TRONG DÒNG ÐỜI

Lm. Phạm Quốc Hưng, CSsR.

DẠI KHỜ

Tối thứ hai ngày 17/08/1998, trước sự theo dõi của hơn 60 triệu khán thính giả của các hệ thống truyền hình, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã nhìn nhận rằng ông đã có liên hệ "không xứng hợp" ("not appropriate") với cô Monica Lewinsky, một điều mà ông đã công khai bác bỏ hồi tháng 01/1998. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ một tổng thống phải thú nhận đã có liên hệ tình dục lăng nhăng trước một cử toạ đông đảo như thế.

Nhật báo Los Angeles Times ngày 18/08/1998 khi loan tin trên đã cho in hai tấm hình chụp Tổng thống Clinton. Một hình cho thấy ông đầy vẻ tự tín và quả quyết khi bác bỏ việc ông có liên hệ lăng nhăng với cô Monica hồi tháng 01/1998. Hình khác chụp ông trước lúc đọc diễn văn nhìn nhận liên hệ trên, trong tư thế đang ngồi để hai tay trên đầu gối với dáng vẻ của một người nhận lỗi trông thật tội nghiệp.

Có lẽ mọi người kể cả chính Tổng thống Clinton phải công nhận rằng ông đã thật dại khờ khi có liên hệ sai trái với một cô gái lẳng lơ và lắm chuyện như Monica, một việc không những làm thiệt hại đến danh dự và sự nghiệp chính trị của ông mà còn làm tổn thương lòng tin nơi những người ái mộ ông.

Sự việc này khiến tôi nhớ đến mấy câu đầu trong bài thơ mang tựa đề "Dại Khờ" của thi sĩ Xuân Diệu:

Người ta khổ vì thương không phải cách,
Yêu sai duyên, và mến chẳng nhằm người.
Có kho vàng nhưng tặng chẳng tùy nơi,
Người ta khổ vì xin không phải chỗ.
Ðường êm quá, ai đi mà nhớ ngó
Ðến khi hay, gai nhọn đã vào xương.
Vì thả lòng không kiềm chế dây cương,
Người ta khổ vì lui không được nữa...

Những câu thơ trên của Xuân Diệu thật là chí lý. Phải rồi, cũng chỉ "vì thương không phải cách", vì "yêu sai duyên", vì "mến chẳng nhằm người", vì "có kho vàng nhưng tặng chẳng tùy nơi", "vì xin không phải chỗ", và "vì thả lòng không kiềm chế dây cương", bao người đã dại khờ tự chuốc khổ vào mình rồi than thân trách phận. Ðau đớn nhất, đáng sợ nhất vẫn là việc người ta sẽ phải chịu phạt đời đời trong hỏa ngục "vì lui không được nữa" khi xuôi tay nhắm mắt trong tội trọng.

Ngay ở cuộc sống hiện tại, bao cô gái phải hối hận cả đời chỉ vì đã dại khờ nghe lời dụ dỗ của những chàng trai vô trách nhiệm để đánh mất trinh tiết của mình. Ðó là chưa kể những cô phải hy sinh nuôi con một mình để trả giá cho một lần lầm lỡ trao thân cho những chàng sở khanh, hay những phụ nữ cả đời phải ân hận vì vừa dại khờ đánh mất trinh tiết mà lại còn mất cả lòng nhân khi giết chính thai nhi trong bụng mình.

Nhiều bố mẹ mang danh là người Công giáo mà lại nhẫn tâm ép buộc những người con gái lỡ lầm của mình phá thai để gìn giữ "danh giá gia đình". Họ đã dại khờ khi sợ dư luận chóng qua của thế gian hơn án phạt muôn đời của Thiên Chúa.

Cờ bạc đã làm bao người tan gia bại sản chỉ vì người ta dại khờ chối bỏ quy luật "tay làm hàm nhai" và lẩn tránh án lệnh muôn thuở của Thiên Chúa: "Mồ hôi đẫm mặt, ngươi mới có bánh ăn cho đến khi ngươi về lại bụi đất vì tự đất ngươi đã được rút ra" (Gen. 3:19).

Người ta càng dại khờ khi mong muốn một xã hội lành mạnh trong khi lại dung túng việc sản xuất và phổ biến các sách báo và phim ảnh khiêu dâm bạo động.

