|
LA VANG LỜI KINH DÀI HAI THẾ KỶ
Tất Cả Cho Ngày Lễ Lớn
Chúng tôi ngồi viết những giòng này giữa tiếng loa rộn rã lời kinh tiếng hát ca tụng Mẹ La Vang, giữa cái nóng bức mùa hè của Miền Trung Việt Nam, của Quảng Trị khô cằn cát trắng và gió Lào, giữõa cái háo hức của hàng ngàn, hàng vạn tín hữu Công giáo Việt Nam từ mọi miền Ðất nước đang tuôn về Thánh Ðịa.
Chúng tôi đã có mặt tại La Vang từ sáng ngày 11.8.1998, có nghĩa là chúng tôi đã rời Thành phố Hồ Chí Minh hai ngày trước, vào sáng sớm ngày 9.8.98 bằng xe ca. Ðường bộ xuyên Việt hôm nay có đường ngoài, đường trong. Ðường ngoài tức là Quốc lộ 1 quen thuộc: Long Khánh, Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang, Qui Nhơn, Quảng Ngãi, Quảng Nam (có thể vào viếng Ðức Mẹ Trà Kiệu trước khi tới Thành phố Ðà Nẵng) rồi Huế, rồi La Vang. Kể ra đây một loạt địa danh để gợi nhớ gợi thương cho bạn đọc ở nước ngoài. Ðường trong là qua ngả Bình Dương, Bù Ðăng, Bình Phước (tỉnh mới thành lập) vào quốc lộ 14 lên Buôn Mê Thuộc, Pleiku, đổ xuống đèo Mang Yang, đèo An Khê qua quốc lộ 19, rồi qua ngã ba Phú Tài, cầu Bà Gi, quẹo trái vào quốc lộ 1 cố hữu để trực chỉ hướng Bắc. Ðường ngoài có hàng loạt con đèo bên vách núi, bên Biển Ðông: Ðèo Cả, Ðèo Ngang, Ðèo Cù Mông, Ðèo Hải Vân . . . có lúc sóng vỗ dạt dào ngay chân Quốc lộ. Ðường trong đồi núi chập chùng, bạt ngàn nương chè, cà phê, đồi thông, với tên sông tên núi rất tây nguyên: Dak Mil, Dak Lap, Sêrêpok, Dak Bla . . . , trên đầu giăng giăng đường điện cao thế 500 KV Bắc-Nam. Cả đường trong lẫn đường ngoài, muốn dừng chân nghỉ đêm nơi mô tùy thích, hoặc chạy suốt đêm có thể đến Huế sau chỉ 24 giờ.
Khi còn ở Sài Gòn, đã có nhiều tin đồn làm nản lòng khách hành hương: thế nào cũng sẽ bị chặn xe hỏi han lôi thôi dọc đường. Nhiều người bảo nhau về với Mẹ vài tuần trước Ðại Hội, hoặc hẹn nhau vài tuần sau Ðại Hội, cho chắc ăn! Không hoang mang sao được khi đọc thư của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam (HÐGMVN) đề ngày 8 tháng 12 năm 1997 do Ðức Hồng Y Phaolô-Giuse Phạm Ðình Tụng ở Hà Nội, Chủ tịch HÐGMVN, và Tổng Giám mục Têphanô Nguyễn Như Thể ở Huế, đồng ký tên, thì "Ðại lễ kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang là một biến cố tôn giáo trọng đại, là lễ chung của Giáo Hội Công Giáo VN". Ấy vậy mà trong văn thư số 1023/CV - VB của Ủy Ban Nhân DânTỉnh Quảng Trị đề ngày 4/12/1997 gửi TGM Nguyễn Như Thể, do Phó Chủ tịch UBND Nguyễn Minh Kỳ ký, thì lại là "qui mô tổ chức ở cấp giáo phận, không mời khách nước ngoài, không mời rộng cả nước." Vậy thì xe mang biển số của Tp Hồ Chí Minh và hành khách "thành thật khai báo" là đi dự Ðại Hội La Vang, rất có thể bị chặn lại ở ranh giới Tỉnh Quảng Trị lắm chứ. Vài ngày trước lúc chúng tôi đến Thánh Ðịa, nghe nói có mấy xe bị chặn và nộp thuế lúc quẹo vào La Vang theo đường La Vang Thượng. Nhưng hình như đây không phải là chủ trương, có lẽ chỉ là "đánh du kích", làm ăn lẻ vậy thôi.
Thế nhưng chuyện này có thật 100%. Khi chúng tôi ngồi viết những hàng này, 4 giờ chiều ngày 11.8.1998, loa phóng thanh yêu cầu khách hành hươnng ngủ lại La Vang đêm nay phải đăng ký tạm trú. Chao ôi cả mấy ngàn người la liệt trong lều, ngoài rừng cây, chắc là giấc ngủ đêm nay sẽ chập chờn vất vả, chẳng ai nghĩ đến điều khoản luật lệ này giữa lúc Nhà Nước đang hô hào tinh giảm bộ máy hành chánh. Thế nhưng, người hô hào cảm thấy an tâm vì đã làm hết nhiệm vụ, chẳng ai trách vào đâu được. Cũng trước đó vài giờ, loa phóng thanh kêu gọi đăng ký các máy quay phim (camcorder) và chụp ảnh (camera). Tất cả các máy quay phim cá nhân phải đăng ký. Máy ảnh chỉ đăng ký các máy hành nghề dịch vụ. Ðăêng ký có nghĩa là phải đóng một khoản lệ phí 55.000 đồng VN (gần 4 đô Mỹ) tại một cái bàn của Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Quảng Trị được thiết lập dã chiến ngay lối vào lễ đài, trước Công trường Mân Côi. Và còn biết bao bực bội linh tinh do những bàn tay vô hình tung hoành lúc đêm về, vào những ngày cận lễ: cả lô bóng đèn bị đập bể, hàng loạt vòi nước bị tháo gỡ khỏi các bồn chứa nước 5000 lít được đặt rải rác tại những nơi khách hành hương tạm trú, có chỗ cả bồn chứa nước bị chọc thủng.
