TIN MỪNG HÔM NAY

Lm. Vũ Minh Nghiễm, CSsR.


CHÚA NHẬT THỨ XXXII THƯỜNG NIÊN

8-11-1998 Luc 20: 27-38

BA ÐIỀU TÂM NIỆM

Một hôm, một bà mẹ mang thai một trật hai đứa con. Một đứa là gái. Ðứa kia là trai. Với thời gian, hai em ngày càng thêm lớn. Chúng không thôi ca hát: "Cuộc sống thật tốt đẹp biết chừng nào!"

Rồi chúng bắt đầu đi khám phá trong cung lòng của mẹ. Chúng gặp thấy sợi giây nối kết chúng nó lại với dạ mẹ. Nhờ có sợi giây đó mà hai em mới sống được trong cung lòng của mẹ. Chúng sung sướng la to lên: "Lòng mẹ thương ta bao la như biển Thái Bình dạt dào. Vì thương ta, mẹ đã chia sẻ sự sống với chúng ta."

Tháng ngày thấm thoát trôi qua...Một hôm bỗng xảy ra một biến chuyển khác lạ. Em trai hỏi:

- Hiện tượng kia nghĩa là gì vậy?

Em gái trả lời:

- Hiện tượng nầy có nghĩa là cuộc sống trong dạ mẹ của chúng ta sắp đến ngày chấm dứt đó em ạ!

- Nhưng, đứa con trai nói, em không muốn ra khỏi đây. Em muốn ở lại trong cung lòng mẹ mãi mãi.

Ðứa em gái đáp:

- Chúng ta không có quyền lựa chọn. Nhưng biết đâu, sau ngày sinh ra, đời sống vẫn tiếp tục. Chúng ta vẫn còn tiếp tục sống ngoài cung lòng của mẹ.

Em trai nói:

- Làm thế nào được, một khi mà chúng ta bị cắt đứt khỏi sợi giây nối kết chúng ta lại với dạ mẹ? Không có sợi giây đó, làm sao có thể sống? Ðàng khác, chúng ta biết rõ rằng trước chúng ta đã có những người khác ở tại đây rồi. Và một khi đi ra, chẳng thấy ai trở lại nói với chúng ta rằng sau khi sinh ra khỏi lòng mẹ, còn có đời sống ở bên ngoài. Chẳng ai trở lại nói với chúng ta điều đó cả. Không! Không đâu chị ạ. Ngày sinh chính là ngày chết, ngày tận số của chúng ta!

Nói xong, đứa em trai nằm xoài ra, buồn bã, thất vọng vô cùng, miệng không thôi lẩm bẩm:

- Nếu cuộc sống trong dạ mẹ mà kết thúc bằng cái chết, thì cuộc sống nầy nào có nghĩa gì?

Ðứa em gái nói:

- Chúng ta phải có một người mẹ. Không có mẹ, làm sao chúng ta có thể có mặt tại đây được? Không có mẹ, làm sao chúng ta có thể sống?...

Cứ như thế, ngày sau hết trong lòng mẹ đầy những thắc mắc, băn khoăn, và lo sợ. Cuối cùng, giây phút sinh hạ đã đến. Vừa lọt lòng mẹ, hai em mở mắt ra. Nhìn thấy ánh sáng huy hoàng bên ngoài, hai em vui mừng quá. Nhảy lên sung sướng:

- Thì ra, đời sống bên ngoài lòng mẹ vẫn tiếp tục, và còn đẹp tươi ngàn vạn lần hơn sự mơ ước của chúng ta.

* *

Câu chuyện trên đây là một dụ ngôn. Ðời sống chúng ta trên trần gian có thể sánh như đời sống của hai chị em trong lòng mẹ. Giống như hai chị em kia, thắc mắc về đời sống sau khi sinh ra có hay không, và nếu có, thì như thế nào, con người chúng ta trên mặt đất cũng thắc mắc về đời sống sau khi chết, có hay không, và nếu có thì như thế nào.

Chúng ta điều tin rằng con người ta sau khi chết, vẫn còn sống. Kinh Thánh đã nói rõ ràng như ban ngày. Nhưng đời sống lúc đó sẽ ra sao? Như hai chị em trong câu chuyện trên, sau khi sinh ra, gặp thấy một đời sống ngàn vạn lần tươi đẹp hơn sự mơ ước của các em, chúng ta cũng sẽ được như vậy sau khi chết.

Ðây, Thánh Phao-lô xác quyết với chúng ta:

"Những điều mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Ngài, thì mắt chưa từng thấy, tai chưa từng nghe, lòng con người chưa hề nghĩ đến." (I Cor. 2:9)

* *

Dụ ngôn về hai chị em sinh đôi cũng chuẩn bị chúng ta suy tư về các bài đọc trong thánh lễ hôm nay.

Bài đọc thứ nhứt về cuộc tử đạo của tám mẹ con Ma-ca-bê dưới thời vua An-ti-ô-chô và bài Phúc Âm nói về một thiếu phụ mà bọn Sa-đoc nói là có bảy đời chồng, cả hai bài điều nói rõ ràng về đời sống vĩnh cửu sau khi chết.