Tổng thống Clinton trông thật thảm hại khi phải thú nhận trước công chúng mối liên hệ "không xứng hợp" của ông với cô Lewinski. Người ta có thể gọi ông là "tổng thống dại khờ". Nhưng là người, ai chẳng có những lúc dại khờ! "Ai nên khôn mà chẳng dại một lần". Tôi còn nhớ trong nhạc phẩm mang tựa đề "Vì Tôi Là Linh Mục" có câu "vì tôi là linh mục...một linh mục rất dại khờ" mà thấy chột dạ và cảm thương Tổng thống Clinton. Nếu không biết cậy dựa vào Ơn Chúa và không biết cẩn trọng giữ mình, tôi cũng sẽ sa ngã phạm tội nặng nề như bất cứ ai.

Người ta dễ cảm thông tha thứ đối với những người lỡ phạm tội vì yếu đuối dại khờ nhưng biết khiêm nhường nhìn nhận lỗi lầm của họ và nỗ lực sửa đổi. Nhưng thật khó chấp nhận khi người ta cố chấp trong tội và tìm mọi lẽ bào chữa cho hành vi sai trái của mình. Liên hệ "không xứng hợp" của Tổng thống Clinton với cô Lewinski đâu có ghê tởm bằng việc ông đã phủ quyết đạo luật cấm phá thai bán phần, một việc dẫn đến cái chết của bao thai nhi sắp chào đời vô tội. Thế nhưng vẫn có những kẻ đủ điên rồ khi ủng hộ việc phủ quyết đạo luật trên của ông và cổ võ sự tự do phá thai.

Trước sự tố cáo và những bằng chứng của Công tố viên độc lập Kenneth Starr, Tổng thống Clinton đã phải thú nhận trước công chúng mối liên hệ "không xứng hợp" của ông với cô Lewinski. Ðến giờ chết, khi ra trước mặt Thiên Chúa--Quan Án Chí Công của mọi người và cũng là Ðấng thấu suốt mọi việc--mỗi người sẽ phải trả lời về mọi hành vi suốt đời sống của mình và Thiên Chúa "sẽ trả cho mỗi người tùy theo việc họ làm".

Tổng thống Clinton đã dại khờ vì khi trước ông đã không nghĩ đến việc ông sẽ phải trả lời trước công chúng vì liên hệ "không xứng hợp" trong đời sống riêng tư của ông. Tôi còn dại khờ hơn tổng thống Clinton bội phần nếu trong mỗi hành động của mình tôi không nghĩ đến việc sẽ phải ra trước mặt Thiên Chúa trong ngày chết và phải trả lẽ với Người về mọi hành vi ngôn ngữ của mình, kể cả những việc riêng tư thầm kín nhất. Tiếng cười lời chê của người đời rồi sẽ qua đi với tháng năm, nhưng án lệnh của Thiên Chúa sẽ muôn đời tồn tại.

Thật dại khờ khi người ta quá chú tâm đến sự xét đoán và dư luận của loài người mà quên lãng hay coi thường sự phán xét của Thiên Chúa là Tài Phán Chí Công.

Thánh Kinh nhiều lần nói đến những kẻ ngu si dại khờ để răn dạy con người đừng bắt chước họï mà tự chuốc lấy khổ lụy đời này và hình phạt muôn kiếp đời sau.

Thánh vịnh gia xem việc chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa trong cuộc đời là căn gốc cho mọi thứ dại khờ, ngu si và tội lỗi trên đời khi viết:

Ðứa ngu dại tự nhủ đáy lòng:
"không có Thiên Chúa"
chúng ra đồi bại, bỉ ổi, vô luân,
hành thiện không còn có ai!
(Tv. 53:2).

Sự dại khờ, ngu si và tội lỗi, theo tác giả Thánh vịnh, còn là kết quả của quan niệm sai lầm về Thiên Chúa khi người ta cho rằng Chúa không lưu tâm để ý đến các sinh hoạt của con người hay Người dung túng bỏ qua các tội ác của họ. Thánh vịnh gia viết:

Hồn toại nguyện, kẻ dữ dám ngợi khen,
Lợi trái đầy tay, nó dám chúc tụng mà khinh nhạo Yavê.
Kẻ dữ hểnh mũi tự hào, Người không tra hỏi:

"Không có Thiên Chúa", đó là tất cả suy tư của nó.

