa ở Bắc về Thợ đúc thăm mẹ già thì bị bắt và hành quyết ngày 17 tháng 9 năm 1798 tại Bãi Dâu, gần cầu Gia Hội bây giờ. Ngài được tôn phong hiển thánh ngày 19-60-1988 và là vị thánh Tử Ðạo đầu tiên của Giáo phận Huế.

Trong vụ ruồng bố này, ngoài Cha Triệu còn có 32 "chức việc" trong các họ đạo cũng bị bắt ngày 8-8-1798. Họ là những chiến sĩ vô danh đã làm rạng rỡ đức Tin trong một vụ xử án vừa bi ai vừa hy hữu. Họ bị giam trong một ngôi nhà tù chỉ có hai của ra vào. Cửa "sinh môn" và cửa "tử môn". Ai muốn sống và về với vợ con thì qua cửa Sinh môn, nhưng phải đạp lên thập tự giá đặt ngang cửa. Ai chọn chết thì bước qua cửa tử môn, có lý hình cầm gươm trần chực sẵn. Dân chúng đến xem thật đông, vị quan giảm sát chễm chệ ngồi thừa lệnh. Khi ba hồi chiêng trống vọng lên thì có 30 chứng nhân can đảm bước qua cửa tử môn, chết vì đạo. Chỉ có hai người bước qua sinh môn. Tử đạo là lựa chọn. Họ đã chọn Thiên Chúa và Ðức Tin.

Trước cơn bắt bớ như vũ bão giáo dân hoảng hốt lo sợ, chạy trốn, kẻ lên núi, người xuống biển, kẻ ở nhà bà con bên lương, kẻ xuống thuyền lênh đênh trên sông nước.

Theo lời truyền tụng, một nhóm giáo dân ở gần đồi Dinh Cát (nay là tỉnh lỵ Quảng Trị, thuộc mấy họ đạo Cổ Vưu, Thạch Hãn, Thanh Hóa đã chạy vào Phường Lavang tỵ nạn. Lavang hồi ấy là một vùng đất rừng rú, xen kẽ với những khoảng đất đầy "cây lá vằng" sim.

Lavang lúc ban đầu, người ta gọi chính tên là Phường Là Vằng, như trong địa bộ. Ở dây có rất nhiều cây Lá Vằng, loại cây có hột đen, ăn được và là một vị thuốc. Người phụ nữ xứ Dinh Cát thường sắc uống khi sinh con. Phường Lá Vằng sau này người ta đọc trại ra Lavang như Hóa đọc ra Huế, Ðông hải thành Ðồng hối v.v...

Cũng có người như Ðức Cha Hồ Ngọc Cẩn cho rằng Lavang là tiếng kêu vì "ở đây ban đêm người ta la lối, đánh mỏ đánh thùng để đuổi thú dữ hay về phá hoa màu...nên người ta gọi là phường Lavang".

Thì nơi chốn rừng sâu nước độc này, dưới thời bắt bớ của vua Cảnh Thịnh năm 1798, Ðức Mẹ đã hiện ra an ủi những người lánh nạn đang sống trong cảnh lầm than đau khổ. Trong lúc lánh nạn tại đây, ở giữa rừng xanh núi hiểm, ban đêm họ họp nhau dưới bóng một cây đa cổ thụ để lần chuỗi, cầu nguyện.

Trong cơn lo sợ, thể xác lại tiều tụy đau ốm, họ kêu xin thiết tha não nùng. Bỗng nhưng Ðức Mẹ hiện ra trong ánh hào quang rực rỡ. Mẹ mặc áo chòng rộng, tay ẵm Chúa Hài Ðồng. Họ nhận ra ngay là Ðức Mẹ, vì Mẹ ẵm Chúa Hài Ðồng. Hai bên lại có hai thiên thần cầm đèn chầu. Ðức Mẹ tỏ vẻ nhân từ âu yếm, an ủi bổn đạo vui lòng chịu khó. Mẹ dạy lấy là xung quanh nấu uống, sẽ lành các bệnh tật.

Mẹ lại hứa rằng: "Mẹ nhân lời chúng con kêu xin, và từ đây về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở chốn này, Mẹ sẽ nhân lời ban ơn theo ý nguyện."

Sự kiện xảy ra trên thảm cỏ gần gốc cây đa cổ thụ, nơi giáo dân đang cầu nguyện. Ðức Mẹ còn hiện ra nhiều lần như vậy. Ðó là điều các tiền nhân loan truyền lại cho đến ngày nay.