Mặc cho những phiền toái vặt vĩnh, Thánh Ðịa La Vang đang tưng bừng cho ngày hội lớn. Chỉ cần kể Ðại Hội La Vang lần thứ 24 (1996), Thánh Ðịa La Vang hôm nay đã mang một bộ mặt khác lạ. Ðành rằng vẫn còn đó Linh Ðài, nơi Ðức Mẹ hiện ra với công trình kiến trúc dang dở theo hoạ đồ của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, còn đó, 3 cây đa bằng xi măng cốt thép che bóng cho tượng Ðức Mẹ vừa được thay thế vài ngày trước bằng pho tượng rất Việt Nam trong trang phục áo dài, khăn hoàng hậu. Mẫu tượng này được HÐGMVN chuẩn nhận và phê duyệt là hình tượng Mẹ tại La Vang từ này về sau. Vẫn còn đó cây tháp của ngôi Thánh Ðường đã bị hoàn toàn sụp đổ trong trận chiến mùa hè năm 1972, nhưng trên nền cũ hôm nay là ngôi nhà sườn sắt lợp tôn dùng làm nơi chầu Thánh Thể trong những ngày Ðại Hội. Thử đi từ ngoài vào, chiếc cổng Tam Quan bề thế vừa hoàn tất dẫn vào Công trường Mân Côi mà lối đi chính giữa được lát gạch như một chiếc thảm lớn đến Lễ Ðài. Lễ Ðài được xây ngay trước ngọn tháp Nhà Thờ cũ, hình vuông - Bánh Chưng - phỏng theo mô hình đàn Nam Giao có đủ chỗ ngồi cho khoảng 500 linh mục đồng tế. Trên hình vuông là hình tròn - Bánh Dày - với bàn thờ và đủ chỗ ngồi cho các Ðức Giám Mục đồng tế. Che nắng cho Lễ Ðài là 9 chiếc lọng lớn và từ 4 phía mọi người có thể hướng về Lễ Ðài. Tại Linh Ðài nơi mà trong các kỳ Ðại Hội trước đây thường được dành riêng cho các buổi kính viếng cá nhân, các buổi diễn nguyện (trình diễn - cầu nguyện). Toà nhà trung tâm và Tu viện Mến Thánh Giá đã được nâng cấp. Những công trình mới thực hiện là Nhà Khách số 1 dùng để tiếp các vị khách quí. Nhà Khách số 2 với tiện nghi tạm đủ để đón các đoàn hành hương quanh năm. Một điểm son của Ðại Hội lần này là điện và nước được bảo đảm gần như hoàn hảo. Nếu có t
rục trặc từ lưới điện quốc gia thì chỉ một phút sau lại nối dòng liên tục.
Bởi La Vang là Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc nên giáo dân của cả nước đã về đây tiếp tay, lãnh nhận mỗi người một công việc thích hợp. Tất cả đều đặt dưới sự điều động của Ban Tổ Chức mà Trưởng Ban là Linh mục Chính xứ La Vang, Cha Giuse Dương Ðức Toại, người đã lãnh nhận sứ vụ linh mục tại La Vang năm 1968. Tất cả các trưởng tiểu ban đều do các linh mục Giáo phận Huế đảm trách. So sánh với các Ðại Hội trước đây mà chúng tôi được tham dự, chúng tôi xin ngả nón đối với công việc tổ chức lớn lao này. Xin cám ơn Tổng Giáo phận Huế, đứng đầu là Ðức Tổng Giám mục Têphanô Nguyễn Như Thể, người cũng đã được vinh dự nhận lãnh sứ vụ linh mục tại La Vang năm 1962.
Quả thật Giáo Hội cả nước hiệp thông với La Vang. Thường thì các tỉnh Miền Bắc chỉ cần một ngày, cùng lắm là tối khuya là đến được La Vang. Nhưng các tỉnh phía Nam, nếu muốn thoải mái, cần phải dừng chân đâu đó trước lúc tới Cố đô. Ðại Chủng Viện Sao Biển (Nha Trang) từng mở rộng cửa cho các đoàn hành hương tá túc. Than ôi, chỉ được vài lần, rồi thì . . . ! Cũng thế đấy, hôm trước Ðức TGM Nguyễn Như Thể tiếp đón phái đoàn Chính quyền đến chúc mừng Ðại Hội La Vang và cầu chúc Ðại Hội thành công, lẵng hoa xinh đẹp và tình nghĩa còn đó, thì đêm hôm sau, lúc 10 g 30, chú Công an khu vực nằng nặc đòi vào kiểm tra hộ khẩu Nhà Chung Huế, phải giải thích mãi chú mới chịu để yên cho một vài khách vãng lai đang an giấc vì đường xa mệt nhoài và chưa kịp đăng ký tạm trú.