Nó tự nhủ trong lòng: "Chúa Trời lãng quên,

Người đã ngoảnh mặt đi đời đời chẳng thấy!" (Tv. 10: 3-4, 11).

Và Thánh vịnh gia đã khuyên bảo những kẻ dại khờ như sau:
Hãy chú ý đây, hỡi loài cục súc trong dân!
Ðồ ngu đần, bao giờ các ngươi mới hiểu?
Ðấng gắn lỗ tai, sao lại không nghe?
Ðấng nắn con mắt, sao lại không thấy?
Ðấng sửa dạy muôn dân, sao lại không trị tội?
chính Người dạy cho loài người hiểu biết!
Yavê từng biết mưu cơ người phàm;
đó chỉ là chút hơi thở phào (Tv. 94: 6-11).

Khi giảng dạy cho dân chúng, Chúa Giêsu cũng nói đến những kẻ dại khờ. Ðó là những kẻ xây nhà trên cát, những kẻ không đặt Thiên Chúa làm nền tảng cho đời mình (Mt. 7:24-27). Ðó là những cô phù dâu không mang thêm dầu dự trữ khi cầm đèn đi đón chàng rể, những kẻ không sắm sẵn dầu thơm của đức ái, của ơn thánh và những việc phúc thiện để gặp gỡ Thiên Chúa trong ngày ra đi vào cõi đời đời (Mt. 25:1-13). Ðó là những kẻ chỉ lo thu tích của cải chóng qua mà không lo trau giồi nhân đức để làm giàu trước mặt Chúa, những người sống như thể sẽ chẳng bao giờ phải chết (Lc. 12:16-21).

Cũng vậy, tác giả sách Gương Chúa Giêsu coi việc không đặt trót tin yêu cậy trông vào Chúa Giêsu mà chỉ cậy dựa vào chính mình hay bất cứ tạo vật nào khác và việc không nghĩ đến cái chết và sự sống đời đời như bản chất của mọi sự dại khờ. Tác giả viết:

"Nếu bạn đặt trót tin tưởng và vui mừng vào ai khác, đó là bạn đã làm một việc khờ dại hết chỗ nói" (Q.II, Ch.# 8).

Và tác giả ân cần khuyên giải:

Ðiên dại, cứng cỏi thay lòng người! chỉ biết nghĩ đến hiện tại mà không biết dự phòng tương lai!

Trong mọi hành động, mọi ý nghĩ, bạn hãy xử như thể bạn sẽ chết hôm nay.

Nếu lương tâm bạn trong trắng, bạn sẽ không sợ chết mấy.

Thà tránh tội còn hơn trốn cái chết" (Q. I, Ch. #23).

Ðể khỏi trở thành những kẻ dại khờ tự chuốc lấy khổ nhục cho mình và làm tổn thương đến người khác, tôi phải hàng ngày tha thiết nài xin Chúa ban cho tôi ơn khôn ngoan bởi trời. Tôi sung sướng ghi nhận nơi đây những lời khuyên nhủ quý giá của Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II trong tác phẩm Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng. Những lời này sẽ giúp tôi hiểu biết sâu xa hơn về giá trị thiết thực của ơn kính sợ Chúa, một hồng ân vô cùng cần thiết trong việc giúp tôi thoát khỏi sự dại khờ vì phạm tội và sống xứng đáng với phẩm giá con người và một người con Chúa trong thế giới hôm nay:

Thánh Vịnh chép: "Kính sợ Thiên Chúa là đầu mối sự khôn ngoan" (Tv. 111:10)...
...chúng ta cần cầu xin cho mọi người khắp nơi biết kính sợ Chúa, đặc biệt trong thời đại chúng ta.

Thánh kinh dạy chúng ta rằng lòng kính sợ Thiên Chúa, khởi nguồn của sự khôn ngoan, không giống như sự sợ hãi của kẻ tôi đòi, nhưng là lòng kính sợ của người con thảo. Tương quan chủ tớ của Hegel hoàn toàn xa lạ đối với Phúc âm. Ðó là một tương quan trong một thế giới không có Thiên Chúa. Trái lại, trong một thế giới mà ở đó Thiên Chúa ngự trị và Thần Trí Khôn Ngoan tác động, thì chỉ có lòng kính yêu và vâng phục của con cái mà thôi.