Thay vì bình luận dài dòng, chúng ta hãy nhân cơ hội nầy tự đặt cho mình một câu hỏi thực tiễn: Là một người bận rộn với công việc làm ăn ở thế gian, tôi phải sống đời sống thường ngày cách nào để bảo đảm cho cuộc sống trường sinh mai ngày sau khi chết?

Câu trả lời cho câu hỏi nầy được tìm thấy trong một cuốn sách của bà McCoy nhan đề là Megatraits bàn về bí quyết thành công của những nhà kinh doanh. Một trong những người mà bà McCoy phỏng vấn là ông Peter Coors, giám đốc hạng rượu của công ty Adolph Coors.

Adolph Coors đã trốn dưới hầm một chiếc tàu buôn của Ðức mà sang được Hoa-kỳ. Ông tới không thẻ thông hành (hộ chiếu) không giấy tờ, không tiền bạc. Với hai bàn tay trắng, ông Adolph Coors đã xây dựng được một trong những công ty lớn nhứt và thành công nhứt trên đất Hoa-kỳ.

Peter Coors là cháu nội của Adolph Coors. Khi được hỏi:

- Ông quan niệm như thế nào về sự thành công?

Peter Coors trả lời:

- Thành công đối với tôi gồm có ba điều như sau:

Thứ nhất: Khi cuộc đời tôi đến ngày viên mãn, và phải ra trước Tòa Thiên Chúa, tôi phải cảm thấy được rằng dầu tôi có phạm một ít lỗi lầm, nhưng tôi đã luôn luôn đặt Chúa làm trung tâm của cuộc đời tôi. Ðó là điều thành công thứ nhứt.

Thứ hai: Tạo lập được một gia đình đầm ấm, một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Ðó là điều thành công thứ hai.

Thứ ba: Sau khi thời gian làm việc cho công ty chấm dứt, tôi có thể nói được rằng: không những tôi đã tận lực làm việc cho công ty, mà còn tận tình giúp đỡ các bạn công nhân nữa. Ðó là điều thành công thứ ba.

* *

Ba điều tâm niệm của Peter Coors cũng phải là ba điều tâm niệm của chúng ta hôm nay. Ba điều tâm niệm nầy là câu trả lời cho câu hỏi thực tiễn của chúng ta nói trên: Là một người bận rộn với công việc làm ăn ở thế gian, tôi phải sống đời sống thường ngày cách nào hầu bảo đảm cho cuộc sống trường sinh mai ngày sau khi chết?

Thưa trước hết: Tôi phải sống cuộc đờøi trên dương gian một cách khôn ngoan như thế nào để sau khi nằm xuống và phải ra truớc toà Chúa, tôi có thể thưa rằng tôi luôn luôn đặt Chúa làm trung tâm điểm của cuộc đời tôi trên dương thế.

Thứ đến: Tôi phải sống cách nào để sau Thiên Chúa, thì bổn phận của tôi đối với gia đình Chúa đã giao phú, là điều ưu tiên trong các công việc thuộc phạm vi trần thế khác.

Sau hết: Tôi phải sống nghề nghiệp của tôi, ơn gọi của tôi, cách nào để không những gây lợi ích cho sở tôi làm việc, mà còn giúp đỡ các đồng nghiệp, gây hạnh phúc cho tất cả mọi người chung quanh.

Nếu được như vậy, chúng ta sẽ là những người con khôn ngoan của Chúa, và đảm bảo được lời Thánh Phao-lô đã hứa với chúng ta qua các tín hữu trong giáo đoàn Cô-rin-thô rằng:

"Những điều mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Ngài, thì mắt phàm chưa từng thấy, tai phàm chưa từng nghe, lòng người phàm chưa hề nghĩ tưởng đến" (I Cor. 2:9).


CHÚA NHỰT THỨ XXXIII THƯỜNG NIÊN

15-11-1998 nbsp; nbsp; Luc 21: 5-19

SẮC NƯỚC HƯƠNG TRỜI

Cách đây mấy năm, tại Hollywood người ta có làm một cuốn phim lạ. Mở đầu là một ông thương gia xuất hiện sau cửa sổ của văn phòng ông, nhìn ra ngoài phố, xem dân chúng đang qua lại mua báo buổi sáng.

Ông nhìn một lúc, thoát chốc một ý tưởng ngộ nảy ra trong trí, làm cho ông rất kích động. Ông tự nói một mình: "Phải chi hôm nay, tôi mua được tờ nhựt báo ngày mai! Nhưng nhựt báo ngày mai, thì ngày mai mới phát hành. Hôm nay đã có đâu mà mua được? Nếu mua được, và đọc được những tin tức ngày mai, hẳn tôi sẽ có nhiều cơ hội may mắn để lo cho công việc buôn bán của tôi được may mắn và thịnh đạt."