Tại Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế Huế, ngôi nhà thờ duy nhất ở Cố đô có đường vào thênh thang, có bãi đậu xe thoải mái, khách hành hương đi La Vang hoặc từ La Vang về dừng chân qua đêm la liệt hai bên hành lang. Nếu gặp trời mưa, các linh mục mở cửa Nhà Thờ để bà con vào ngủ bên trong, nhưng vẫn phải trình báo tổng quát: "Thưa Công An, tối nay khoảng 300 người." "Dù cho bão táp mưa sa, khách lạ đến nhà trình báo Công An". Ca dao mới bây giờ là vậy. . . Nhưng thôi, chúng ta hãy thoáng nhìn lại 200 năm trước, chuyện của cha ông can trường.
Back to Top
Gợi Nhớ La Vang 200 Năm
Khi vị Giáo sĩ đầu tiên đặt chân lên Ðất Việt năm 1533, thì cũng là lúc chinh chiến tràn lan trên quê hương Ðại Việt. Vua Lê Trang Tông sống lưu vong bên Lào, lên ngôi cùng
năm ấy, lấy đế hiệu là Nguyên Hoà, được cả họ Nguyễn và họ Trịnh phò tá, để chống lại Bắc Triều của Nhà Mạc. Trở về quê nhà dùng Thanh Hoá làm Nam Triều, diệt xong Nhà Mạc, nhưng lại là lúc bắt đầu một cuộc phân tranh mới.
Ðã qua rồi cái thời cùng nhau nằm gai nếm mật phò Vua Lê. Ngay trong gia đình, ông anh rể Trịnh Kiểm đã không ngần ngại xuống tay sát hại cậu em vợ Nguyễn Uông, con trai trưởng của Nguyễn Kim, buộc người con thứ Nguyễn Hoàng phải nhờ cậy chị ruột nói với họ Trịnh cho vào trấn giữ Phương Nam, theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, bởi ở đấy là dãy Hoành Sơn có thế dung thân muôn đời: "Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân."
Từ đấy con cháu Lạc Hồng tuy cùng ngôn ngữ, cùng phong tục tập quán, cùng một cội nguồn mà phải cách ly, quê hương Ðại Việt gấm vóc mà phải phân chia, dài đằng đẵng trên 200 năm, Ðàng Trong, Ðàng Ngoài lấy sông Gianh làm ranh giới. Thế là chinh chiến nối tiếp chinh chiến: "Vua Lê bắt lính vô Trung, Anh theo Chúa Nguyễn vượt Cù Mông anh qua đèo". Thế là trăm họ điêu linh: "Lính Vua, lính Chúa, lính làng. Trời ơi! Biết bao nhiêu giặc cho chàng phải đi".
Khi các cha Dòng Tên đặt chân đến Ðàng Trong, năm 1615, thì cũng là lúc cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn bước vào giai đoạn gay gắt, các vị thừa sai đã phải vất vả để khỏi làm phật ý đôi bên, giữ giao hảo với cả Chúa Nguyễn lẫn Chúa Trịnh, để được ra vào thoải mái Ðàng Trong Ðàng Ngoài mà loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa. Ðể đi từ Ðàng Trong ra Ðàng Ngoài, Cha Ðắc Lộ đã phải về lại Macao, rồi từ đó tháp tùng tàu buôn Bồ Ðào Nha vào Cửa Bạng, thuộc Thanh Hoá, để tránh dị nghị của Chúa Trịnh. Dưới con mắt của các thừa sai, Ðàng Trong và Ðàng Ngoài là 2 quốc gia thù địch.
Ở Ðàng Trong, từ miền Dinh Cát nay thuộc xã Hải Phú, Huyện Hải Lăng, Tỉnh Quảng Trị, Chúa Nguyễn không ngừng bành trướng về phía Nam. Năm 1689, Chúa Nguyễn cử Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, lập Phủ Gia Ðịnh, dựng dinh Trấn Biên, lập huyện Tân Bình tức Sài Gòn ngày nay. La Vang 200 năm cũng là lúc Sài Gòn 300 tuổi.
Chính sách đối với đạo Công giáo của các Chúa Ðàng Trong, Ðàng Ngoài không mấy rõ rệt và nhất quán. Chúa Trịnh đã từng gửu thư cho Ðức Thánh Cha Urbanô VIII nhưng nhà Chúa cũng là tác giả dụ cấm đạo đầu tiên ở Ðàng Ngoài. Chúa Nguyễn Hoàng đã để thứ phi là bà Maria Minh Ðức Vương Thái Phi được thong dong theo đạo. Ấy vậy, mà cũng đã có vụ xử chém thầy giảng Anrê Phú Yên, nguời chứng thứ nhất, trước sự chứng kiến của Cha Ðắc Lộ.