Chính Ðức Kitô đã dạy cho chúng ta bày tỏ lòng kính sợ này một cách chân thực và phong phú nhất. Ngài muốn cho chúng ta biết cảm thấy sợ hãi khi làm điều xúc phạm đến Thiên Chúa. Ngài muốn điều ấy vì Ngài đến trong thế gian để giải thoát con người. Chính tình yêu giải thoát con người, bởi vì tình yêu là nguồn ân huệ cho tất cả những gì thiện hảo. Một tình yêu như thế, nói theo ngôn ngữ của thánh Gioan, "xua tan mọi sợ hãi". Tất cả mọi biểu hiện của sự sợ hãi như kẻ tôi đòi trước uy quyền nghiêm khắc của Ðấng Toàn Năng đã biến mất, để nhường chỗ cho một lòng âu lo của người con thảo, mong sao cho ý định Thiên Chúa được thực hiện trên trần gian. Ý định ấy là điều thiện hảo, phát xuất từ Thiên Chúa, để rồi hoàn tất trong viên mãn cũng chính trong Thiên Chúa.

Như thế, các thánh nhân của mọi thời đại là hiện thân cho tình hiếu tử của Ðức Kitô. Ngài là nguồn mạch tình yêu hướng về mọi thụ tạo, như nơi thánh Phanxicô chẳng hạn, và cũng là tình yêu hướng về sức mạnh cứu rỗi của Thánh giá, là quyền năng phục hồi sự cân bằng giữa thiện và ác cho thế giới (Bản dịch của Nguyễn Thanh Lượng và Trần Văn Trí).

Lạy Chúa, xin dạy con biết sự ngắn ngủi của cuộc đời để con học biết đức khôn ngoan tự đáy lòng (Tv. 90:12).

(Sept. 04-05, 1998)


TRỞ VỀ VỚI "TIN MỪNG SỰ SỐNG"

Có thể nói ông Daniel Vinzant 42 tuổi là một tín hữu phái Baptist mẫu mực. Cha ông là một phó tế trong giáo hội, và mẹ ông là một tín đồ nhiệt thành. Ông được chịu phép rửa lúc năm tuổi. Khi lên chín ông đã hai lần đọc xong toàn pho Thánh kinh bản King James và bắt đầu phát triển một phương án cứ hai tháng là đọc xong tòan bộ Thánh kinh một lần để bồi dưỡng tâm linh.

Ông đã được phép giảng Lời Chúa khi mới 17 tuổi và theo học tại một trường đại học của giáo phái phúc âm (evangelical). Sau đó, ông kết hôn với con gái của một nhà thuyết giảng phái Baptist và làm mục sư cho một cộng đoàn tín hữu ở nơi ông sinh trưởng từ 12 năm nay.

Và nay, ông sắp trở thành tín hữu Công giáo.

Ông Vinzant cùng gia đình gồm vợ ông là bà Jan và các con ông là Sarah Ruth, Andrew và Lewis sẽ được Rước Lễ Lần Ðầu và chịu phép Thêm Sức tại Nhà thờ Thánh Giuse ở Waco, Texas. Ðây là một thành phố có đến 235 cộng đoàn phái Baptist và chỉ có 5 nhà thờ Công giáo.

Ngày 26/07/1998, ông đã thông báo quyết định trở thành tín hữu Công giáo của ông cho đàn chiên do ông chăn dắt gồm 30 gia đình của nhà thờ (Baptist) Chúa Ba Ngôi. Chính nơi đây bà Norma McCorvey (a.k.a. Jane Roe--người đã góp phần hình thành luật cho phép phá thai năm 1973) lần đầu tiên lên tiếng công khai là Kitô hữu ba năm trước và cũng nơi đây đầu mùa hè 1998 này bà tuyên bố quyết định trở thành tín đồ Công giáo, sau khi bà hối hận vì đã có lập trường ủng hộ tự do phá thai và trở thành người bênh vực quyền sống.

Tại sao vị mục sư khiêm tốn của ngôi nhà thờ nhỏ bé này đã quyết định trở lại cùng Giáo hội Công giáo?

Cùng với những việc làm có tính chất Công giáo như âm thầm lần chuỗi Mân côi, tham dự Thánh lễ từ năm 1980, ngay cả việc "lén đi xưng tội", ông Vinzant cuối cùng đã tóm gọn quyết định trở lại Công giáo của ông trong 4 chữ: "Tin Mừng Sự Sống".