Cha ông chúng ta, từ thời xa xưa, có để lại cho chúng ta một bài vãn, gọi là văn Lavang, với lời lẽ thô sơ mộc mạc, kể lại sự tích Ðức Mẹ hiện ra:

      "Trời sinh cái chốn lạ lùng
      Tự nhiên giữa núi lên cung Chúa Bà
      Truyền rằng có một cây đa,
      Mọc trên núi nọ gọi là Lavang
      Ngày thì hạc phụng dạo chơi
      Ðêm thì hổ báo chầu nơi linh hoàng
      Thôn này linh ứng nghiêm trang
      Hai bên khe ruộng giữa làng Lavang.

Sự tích Ðức Mẹ hiện ra ở Lavang không có bút tích công nhận. Nhưng các việc thực hiện tại Lavang do các đấng Bề Trên trong đạo, cả Tòa Thánh Lamã, được coi như mạc nhiên nhìn nhân giá trị siêu nhiên của cuộc hiển linh. "Có tích mới dich ra tuồng. Nay việc Lavang đã ra như một tấm tuồng lớn la...lẽ nào là một việc vô tăm tích." (Ðúc Cha Hô Ngọc Cẩn). Trong lần Ðại Hội đầu tiên năm 1901, cha Bouin (Cố Vinh) đã tra hỏi các cụ ông cụ bà cao niên, họ đều nói: Ðức Mẹ hiện ra đến nay "xê xích độ 100 năm."

Về việc "bà lạ" hiện ra dưới gốc cây đa được loan truyền đi khắp nơi. Nhưng Bà Lạ ấy là ai? Anh em bên lương tự nhận là một vị linh thiêng của họ. Phải chăng vì chùa chiền hay nằm dưới những cây đa rợp bóng? Họ liền dựng lên một ngôi chùa bằng tranh, mỗi khi đi vào rừng sâu đốn cây kiếm củi, họ hay đến thắp hương đèn khấn vái. Nhưng rồi với thời gian, họ nhận ra rằng "Bà Lạ" hiện ra thuộc về bên Giáo. Các "chức dịch" đồng thuận nhường cúng đám đất và ngôi chùa cho người Công giáo. Ðó là ngôi nhà thờ đầu tiên ở Lavang "ngôi nhà Chùa trở thành nhà Chúa" Cha sở Cổ Vưu cho một tượng Thánh Giá, một ảnh Ðức Mẹ và mấy chân đèn, đặt một ông từ giữ nhà thờ.

Bài Vãn cổ xưa, còn ghi lại câu chuyện "Mụ bán vải" và câu chuyện truyền tụng về hiệu năng Là Ðức Mẹ Lavang chữa lành mọi bệnh tật như Ðức Mẹ đã hứa." lấy lá nơi vườn nhà thờ sắc uống sẽ lành bệnh."

Ðức Mẹ hiện ra ở Lavang là để an ủi nâng đỡ giáo dân trong những cơn bắt bớ cấm cách đã qua và khơi dậy niềm tin trong những cuộc tàn sát sắp đến.

Vua Tự Ðức (1847-1884) ra năm chỉ dụ cấm đạo mà chỉ dụ "phân sáp" cuối năm 1960 là ghê sợ và tàn bạo hơn cả, Từ trong ngôi nhà thờ mái tránh vách đất dưới bóng cây đa cổ thụ, hẳn là Bức Ảnh Mẹ đã từng chứng kiến từng đoàn người thất thểu trên các nẻo đường, nước mắt tràn trụa, trên đôi gò má bị khắc bốn chữ "Da tô tả đạo". Họ bị "phân sáp", con xa cha, vợ xa chồng, đi về một phương trời vô định. Dưới trời Tự Ðức có 58 vị Thánh Tử Ðạo được tôn phong và còn biết bao nhiều vị anh hùng không tên không tuổi đã vì Chúa quyên sinh hoặc sống trong cảnh "phân tán" kẻ Bắc người Nam. Cơn "phân sáp" kéo dài 11 tháng cho đến ngày 17-7-1962 nhà vua mới hạ sắc tha Ðạo.

Sau cơn phân sáp, số giáo dân vùng Dinh Cát (Qủang Trị) còn lại độ 7.424 người thuộc 37 họ đạo. Giáo hội được một thời gian yên tĩnh để tái thiết lại các cơ sở thì đồng thời những cuộc hành hương về linh địa Lavang lần đầu tiên được khai diễn. Những cuộc hành hương "Ðức Mẹ phù hộ giáo hữu" tìm về Lavang theo sau là đoàn người giáo dân tay cầm gậy gộc, giáo mác thanh la, trống mõ, vừa để phạt dọn đường đi, vừa xua đuổi beo cọp, mở đường qua núi rừng, tìm về kính viếng nhà thờ Ðức Mẹ.