Giữa cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn và nhân lúc triều đình Huế rối loạn do sự chuyên quyền của Trương Phúc Loan, anh em Tây Sơn đã dấy binh ở Bình Ðịnh, thống nhất bờ cõi và xưng vương, khiến Nguyễn Phúc Ánh phải cầu viện nước ngoài. Chỉ tiếc rằng người anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung Nguyễn Huệ đã mệnh một quá sớm để lại ngai vàng cho Hoàng Tử Quang Toản khi ấy mới 10 tuổi. Quang Toản lên ngôi năm 1772, đế hiệu là Cảnh Thịnh. Chỉ 2 năm sau, Thái sư Bùi Ðắc Tuyên là cậu của nhà vua ra lệnh cấm đạo.
Ðỉnh cao của cuộc bách hại là chiếu chỉ cấm đạo trên toàn quốc ngày 17.8.1798, sau khi được tin Chúa Nguyễn Phúc Ánh ở miền man đang được một Giám mục nguời Tây làm môi giới để xin viện trợ của Phương Tây. Sự nghi kỵ và căm ghét của triều đình Cảnh Thịnh đối với người Công giáo gia tăng. Vùng Dinh Cát bị bách hại nặng nề. Ðể trốn tránh lưỡi đao của quan quân Cảnh Thịnh, giáo dân từ các họ đạo Cổ Vưu, Hạnh Hoa, Nhan Biều . . . đổ xô chạy vào khu rừng La Vang, với hy vọng rằng cánh rừng âm u đầy hiểm nguy này sẽ làm chùn bước binh lính triều đình. Chính trong lúc tuyệt vọng này, Mẹ đã hiện ra để yên ủi đoàn con thân yêu: "Hỡi các con, Mẹ đã nhận lời các con cầu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến đây mà cầu khấn cùng Mẹ thì Mẹ sẽ nhận lời họ".
Từ đó, sự kiện Ðức Mẹ La Vang được truyền tụng cho các thế hệ. Các tín hữu đã được nhìn thấy Ðức Mẹ đã kể lại sự việc cho bà con đồng đạo tại Dinh Cát. Kể cả đồng bào bên lương lúc bấy giờ cũng nhìn nhận sự kiện lạ lùng này và nhường lại mái tranh đơn sơ dưới gốc cây đa để làm nơi thờ phượng Mẹ lúc ban đầu. La Vang không bỗng dưng mà có, La Vang hình thành do ký ức của nhiều thế hệ. Từ ký ức của một miền, La Vang bỗng trở thành ký ức của cả Giáo Hội Công Giáo VN, là Trung Tâm Thánh Mẫu toàn quốc.
Trong đời sống xã hội, truyền thống đã là một sức sống mãnh liệt, khởi đầu từ một sự kiện mà lịch sử đã không có cơ hội ghi chép lạïi. Sử sách gì đây khi mà cả trăm năm sau vẫn còn đầy dẫy cay nghiệt, bắt bớ, khủng bố, trốn chui, trốn nhũi ở rừng sâu núi thẳm, chạy quanh làng trên xóm dưới, còn ai mà ghi với chép, từ vị Giám mục cho đến giáo dân, hết Di Loan đến Dương Sơn, hết Cổ Vưu đến La Vang, rồi Xà Quần, Hạnh Hoa, Nhan Biều, Thạnh Hãn . . . Sử sách gì đây khi mà Linh mục còn phải cải trang làm người gánh nước thuê ở chợ Ðông Ba để có thể lén lút giúp đỡ đoàn chiên. Sử sách gì đây khi mà cộng đoàn giáo dân bị phân tán vào các làng bên lương, chồng một nơi, vợ một nơi, con cái một nơi. Ðã có nhiều đùm bọc chở che của bà con bên lương, nhưng cũng đã có không ít những đập phá theo đóm ăn tàn.
Nhà Tây Sơn bị diệt, Nguyễn Ánh chiếm Phú Xuân, lên ngôi vua hiệu là Gia Long năm 1802, lập nên cơ đồ nhà Nguyễn. Ðể tỏ lòng biết ơn đối với Ðức Cha Bá Ða Lộc, tuy không có thiện cảm với Ðạo Chúa, Vua Gia Long cũng đã không cấm đoán gì. Ba triều vua sau đó: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức đã có những biện pháp nghiệt ngã đối với tín hữu. Phải đợi tới năm 1862, Vua Tự Ðức mới ban dụ tha đạo, chấm dứt thời kỳ phân sáp. Một Thánh Lễ tạ ơn đã được tại Toà Giám Mục Kim Long mà vị chủ tế hôm đó là anh chàng gánh nước thuê ngoài chợ Ðông Ba (Huế): Linh mục Nguyễn Văn Thanh đã đóng vai này trong những lúc sóng gió của Hội Thánh để có thể đi lại đó đây giúp đỡ dân Chúa về đàng thiêng liêng.
Thời kỳ êm ả chẳng được bao lâu. Những căng thẳng giữa triều đình và người Pháp mỗi ngày mỗi gia tăng. Vua Tự Ðức băng hà năm 1883, các vua nối tiếp nhau Dục Ðức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Hàm Nghi lên ngôi theo kịch bản của các đại thần.
Ðêm 4.7.1885, trận Mang Cá thất bại, kinh thành thất thủ vào tay quân Pháp, Vua Hàm Nghi được quan quân hộ giá trốn khỏi kinh thành theo đường về Kim Long để ra chiến khu Quảng Trị và ban bố hịch Cần Vương. Phong trào Văn Thân nhân cơ hội này đã ra tay tàn sát giáo dân khắp nơi: Trà Kiệu, Cổ Vưu, Phú Thượng, trong Nam ngoài Bắc . . .