Ông được ủy thác sứ vụ giảng Lời Chúa đúng hai ngày trước khi Tối Cao Pháp Viện quyết định cho phép phá thai năm 1973. Ông nói: "Trong nhiều năm tôi đã nghĩ rằng tôi đã làm xong phần việc của mình với một bài giảng trang trọng vào ngày 22/01 hàng năm. Tôi đã rơi vào thái độ coi việc phá thai không hẳn là vấn đề của mình".

Rồi vào một đêm năm 1992, ông Vinzant đột nhiên nhận thức ra não trạng ngừa thai chống lại con cái của chính mình. Mười năm trước đó bà Jan vợ ông bị xảy thai, và khi ấy ông đã thở phào nhẹ nhõm vì đỡ phải gánh thêm một miệng ăn dựa vào đồng lương mục sư của ông.

Ông nhớ lại phản ứng của ông trong đêm ấy và nói: "Tôi thức dậy lạnh toát mồ hôi". Dù hai ông bà không bao giờ tích cực ngăn chặn việc thụ thai cách thể lý, nhưng ông Vinzant đã biết rằng về tinh thần ông đã không luôn luôn hoan nghênh con cái.

Từ giây phút ấy, ông nói: "Tôi đã bỗng chốc trở thành người bênh vực sự sống".

Ông còn thêm: "Ðó là một sự hoán cải lạ lùng, một việc đã dẫn chúng tôi xuống đường tranh đấu chống lại tổ chức Planned Parenthood (tổ chức cổ võ việc tự do phá thai). Và chính trên đường phố mà chúng tôi đã phải đương đầu với thần học Công giáo, một nền thần học khiến chúng tôi yêu mến Hội thánh (Công giáo) sâu đậm hơn".

Vốn đã mê say đọc truyện các thánh từ lúc nhỏ và sau đó đọc thêm các tác phẩm của các thánh Giáo phụ, nay ông Vinzant bắt đầu chú ý đọc các tác phẩm bênh vực sự sống. Cùng lúc ấy tổ chức Planned Parenthood ở Waco bắt đầu mở thêm một trạm phá thai nữa, bất chấp những đêm đốt nến canh thức và cuộc vận động dư luận phản đối của ông và nhiều người khác. Trạm phá thai mở cửa vào tháng 01/1994.

Tháng 05/1994 Liên Minh Bảo Vệ Sự Sống mới lập (ở Waco) mời tổ chức Operation Rescue đến. Nhà thờ của ông Vinzant đứng ra điều hành sự việc này và mời những tín hữu Công giáo ở địa phương đến giúp phần âm nhạc.

Qua biến cố này ông ghi nhận: "Một điều tôi đã biết thực rõ là Giáo hội Công giáo chống phá thai vì các thánh giáo phụ cũng nói đến phá thai và ngừa thai. Vì thế, tôi thấy việc đó là thông minh hợp lý. Với việc Operation Rescue National đến đây, tôi đã phát triển những tình bạn Công giáo đích thực lần đầu tiên. Tất cả những kinh nghiệm về Công giáo của tôi trước kia là không rõ ràng. Tôi đã thấy mình cùng các bạn Công giáo cầu nguyện với những lời kinh tôi thuộc từ thuở nhỏ, và đó là một điều tự nhiên hơn cả và tuyệt diệu".

Năm 1996, ông Vinzant và thừa sai Công giáo Rene Nevarez sáng tạo "Dự Án Waco" để liên kết các Kitô hữu lại với nhau trong cùng chí hướng phục hồi sự thánh thiêng của sự sống con người. Những buổi cầu nguyện trong dự án bao gồm việc giảng Phúc âm và cầu nguyện 15 chục kinh Mân côi.

Ông Vinzant nói:"Tôi đã cảm thấy rất thoải mái với việc đọc kinh Mân côi. Nó trở thành một thực tại với tôi như một loại cầu nguyện mãnh liệt nhất cho việc bênh vực sự sống. Và tôi đã thất vọng khi thấy những tín hữu giáo phái Phúc âm không phá vỡ được cái mà tôi gọi là "hàng-rào-12-phút". Nghĩa là chúng tôi sẽ họp nhau lại và cầu nguyện 12 phút, rồi ngưng và kể chuyện và nói tếu".