Cơn bão táp dũ dội thứ hai lại diễn ra ngày 13 tháng 7 năm 1885 khi hịch và dụ vua Hàm Nghi, từ Tân Sở, được gửi đi khắp nước. Dưới chiêu bài "bình Tây sát Tả" phong trào Văn Thân do Tôn Thất Thuyết chủ xướng nhằm "giết sạch" bạch quỉ (Tây) và Tả đạo (giáo hữu). Nhưng Tây không chết mà chỉ thấy hàng ngàn hàng vạn xác đồng bào vô tội. Cuộc tàn sát tuy chỉ trong một thời gian ngắn, số giáo dân bị giết lên tới 60.000 người, kể cả trẻ em.

Trong sách "Một trang huyết lệ Tỉnh Quảng Trị" có ghi câu chuyện cảm động sau đậy: Có gần 200 giáo dân Cổ Vưu đã chạy giặc Văn Thân vào Lavang lánh nạn. Ngày 12 tháng 9 năm 1885 khi họ nghe biết Văn Thân đã bỏ Qủang Trị, họ liền lục tục chia thành nhóm trở về. Họ được gặp Cha Lý (Allys) sau này là Giám mục địa phận Huế. Trên con đường hồi cư, một nhóm giáo dân gồm 30 người do ông Thoàn hướng dẫn bị quân Văn Thân chặn bắt. Ông Thoàn đứng ra xin một đặc ân, là nếu phải chết thì xin được chết trên nền thờ Ðức Mẹ Lavang. Lời yêu cầu được chấp nhận. Ông Thoàn và 29 nguời khác gồm đàn ông, đàn bà đều bi thiêu sát tất cả trên nền nhà thờ Ðức Mẹ.

Người xưa kể rằng: Nhà thờ Lavang đã bị Văn Thân đốt, nhưng bàn thờ và mấy chân đèn gỗ chỉ bị cháy xém. Và từ trên núi nhìn xuống, về đêm trên nền nhà thờ có đèn sáng và nghe như có tiếng cầu kinh sang sảng.

Ngày 12 tháng 9, Cha Allys, nói trên dẫn một phái đoàn cứu trợ ra Cổ Vưu. Người nhìn thấy trong đám tử thi bị Văn Thân sát hại có vài người còn sống sót, nhưng bị thương nặng. Một trẻ em còn buộc với xác mẹ. Và cách đó vài thước, một bà già bị trọng thương nơi cổ đang hoi hóp. Khi thấy có người đến gần, bà hoảng hốt kêu lên "Xin cứ giết tôi đi, tôi khong bỏ đạo đâu!!!"

Bà Bề Trên tu viện Cổ Vưu tên là Hớn với một đứa cháu gái cũng từ Lavang trở về. Trên đường về, bị Văn Thâm chận bắt. Thấy bà còn chút nhan sắc, vị chỉ huy Van Thân hứa tha mạng cho Bà nếu Bà chịu theo nó. Bà Hớn mắng nó một mẻ. Nhìn thấy dưới một chiếc hào chất đầy xác chết bôn đạo sắp bị lấp đất, bà và đứa cháu gái đã nhảy xuống hố và bị chôn sống luôn, để giữ trọn niền trung kiên.

Theo bản thống kê của Ðức Cha Lộc (Gaspar) thì từ ngày 7 tháng 9 năm 1885, Văn Thân đã thiêu sát tại vùng Dinh Cát: 6 linh mục, trên 60 nữ tu Mến Thánh Giá và độ 7.041 giáo dân thuộc 45 họ đạo. Tất cả các nhà thờ, nhà xứ, tu viện, làng xóm đều bị phá bình địa.

Ngày nay, ở linh địa Lavang có đài Ðức Mẹ thì các họ đạo phụ cận có những đài chiến sĩ Ðức Tin gọi là "lăng tử đạo" Ðức Mẹ Nữ Vương các Thánh Tử Ðạo, đứng đó bao quanh bởi vòng hào quang của 7.041 chiến sĩ Ðức Tin đã viết lên "một trang Huyết lệ sử."