Lại một lần nữa, đoàn con chạy về cầu khẩn sự chở che của Mẹ. Ngày 7.9.1885, giáo dân vùng Dinh Cát bị ruồng bắt khắp nơi. Ở Cổ Vưu, một số ít giáo dân chạy thoát vào La Vang, số đông còn lại vì già cả, ốm đau, rất nhiều trẻ thơ chạy vào Nhà Thờ. Quân Văn Thân chất rơm rạ chung quanh Nhà Thờ và nổi lửa. Có những người vùng chạy thoát ra ngoài, len lỏi trên những nẻo đường làng, bị giết rải rác đầu thôn cuối xóm. Tất cả được gom nhặt và chôn cất trong một ngôi mộ tập thể.
Cuộc tàn sát người Công giáo của Phong trào Văn Thân chẳng qua chỉ là chuyện giận cá chém thớt cho hả dạ quân triều đình phong kiến và lớp nho sĩ thiển cận bất lực trước quân xâm lược nước ngoài. Tuyệt nhiên không là chuyện của toàn dân. Trong đồng bào, vẫn là chuyện nhiễu điều phủ lấy giá gương, là chuyện bầu bí cùng một giàn. Thôn Dương Sơn toàn người có đạo, lại không xa Huế lắm nên đã là nơi tỵ nạn cho các thừa sai và chủng sinh mỗi khi có chuyện chẳng lành ở kinh đô, đã là mũi dùi để quân Văn Thân chỉa vào. Nhưng người Dương Sơn luôn được sự chở che đùm bọc của các thôn xóm lân cận. Vượt qua con sông Bồ bao quanh làng như một vòng cung, người có đạo nhận được sự giúp đỡ của đồng bào bên lương.
La Vang chỉ cách Cổ Vưu có 6 cây số, nên một thời La Vang là họ lẻ của Cổ Vưu. Trong các cuộc cung nghinh và đại hội đầu tiên, Kiệu Ðức Mẹ đã được rước từ Cổ Vưu lên La Vang mà đường Hai Bà Trưng hôm nay vốn là con đường đã được các thừa sai cho thực hiện để rước kiệu vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.
Sông Thạch Hãn đổ ra Cửa Việt, một nhánh sông chảy về phía phá Tam Giang, nhờ vậy giáo hữu dùng thuyền bè tử Cửa Việt vào, từ Thừa Thiên ra, từ Quảng Trị tới, điểm hẹn là bến đò Ba Bến, khách hành hương lên bờ đổ vào La Vang. Khi đường sắt được thiết lập, nhà ga Quảng Trị cũng đã là điểm đến của giáo dân hành hương.
Lúc đầu là những nhóm người kiên trì giữ truyền thống về Thánh Ðịa La Vang vào dịp lễ lớn hoặc Tết Nguyên Ðán, dần dần là những đoàn hành hương đông đảo bởi La Vang không chỉ là ký ức và truyền thống mà thôi, La Vang thực sự là Thánh Ðịa của mọi người tin vào lòng từ mẫu của Mẹ Maria.
Back to Top
Và Ðây Ðại Hội . . . Ðại Hội Ðức Mẹ La Vang lần thứ 25
Ðại Hội Ðức Mẹ La Vang lần thứ 25, kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang chính thức bắt đầu vào lúc 3 giờ 30 chiều ngày thứ Năm (13.8.1998) với việc đón tiếp đoàn Ðức Tổng Giám mục Huế và các Ðức Giám mục đến khai mạc Tam Nhật Ðại Lễ.
Các vị Giám mục xuống xe và tiến vào Công trường Mân Côi, dẫn đầu là Ðức Tổng Giám mục Huế Têphanô Nguyễn Như Thể. Trong đoàn Giám mục, có các vị Giám mục Chánh và Phó Phát Diệm, Giám mục Phan Thiết Nicôla Huỳnh Văn Nghi, Giám mục Chánh và Phó Nha Trang, Giám mục Bắc Ninh, Giám mục Kontum, Giám mục Thái Bình. Các vị được mời hôn đất Thánh Ðịa, chấm nước thánh, làm dấu thánh giá, và đoàn rước tiến vào Công trường. lên Lễ đài, giữa hai hàng rào danh dự gồm các em thiếu nhi, các cô thiếu nữ cầm hoa, và các chú lính đội nón, chân quần xà cạp, tay cầm lọng.
Tại Lễ Ðài, Ðức Giám mục Phó Buôn Mê Thuộc công bố sứ điệp của Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II nhân dịp kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang. Tiếp theo, Ðức Tổng Giám mục Huế công bố khai mạc Tam Nhật Ðại Lễ kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang trong tiếng vỗ tay của khoảng 100.000 người tham dự trong ngày khai mạc, trong tiếng chuông đổ rền vang, trong tiếng hát của Ca đoàn Nhà Thờ Chính Toà Phủ Cam (Huế) hợp xướng bài "Như Sóng Lộc Triều Nguyên", lời thơ Hàn Mặc Tử, nhạc Hải Linh. Giây phút cảm động tiếp theo là lúc 25 huy hiệu, 25 lá cờ ngũ sắc hình chữ nhật, trên đó có thêu một bên là hình nhà thờ chính toà và tên của mỗi giáo phận, bên kialà hàng chữ 200 năm Ðức Mẹ La Vang; 25 lá cờ này tượng trưng cho 25 giáo phận của Hội thánh Công giáo tại Việt Nam hôm nay trong tinh thần đoàn tụ bên Mẹ La Vang. Sau đó là điệu vũ của 200 em nhỏ trên nền nhạc một ca khúc về Ðức Mẹ La Vang.