Trong số một ít tín hữu giáo phái Phúc âm (evangelical) phàn nàn về việc ông càng ngày càng giống người Công giáo lại chính là bà Jan, vợ ông. Bà nói: "Tôi đã hết sức chống lại việc sùng kính Ðức Maria. Tôi không muốn xúc phạm đến Chúa Giêsu bằng việc yêu mến bất cứ ai như tôi yêu mến Người".

Mặc dù ông Vinzant muốn gia nhập Công giáo cách trọn vẹn và dù đã chứng kiến nhiều thành viên của nhà thờ Chúa Ba Ngôi đã gia nhập Giáo hội Công giáo trước ông, ông đã quyết định đi theo gương của G.K. Chesterton, người đã chờ đợi vợ mình trước khi trở thành Công giáo. Và rồi cuộc vận động bênh vực sự sống của ông Vinzant đã trở thành cuộc vận động để chinh phục gia đình ông.

Ông đã cho con gái ông theo học tại St. Thomas More College ở New Hampshire. Sau mùa học thứ hai, cô đã quyết định trở lại Công giáo. Ông cũng bắt đầu mời các bạn linh mục đến nhà và đem gia đình đi dự các buổi cầu nguyện Thánh linh Công giáo. Biết vợ ông thích nhạc, ông đã tặng bà các bản thánh ca Công giáo.

Bà Jan thuật lại một cuối tuần trong buổi tĩnh tâm dành cho phụ nữ bà đã cầu nguyện cho ông thoát khỏi sự gắn bó ngày càng gia tăng với học thuyết Công giáo. Nhưng khi về nhà bà lại thấy âm thanh của những bản thánh ca cổ điển đang phát ra từ hệ thống CD của máy điện toán nơi văn phòng, bản Ave Maria đang vang lên từ dàn máy stereo ở phòng khách, và trong phòng ngủ là một băng hát thánh vịnh của các đan tu.

Bà nói: "Tóc sau gáy tôi dựng đứng và tôi giận hết sức. Tôi ngồi xuống và khóc vì bực mình".

Rồi một ngày nọ, vì muốn tìm một nơi yên tĩnh để cầu nguyện bà Jan đã tìm đến nhà thờ Thánh Giuse của Công giáo. Nhưng người ta lại sắp có thánh lễ vọng Chúa Nhật Lễ Lá. Bà liền ngồi lại dự thánh lễ. Sau lễ, cha xứ là bạn của chồng bà đã mời bà ở lại dự cơm chiều. Bà và cha xứ đã nói chuyện với nhau suốt sáu giờ liền.

Bà kể: "Tôi đã nói:’Cha có thể giải thích cho con về Ðức Maria được không?’Ngài đã nói, và tôi đã hiểu. Không có gì là thất vọng cả. Tôi giống như một miếng mút khô cả ngàn năm và bây giờ bỗng được ngấm đầy nước".

Chỉ trong tám tiếng đồng hồ, bà Jan đã quyết định trở thành tín hữu Công giáo.

Hiện nay, vì trở lại Công giáo ông bà đã trở thành thất nghiệp nên phải bán nhà và không biết chắc việc gì sẽ xảy đến tiếøp theo. Ông Vinzant lúc thì lo lắng, lúc lại hớn hở về việc sắp được gia nhập Hội thánh mà ông đã mến yêu cả nửa cuộc đời. Ông nói: "Với tôi tiến trình làm người Công giáo cách ẩn danh suốt 18 năm nay đã cho tôi cơ hội xem xét mọi điều tôi tin, mọi điều tôi được dạy, một niềm tin từ mọi góc cạnh có thể hiểu được. Mặc dù tôi vui mừng trong sự biểu lộ niềm tin Kitô của tất cả anh chị em chúng tôi...niềm tin đối với tôi chỉ đặc biệt kiện toàn khi là một tín hữu Công giáo thực hành đức tin của tôi cách công khai" (Theo Tuần báo National Catholic Register Aug.2-8, 1998).

* * *

Câu truyện trở lại Công giáo trên đây của gia đình ông bà Daniel và Jan Vinzant có thể được xem là một câu truyện điển hình của những cuộc trở lại Công giáo của các Kitô hữu ngoài Công giáo trong những năm gần đây.