1886: Hòa bình đã trở lại. Từ bắc chí nam các giáo xứ bắt đầi xây dựng lại. Nếu ở Bắc có đại Thánh đường Phú Nhai dâng kính Ðức Mẹ Vô Nhiễm, ở Nam có nhà thờ Ðức Bà dâng kính Ðức Mẹ Mông Triệu thì ở miền Trung có nhà thờ Ðức Me Lavang, nơi ghi vết chân của Ðức Mẹ.

Năm 1886, khi các cuộc bắt bớ đạo thực sự chấm dứt thì giờ vinh quang của Ðức Mẹ Lavang khởi điểm. Giáo dân lại vượt núi băng ngàn tìm về linh địa của Mẹ. Các cuộc hành hương với gậy gộc, trống mõ đã qua và được thay thế bằng cờ xí tung bay, bằng những đoàn người tay cầm tràng hạt miệng lâm râm cầu kinh. Họ tiến về nhà thờ Ðức Mẹ. Nhà thờ thứ nhất bằng tranh vách đất đã bị phá hủy, giáo dân lại dựng lên trên nhà nguyện cũ, nơi còn phảng phất tro tàn của 30 vị anh hùng tử đạo, một nhà thờ mới cũng bằng tranh.

Số người hành hương càng ngày càng gia tăng, ngồi nhà nguyện cũ không đáp ứng nhu cầu. Vì vậy, năm 1886, đức Cha Lộc (Gaspar) giám mục địa phận Huế, quyết định xây cất một nhà thờ ngói tại chỗ Ðức Mẹ hiện ra. Nhà thờ được kiến thiết theo kiểu nhà Việt Nam có thể chưa được 400 người. Việc xây cất kéo dài 15 năm (1886-1901) Ngày khánh thành (6-8-1901) cũng là ngày Ðại Hội Lavang lần thứ nhất do đức Cha Gaspar chủ sự. Ngôi thánh đường ngói này thọ được 28 năm rồi sập xuống tàn tạ. Ðức Cha Allys (Lý) quyết định xây một Thánh đường mới, rộng lón hơn, theo kiểu tây phương với hai tầng mái và hai cánh Thánh Giá cổ điển, với ngôi tháp cao nổi bật lên giữa mây trời. Lễ Khành Thành (20-22 tháng 8 năm 1928) cũng là ngày Ðại hội lần thứ nhất có tính cách toàn quốc với nhiều đoàn thể từ Bắc, Trung Nam đổ về. Cuộc rước kiệu gọi là Kiệu Lớn cung nghinh Pho tượng phỏng theo tượng Ðức Mẹ chiến thắng ở nhà thờ Notre Dame des Victoires ở Paris.

Gíao quyền quyết định tổ chức Ðại hội Lavang ba năm một lần và hằng năm có một ngày hành hương minh niên vào ngày mồng Ba Tết nguyên đán.

Người ta nói: Lịch sử là một cuộc tái diễn, những thời chinh chiến xen kẽ với những thời bình. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam cũng theo cái định chế ấy. Sau một thời bình an lại rơi vào những năm khói lửa. Linh địa Lavang cũng cùng trải qua bao nhiêu thăng trầm trôi nổi của đất nước (1945-1954) như vậy :

1949: Lavang bị đặt dưới quyền kiểm soát gắt gao của Việt Minh. Nhiều mìn và lưu đạn được gài trên con đường vào Lavang...nhưng chỉ làm bị thương một con trâu.

20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước, lấy vĩ tuyến 17 và con sông Bến Hải (Quảng Trị) làm ranh giới. Lavang nằm vào vùng Tự Do. Vì tự do tín ngưỡng, nhiều giáo dân từ bên kia vĩ tuyến, dưới sự hướng dẫn của một số linh mục, vượt sông Bến Hải, đến định cư xung quanh linh địa của Ðức Mẹ/ Từ đấy Lavang còn được thêm Lavang thượng, hạ, Tả, Hữu, Trung với hàng vạn giáo dân sống núp bóng Thánh đường Mẹ.

Tượng Ðức Mẹ trước đây tản cư ra Cổ Vưu đã được 20 ngàn giáo dân và 40 linh mục đón về trong một cuộc lễ thật long trọng do Ðức Cha chủ sự.

Trong những năm hòa bình (1955-1961) Lavang trở nên nhộn nhịp tưng bừng, với những cuộc đại hội toàn quốc, với những công trình tái thiết, xây cấy lớn lao. Ðài kỷ niệm nơi Ðức Mẹ hiện ra được kiến trúc sư Ngô viết Thụ hình thành với ba cây đa cổ thụ bằng xi măng cốt sắt.