Ngày thứ nhất của ba ngày đại lễ kết thúc bằng Thánh lễ do Ðức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hoà, Giám mục Giáo phận Nha Trang, Phó Chủ tịch thứ 2 của HÐGMVN chủ tế, cùng đồng tế với rất đông Giám mục và khoảng 350 linh mục. Ðức Cha Nguyễn Văn Nhơn của Ðà Lạt đã thuyết giảng trong Thánh lễ này. Giáo dân đứng bốn phía Lễ đài, hiệp thông trang nghiêm, trong tình trạng điện đèn và âm thanh hoàn hảo!
Cuộc rước kiệu Thánh Thể do Ðức Cha Huỳnh Văn Nghi, Giám mục Phan Thiết, quỳ trên xe hoa hai tầng, cầm Hào Quang Mình Thánh Chúa, đi theo lộ trình từ Tháp Cổ ra đường nhựa, trước Nhà Trung tâm rồi tiến vào Công trường Mân Côi, lên Lễ đài. Trên Lễ đài, cuộc tôn kính Thánh Thể bắt đầu bằng việc chủ tế dâng hương, rồi phần chính Lễ đài được dành cho 48 em vũ Hoa Ðăng theo điệu múa cung đình xưa trước Mình Thánh Chúa. Số nến không đủ cung cấp. Cả một công trường sáng rực ánh đèn. Máy điện riêng của Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang 100 KVA chạy suốt ngày đêm, đủ cung cấp cho khu vực Vương Cung Thánh Ðường. Sau đó là bài suy niệm ngắn của Ðức Giám mục Ðà Lạt Nguyễn Văn Nhơn. Trước khi buổi chầu Thánh Thể kết thúc, có phép lành Mình Thánh Chúa như thường lệ.
Sang ngày thứ hai của Ðại Hội (14/8/1998), ngay từ sáng sớm, lúc 5 giờ hồi chuông Nhật Một đã đánh thức khách hành hương tham gia lần hạt chung tại Linh Ðài sau một đêm chập chờn giấc ngủ trong các lều trại, nơi các hành lang và ngay tại ngoài trời ngàn sao. Từ 6 giờ đã có Thánh Lễ do Ðức Cha Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám mục Sài Gòn chủ tế, với trên 10 giám mục, và hơn 200 linh mục đồng tế. Trong bài giảng, Ðức Cha Phạm Minh Mẫn nhắc lại những đàn áp dã man mà những người Công giáo nhiều thế hệ trước đã phải gánh chịu, rồi ngài nêu lên những thách đố người trẻ Côâng giáo ngày nay phải đương đầu trong cuộc sống và ngài nhắn nhủ phải bám vào Ðức Mẹ để có thể sống một cuộc sống thánh thiện. Vào lúc 8 giờ là buổi sám hối cộng đoàn dành cho người lớn tại Linh Ðài. Kết thúc buổi sám hối là vũ dâng hoa lên Mẹ trước khi sang phần lần hạt và đọc kinh Truyền Tin ban trưa.
Lúc 1 giờ 30, loa phóng thanh mời gọi các bạn trẻ tham dự giờ sám hối dành riêng cho giới trẻ. Trong cái nắng chói chang, chúng tôi tưởng chừng các bạn trẻ sẽ chỉ uể oải, lác đác đáp ứng, không ngờ cả chục ngàn người trẻ, nón, mũ, ô, dù, vui vẻ ra sắp hàng từ cổng Công Trường Mân Côi, hành hương tượng trưng về Lễ Ðài, vây quanh vị linh mục trẻ trung đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, để giúp các bạn trẻ suy niệm Lời Chúa. Nguyên cái cử chỉ ngồi giữa nắng Quảng Trị cũng đã là một hành động sám hối và chắc chắn được Chúa thương!