Một khi người ta muốn vươn lên sống trọn vẹn các đòi hỏi của Tin Mừng Sự Sống, tha thiết kiếm tìm sự thật và sự thiện một cách không thiên kiến, và hiểu rõ ý nghĩa đích thực của việc biệt kính Mẹ Maria trong đời sống các tín hữu Công giáo, người ta sẽ vui mừng đón nhận niềm tin Công giáo bằng mọi giá.

Trong khi ông Vinzant và gia đình ông đã phải nỗ lực thật nhiều để học hỏi về niềm tin Công giáo và đã phải chấp nhận những hy sinh lớn lao để được trở thành tín hữu Công giáo, nhiều người mang danh là Công giáo lại lãnh đạm thờ ơ vì lười biếng không chịu ra công học hỏi để thêm sự hiểu biết, mến yêu, và thực hành niềm tin chân thực và quý giá của mình. Ðáng buồn hơn nữa là có những kẻ mang danh Công giáo nhưng lại hành động phản lại Tin Mừng Sự Sống của Chúa Kitô qua việc thực hiện các tội ác chống lại sự sống và phẩm giá con người.

Ước gì sự trở lại Công giáo của gia đình ông Vinzant sẽ là dấu hiệu báo trước những cuộc trở lại Công giáo đông đảo trong tương lai của những con người đang thực tâm kiếm tìm chân thiện mỹ và góp phần làm canh tân niềm tin nơi những người Công giáo nguội lạnh.

(Sept. 6-7, 1998)


"CON NHÀ TÔNG..." /p>

Khi còn sống ở nhà với cha mẹ, mỗi khi nhìn tấm hình của tôi chụp hồi lên hai hay ba tuổi mẹ tôi thường nói đùa với tôi: "Xem ông thánh Anphongsô kìa!" Lý do là trong tấm hình đó có lẽ vì sợ hãi lúc chụp hình nên tôi rụt cổ lại nhìn giống như hình vẽ thánh Anphong Ligôri khi ngài về già nên đầu phải gục xuống ngực.

Không ngờ ngày hôm nay tôi đã được diễm phúc trở thành một người con thiêng liêng của Cha Thánh Anphong trong Dòng Chúa Cứu Thế và chọn ngài làm gương mẫu của đời mình và nhờ ngài dạy tôi nên thánh.

Chắc chắn tôi sẽ chẳng bao giờ theo kịp sự thánh thiện tuyệt vời và tài năng phi thường của Cha Thánh Anphong, một bậc đại thánh trong lịch sử Hội thánh. Nhưng dân gian có câu: "Con nhà tông không giống lông thì giống cánh". Tôi sung sướng cảm tạ Chúa khi nhận ra Chúa đã ban cho tôi một chút gì đó giống Thánh Tổ phụ Anphong.

Sau khi viết một số bài báo về ảnh hưởng của Ðức Mẹ trong cuộc đời Thánh Gioan Bosco, Thánh Bênađô và Cha Thánh Anphong, tôi đã nhận ra rằng các thánh ai cũng có lòng yêu mến Mẹ Maria cách đặc biệt. Rồi tôi suy nghĩ và tự hỏi: "Vị thánh nào yêu mến Mẹ Maria hơn cả?" Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho tôi hiểu biết chân lý này: "Vị thánh yêu mến Mẹ Maria hơn cả chính là Chúa Giêsu, Vị Thánh của các thánh. Vì Chúa Giêsu vừa là Con Một của Chúa Cha vừa là người con duy nhất của Mẹ Maria".

Các thánh ai cũng yêu mến biệt kính Mẹ Maria vì đó là cách thế để trở nên giống Chúa Giêsu cách thuận tiện, vắn tắt, hoàn hảo, và bảo đảm hơn cả và do chính Chúa Giêsu vạch ra cho mọi người khi Người trối Ðức Mẹ lại cho người môn đệ dấu yêu trước lúc Người sinh thì trên thánh giá:"Này là Mẹ con" (Gn 19:27 ). Nên thánh là gì nếu không phải là nên giống Chúa Giêsu qua việc tham dự tình con thảo của Người đối với Thiên Chúa là Cha và Ðức Maria là Mẹ?

Rồi nghĩ đến sự thánh thiện của mỗi người tùy thuộc vào tình yêu của người ấy đối với Chúa Giêsu, tôi lại tự hỏi: "Vị thánh nào yêu mến Chúa Giêsu hơn cả?" Chúa Thánh Thần lại dạy tôi: "Vị thánh yêu mến Chúa Giêsu hơn cả chính là Ðức Mẹ, Ðấng đã sinh ra Chúa Giêsu và đã cộng tác với Người để hoàn thành chương trình cứu độ theo thánh ý Chúa Cha".