Ngày 22-8-1961, đức Gioan XXIII ra sắc chỉ nâng "Thánh đường Ðức Mẹ Lavang ở địa phận Huế lên tước hiệu và phẩm giá Tiểu Vương Cung Thánh Ðường: 300 ngàn nguời tham dự cuộc thánh hiến Vương Cung thánh đường ngày 22-8-1961.

Trong vụ hè đỏ lửa năm 1972, các họ đạo định cư xung quanh Lavang đã từ biệt linh địa Mẹ di tản vào Nam. Cuộc chiến xảy ra ác liệt khủng khiếp. Các công trình xây dựng trước đây như Vương Cung Thánh đường, nhà Tĩnh Tâm, Tu viện đều bị sụp đổ, duy chỉ đài Ðức M ẹ còn đứng vững không hề hấn gì.

Chung tôi nhớ đến người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa tên là Ðường, sau khi cố chiếm lại linh địa của Ðức Mẹ đã đến quỳ cầu nguyện trước ngôi Thánh đường đổ nát, thì một quả tạc đạn không biết từ đâu đến, đã rơi đúng chỗ người chiến sĩ, anh đã ra đi "theo tiếng gọi hy sinh của Mẹ", một lá thư anh gưi cho Nguyệt san Ðức Mẹ trước đó như một lời trối trăng.

Sau biến cố 30 tháng tư 1975, giáo hữu đi hành hương thường gặp rất nhiều khó khăn, nhưng họ vẫn đi bằng mọi cách. Vì thấy những khó khăn trong những cuộc hành hương về Lavang, Hội dồng Giám Mục họp tại Hànội, ngày 1 tháng 5 năm 1980, lúc 9 giơ 30 phút, đã đồng thanh biểu quyết lại chấp nhận trung Tâm Thánh Mẫu Lavang là Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc, như đã biểu quyết năm xưa ngày 22-8-1961 và công bố tại Lavang. Sau khi dồng thanh biểu quyếqt như trên, toàn thể Giám Mục đã đứng lên hát kinh "Salve Regina' kính Ðức Mẹ.

Năm nay, 1998, là năm kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại Lavang. Ðể chuẩn bị cho năm kỷ niệm ấy, Ðức Thánh Gioan Phaolô II đã gởi một sứ điệp đặc biệt cho Giáo dân Việt Nam. Ngài viết:: "Nhân dịp khai mạc năm toàn xá kỷ niệm 200 năm Ðức Trinh Nữ Maria hiện ra tại Lavang tôi nhiệt tình hiệp thông trong nỗi vui và tạ ơn Thiên Chúa với các Giám m ục Việt Nam và với các tín hữu trong giáo phận của các Ngài.

Ðồng thời, Tòa Thánh chuẩn y ngày 1-1-1998 là ngày khai mạc năm Thánh Mẫu Lavang, Ðại Lễ khai mạc đã diễn ra long trọng tại Lavang với sự tham dự của 10 ngàn tín hữu, có sự tham dự của Ðức Hồng Y Phạm đình Tụng và đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thể và một số Giám mục.

Năm Toàn Xá Lavang cũng được Tòa Thánh ban cho tất cả đồng bào công giáo hải ngoại được hưởng nhờ ân huệ theo những điều kiện thường lệ.

Tất cả chúng ta hãy hướng về Lavang với đại Lễ Kỷ niệm vào những ngày 13-14-15/8/1998.

        "Ðây Lavang Thánh địa!
        Dừng bước lại khách ơi!
        Khách có nghe tiếng gió rít chân đồi?
        Lời kể lể rừng hoa sim lá rụng.
        Khách có nghe nhạc thùy dương lồng lộng?
        Suối tre vàng theo gió chảy chiều mơ...
        Khách có nghe lời kinh nguyện đền thờ
        Theo tháp trắng trời cao lên bát ngát,
        Khách có nghe sớm chiều, chuông ca hát!
        Rất ngọt ngào, đưa tình Mẹ, khách ơi.

        (Thơ Xuân Ly Băng) 1962.

Lm. Hồng Phúc. , C.Ss.R

Back to TopBack to Top

**.....Tự do tín ngưỡng, nhiều giáo dân từ bên kia vĩ sư Ngô viết Thụ hình thành với ba cây đa cổ thụ bằng xi măng cốt sắt. Ngày 22-8-1961, Dức Gi....

Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao


Copyright © 1998.Dong Chua Cuu The.
All rights reserved.
Email: ducme@cuuthe.com