Sau buổi sám hối của bạn trẻ thì trời bỗng vần vũ, mây đen kéo kín bầu trời phía tây. Ban Tổ chức vẫn mời gọi tập họp ở Công Trường Mân Côi, để đón Ðức Hồng Y Phạm Ðình Tụng, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội kiêm Chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, đến với tư cách là Ðặc sứ của Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II. Vào lúc 3 giờ 30 chiều, trời quang dần và đến 4 giờ, vị Ðặc sứ của Ðức Thánh Cha, đã đến trong cái nắng dịu hiếm hoi, được các vị Giám mục, và cộng đoàn dân Chúa tiếp đón trọng thể. Ðức Hồng Y quì xuống hôn đất thánh, và tiến bước giữa hai hàng lọng uy nghi, trong tiếng nhạc và kèn trống tưng bừng. Khi vị Ðặc sứ đã an vị trên Lễ Ðài, Linh mục Tổng Ðại diện Tổng Giáo phận Huế đọc văn thư của Ðức Thánh Cha ủy nhiệm Ðức Hồng Y làm Ðặc sứ của ngài tại Ðại Hội Ðức Mẹ La Vang 1998. Sau lời chào mừng của Ðức Tổng Giám mục Huế, Ðức Hồng Y nhận huy hiệu Ðại Lễ 200 năm Ðức Mẹ La Vang. Trong bài huấn từ, Ðức Hồng Y nói: "Ðây là một vinh dự đặc biệt Ðức Giáo Hoàng đã ban cho tôi, nhưng tôi nghĩ vinh dự này không phải chỉ vì tôi, mà vì sự kính trọng của ngài đối với dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà ngài nói thật dễ mến yêu". Sau bài huấn từ, Ðức Hồng Y Phạm Ðình Tụng đã tiến về Linh Ðài, dâng hương lên Mẹ La Vang. Trong dịp này, Ðức Tổng Giám mục Têphanô Nguyễn Như Thể cũng đã giới thiệu Pho Tượng Ðức Mẹ theo mẫu Việt Nam cao 2 mét, đã được Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam chính thức để thay thế cho tượng cũ, và một chén thánh đặc biệt do Ðức Thánh Cha từ Rôma gửi tặng Ðại Hội để dâng Thánh Lễ kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ La Vang hiện ra.
Thánh lễ chiều 14.8.1998 được bắt đầu vào lúc 6 giờ thay vì 5 giờ theo tờ chương trình, do Ðức Tổng Giám mục Huế Nguyễn Như Thể chủ tế, cùng với 14 vị Giám mục và khoảng 350 linh mục đồng tế. Trước lúc bắt đầu Thánh Lễ là nghi thức trao dây Pallium cho Ðức Tổng Giám mục Huế do Ðức Hồng Y đặc sứ, đại diện Ðức Thánh Cha cử hành. Dây Pallium thường được trao cho các Tổng Giám mục mới bổ nhiệm, như là dấu hiệu của quyền mà Tổng Giám mục có trong Giáo tỉnh, trong sự hiệp thông với Ðức Thánh Cha. Dịp lễ Hai Thánh Phêrô và Phaolô năm nay (29.6), Ðức Tổng Giám mục Phạm Minh Mẫn của Thành phố Hồ Chí Minh đã đi Roma để nhận dây Pallium từ tay Ðức Thánh Cha. Vì Ðức Tổng Giám mục Huế phải ở nhà chuẩn bị cho Ðại Lễ Ðức Mẹ La Vang, cho nên Ðức Thánh Cha đã gửi dây Pallium cho Ðức Tổng Giám mục Phạm Minh Mẫn đem về để hôm nay Ðức Hồng Y Ðặc sứ đại diện Ðức Thánh Cha trao lại cho Ðức Tổng Giám mục Huế. Sau khi đã nhận lãnh dây Pallium, Ðức Tổng Giám mục Huế Nguyễn Như Thể đã long trọng đọc lời tuyên thệ, và Thánh lễ bắt đầu.
Ðêm 14.8.98, đêm canh thức và hoạt cảnh còn gọi là diễn nguyện do gần trăm em đệ tử dòng Thánh Phaolô phụ trách gồm 3 màn: Dâng hoa, diễn lại sự tích Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang và suy ngắm 5 Sự Mừng.
Ngày thứ ba, đỉnh cao của Ðại Hội La Vang 1998. Ðêm qua, chắc có người đã không chợp mắt, kinh hát rộn ràng suốt đêm, nhất là ở nhà thờ cổ, nơi đặt Mình Thánh Chúa liên tục trong suốt thời gian Ðại Hội. Các cá nhân, các đoàn thể nối tiếp nhau chầu đền tạ Trái Tim Chúa. Mới 5 giờ sáng, chuông đã đổ hồi, loa phóng thanh mời gọi khách hành hương tham gia cuộc kiệu Ðức Mẹ La Vang. Cuộc kiệu sẽ được bắt đầu vào lúc 5 giờ 30 để tránh cái nắng gay gắt và sẽ kết thúc vào lúc 7 giờ. Tuy nhiên, Thánh Lễ bế mạc sẽ chỉ bắt đầu vào lúc 9 giờ sáng, thời gian đủ để cho giáo dân các tỉnh lân cận đổ về, để tiếp đón phái đoàn chính quyền 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, cùng phái đoàn các tôn giáo bạn.
Cuộc rước kiệu đặt dưới quyền chủ sự của Ðức Hồng Y Ðặc sứ, với sự tham dự của 14 vị Giám mục, 350 linh mục và 200.000 giáo dân, đi theo bàn kiệu sơn son thếp vàng, chạm trổ công phu, do giáo dân Phát Diệm ngoài Bắc dâng cúng. Cuộc rước đã tiến hành trong trang nghiêm, sốt sắng, trật tự đến độ hoàn hảo và kết thúc bằng bài thánh vũ của ba giòng sông, tượng trưng cho ba miền con dân đất Việt trên nền nhạc bài "Như Sóng Lộc Triều Nguyên".