Chúa Thánh Thần còn soi sáng cho tôi có một lời nguyện mà tôi nghĩ là thật tuyệt vời và đầy ý nghĩa. Ðó là lời cầu xin như sau: "Xin cho con yêu mến Chúa như Mẹ đã yêu Chúa và xin cho con yêu mến Mẹ như Chúa đã yêu Mẹ."

Tôi cứ tưởng mình là người đầu tiên được ơn soi sáng để có được lời nguyện tuyệt vời này.

Nhưng tôi đã lầm!!!

Tháng 08/1997, tôi đã trở lại Chủng Viện Các Thánh Tông Ðồ ở Cromwell, Connecticut để dự cuộc họp mặt thân mật với các anh em linh mục cùng học ở đây khi trước. Tôi có mang theo cuốn Dẫn Ðàng Mến Chúa của Cha Thánh Anphong để đọc trong những ngày ở đó. Vào tối ngày 21/08/1997, áp lễ Ðức Mẹ Trinh Vương, tôi đã giật mình khi đọc được ở cuối đoạn 4 trong cuốn sách này lời nguyện sau của Thánh Anphong: "Xin Mẹ hãy làm cho con mến Chúa Giêsu như Mẹ đã yêu mến Người thuở xưa, con lại xin mến Mẹ như Ðức Chúa Giêsu đã mến Mẹ vậy". Thì ra lời nguyện qúy hóa mà tôi ngỡ mình là người đầu tiên được Chúa soi sáng để nhận biết trên đây đã được Cha Thánh Anphong viết vào tác phẩm của ngài cả mấy trăm năm trước rồi!

Nhưng tôi vẫn vui mừng vì qua sự việc này tôi thấy mình có cùng cảm nghĩ và tâm tình cầu nguyện như Thánh Tổ phụ Anphong. Như thế, dù sao tôi cũng có được ít nhiều lòng yêu Chúa Giêsu và Mẹ Maria như Cha Thánh. Ðiều này đủ làm tôi sung sướng dạt dào và tận tình cảm tạ Chúa và Mẹ Maria về ơn trọng này. Sáng hôm sau là Lễ Ðức Mẹ Trinh Vương. Tôi đã được diễm phúc chủ tế và chia sẻ cảm nhận hồng ân này với các anh em linh mục và chủng sinh trong bài giảng của thánh lễ tại nguyện đường của Chủng Viện Các Thánh Tông Ðồ.

Hôm nay là Lễ Giáo hội mừng kính Sinh nhật Ðức Mẹ. Tôi lại được diễm phúc viết xuống cảm nhận hồng ân trên như một bông hồng, một món quà sinh nhật nhỏ bé thân thương dâng kính Mẹ. Tôi hỏi Mẹ:"Ước mơ sinh nhật của Mẹ là gì, thưa Mẹ?" Tôi thầm nghĩ Mẹ đang âu yếm bảo tôi rằng:"Ước mơ của Mẹ là thấy con cũng như mọi người yêu mến Chúa Giêsu như Mẹ đã yêu mến Chúa và yêu mến Mẹ như Chúa Giêsu đã yêu mến Mẹ khi xưa".

Như vậy, ước mơ của Mẹ cũng chính là mơ ước của tôi.

Vì thế, hợp một lòng một ý với Cha Thánh Anphong và những tôi trung con thảo của Mẹ qua mọi thời đại, tôi muốn dùng chính lời Cha Thánh trong cuốn Dẫn Ðường Mến Chúa để thân thưa với Mẹ rằng:

Lạy Mẹ Maria, lạy Nữ Vương trên trời dưới đất, con hết lòng trông cậy Mẹ bầu cử cho con! Xin Mẹ hãy làm cho con mến Chúa Giêsu như Mẹ đã yêu mến Người thuở xưa, con lại xin mến Mẹ như Chúa Giêsu đã mến Mẹ vậy, con xin nhận Mẹ là Mẹ con cậy trông.

(Sept. 08, 1998)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
Copyright © 1998. Dong Chua Cuu The.
All rights reserved.
E-mail : ducme@cuuthe.com