Thánh Lễ đã bắt đầu đúng như dự tính, giữa lúc nắng đã lên cao, đòi hỏi giáo dân tham dự phải hy sinh cao độ để hiệp thông dâng lễ. Bài đọc hai, trích Thư Thứ Nhất của Thánh Phaolô gửi Giáo đoàn Côrintôâ, đã được đọc bằng tiếng dân tộc Tây Nguyên. Ðoàn Tây Nguyên của Giáo phận Kontum đã gây nhiều chú ý trong những ngày này tại Ðại Hội với tiếng cồng mê hồn, những điệu vũ, những bài ca cầu nguyện độc đáo, còn phải kể cả trang phục lạ mắt đối với bà con đồng bằng. Ðể được về góp mặt, góp tiếng ca tụng Mẹ với toàn Hội thánh ở Việt Nam, anh chị em dân tộc Tây Nguyên đã làm kế hoạch nhỏ từ nhiều tháng trước: thu gom phân bò khô, bán cho các nhà vườn người kinh để bón cà phê, bón chè, mỗi bao được khoảng 5000 đồng Việt Nam (khoảng 35 xu Mỹ). Nếu chẳng may không đủ tiền chi phí cho cuộc hành hương, họ phải bán "phân non" như nhà nông bán lúa non, nghĩa là nhận tiền ứng trước của nhà vườn với giá bắt chẹt, chỉ còn 2000 đồng một bao (15 xu Mỹ)!
Khi chúng tôi ngồi viết những dòng tường thuật này, thì ngoài Lễ Ðài, Thánh Lễ bế mạc Ðại Hội lần thứ 25, kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang đang trên đường kết thúc. Khi nghĩ về thành quả của Ðại Hội lịch sử này, chúng tôi đã cố gắng giữ mọi xúc động, giữa tiếng đàn tranh dìu dặt từ Lễ Ðài vọng lại.
Chắc chắn không tránh khỏi những sai sót khi tổ chức một cuộc hành hương cho khoảng 200.000 giáo dân với hàng giáo phẩm cao cấp, đông đảo như tại La Vang lần này, giữa mùa nóng nực, hạn hán, dịch bệnh đe doạ, của một miền vốn được coi là khó khăên vào bậc nhất của đất nước . . .
Vâng, phải chi có được một chủ đề thống nhất giữa các bài giảng, các bài suy niệm, để giáo dân dễ bề theo dõi mà hiệp thông, thay vì chiều theo tản mạn ngẫu hứng.
Phải chi được hát chung trong cộng đoàn nhiều hơn, cho dù ca khúc cổ xưa và mang tính bình dân, chất nghệ thuật thấp, thay vì độc diễn của các ca đoàn với những giọng ca vàng thật đấy.
Phải chi trong các giờ nghỉ hiếm hoi giữa các nghi thức phụng vụ, các vị chủ chăn rời phòng riêng xuống thăm hỏi đoàn chiên, chan hoà trong câu chuyện cha con thì vui biết mấy. Cứ nhìn bà con xô đẩy nhau, chen lấn nhau để được vinh dự hôn nhẫn Ðức Hồng Y Ðặc sứ Phạm Ðình Tụng lúc ngài xuống xe đột ngột trước khi vào phòng Trung tâm vào buổi sáng ngày 14, hoặc quấn quít quanh Ðức Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh trên đường ngài ra Lễ Ðài dâng lễ, thì đủ biết giáo dân Việt Nam dễ thương đến chừng nào! Chúng tôi được biết Ðức Giám mục Thanh Hoá Nguyễn Sơn Lâm đã yêu cầu các linh mục quản xứ thuộc Giáo phận của ngài đi theo đoàn hành hương của giáo xứ mình. Chúng tôi đã thấy Ðức Cha Ðà Lạt vi hành tới thăm hỏi đoàn hành hương của Giáo phận Ðà Lạt. Chúng tôi thấy bóng dáng Ðức Tổng Giám mục Huế cùng khắp ở La Vang, động viên các ban công tác chuyên môn phục vụ Ðại Hội.
Ngoài Lễ Ðài giờ này (11 giờ ngày 15.8.1998), Thánh Lễ đã chấm dứt, Ðức Cha Nguyễn Sơn Lâm, Giám mục Giáo phận Thanh Hoá, đang thay mặt cộng đoàn hành hương phát biểu cảm tưởng. Ngài khẳng định: Ðại Hội đã thành công rực rỡ. Bài phát biểu của Ðức Cha, dù là ứng khẩu, nhưng rất chính xác và chân tình, nói lên ý nghĩ của nhiều người, được coi như là món quà của Ðại Hội mà khách hành hương có thể đem về quê quán mình. Thành công vì tinh thần của các giáo hữu hành hương: Vì đức tin, chấp nhận mọi gian khổ trong hiền hoà và chịu đựng để sám hối. Thành công nhờ nỗ lực chu đáo của Tổng Giáo phận Huế. Ở đây, mọi người, mọi lúc, mọi hình thức, đều là để cầu nguyện. Vũ cũng là thánh vũ. Chơi trống trước ngai Mẹ để làm đẹp lòng Mẹ. Có diễn là để cầu nguyện. Có nguyện mới diễn. Diễn để mời nguyện.
Ai ơi, hãy về La Vang mà xem!
Vũ Sinh Hiên
Back to Top
Home |
Nguyet San |
Bao Moi |
Bao Cu |
Mua Bao
Copyright © 1998.Dong Chua Cuu The. All rights reserved.
Email: ducme@cuuthe.com
|