Khi ông ta đang suy tư như vậy thì bỗng có một người lạ mặt bước vào văn phòng, nói:

- Tôi muốn đáp ứng nguyện vọng của ông. Ðây! Nhựt báo ngày mai.

Ông thương gia sung sướng quá. Nhờ đọc được những tin tức sẽ xảy đến ngày mai mà ông đã thay đổi thái độ, hành động cách khôn khéo. Việc làm được xuôi thuận và thành công lạ thường.

* *

Câu chuyện về người lạ mặt trong cuốn phim của Hollywood chỉ là giả tưởng. Câu chuyện của chúng ta hôm nay mới là chuyện thật.

Hôm nay Ðức Yê-su cũng trao các môn đệ một tờ nhựt báo ngày mai. Ngài cho họ một cái nhìn về những việc sẽ xảy đến trong tương lai. Ngài nói với họ rằng đền thờ thành Yê-ru-sa-lem, lộng lẫy huy hoàng với những đá tốt, gỗ hiếm, lễ vật quí mà họ trông thấy đó, có ngày sẽ bị phá bình địa, không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào.

Lời tiên tri nầy đã ứng nghiệm. Bốn mươi năm sau đó, quân đội Rô-ma đã đến vây hãm thành Yê-ru-sa-lem, nổi lửa đốt và đền thờ lộng lẫy kia đã bị tàn phá hoàn toàn. Cho tới ngày nay, sau 2,000 năm, với kỷ thuật xây cất tân ky,ø cũng chưa ai trùng tu lại được.

Ðền thờ thành Yê-ru-sa-lem là linh hồn của dân Do-thái. là tất cả mọi hy vọng của họ. Do đó, đối với họ, sự hủy diệt thành Yê-ru-sa-lem cùng với đền thờ thì cũng như hủy diệt chính quả địa cầu, cũng như tận thế vậy. Ðó là lý do mà Giáo Hội đặt bài Phúc Âm nói về sự hủy diệt đền thờ Yê-ru-sa-lem vào Chúa nhựt áp chót năm Phụng vụ. Trong những ngày sau cùng của năm Phụng vụ nầy, Giáo Hội muốn cho chúng ta suy tưởng đến những ngày sau cùng của trần gian, ngày mà Ðức Yê-su sẽ đến trong vinh quang để phán xét muôn dân thiên hạ.

* *

Thời Giáo Hội sơ khai, các tín hữu đã bắt đầu nói đến ngày tận thế. Trong bài Phúc Âm hôm nay, Ðức Yê-su nói:

"Trước ngày tận thế, sẽ có những tiên tri giả xuất hiện, sẽ có giặc giã chiến tranh, thiên tai địa chấn, đói khát, ôn dịch...

Thời các tông đồ, cũng đã xảy ra những biến cố như vậy. Và các tín hữu thời đó cũng đã trông đợi Chúa đến trong vinh quang ngày thế tận. Thời chúng ta bây giờ, thiên hạ càng nói đến ngày thế tận hơn nữa. Năm 1947, sở Khoa học Nguyên tử lực có thực hiện một chiếc đồng hồ gọi là "Ðồng hồ ngày tận thế" (Doomsday Clock). Mục đích của đồng hồ nầy là báo động cho mọi người thấy rằng hiện giờ võ khí nguyên tử đã lan tràn ra khắp các nước thiên hạ. Tình hình chính trị bất ổn của thế giới ngày nay có thể khai hỏa chiến tranh nguyên tử bất cứ lúc nào, và đem quả địa cầu nầy đến ngày tận số. Hiện nay Ðồng hồ ngày tận thế nầy chỉ 11 giờ 54 phút trước nửa đêm. Nghĩa là chỉ còn 6 phút nữa là tận thế. Phải coi chừng!

Do đó mà có nhiều nhà thuyết pháp tiên đoán rằng ngày tận thế đã gần kề. Mới rồi đây, một giáo phái Tin Lành, cách riêng tại Ðại Hàn, loan tin đi khắp tứ phương thiên hạ rằng ngày 28-10-1992 là ngày tận thế. Mọi đạo hữu phải chuẩn bị sẵn sàng chờ Chúa đến đem họ về trời. Thế là họ bỏ hết mọi công việc, ngồi chờ giờ sau hết trên trần gian. Nhưng Chính phủ của họ lại hoài nghi. Ngày đó, một lực lượng Công an Cảnh sát hùng hậu lên đến 1,700 người, đươc huy động để canh giữ các hội đường, nơi các đạo hữu nhóm họp, phòng ngừa một cuộc tự tử tập thể.

Chúng ta đã biết rồi. Ngày đó đã đến, rồi đã trôi qua như các ngày khác, chẳng có gì lạ xảy đến. May nhờ có các Công an Cảnh sát canh chừng, mà chỉ có một số nhỏ độ dăm bảy người tự tử được thôi!

* *

Chúng ta biết rằng quả địa cầu nơi chúng ta đang sống, vì là một khối vật chất, nên sẽ có ngày tan nát đi. Ngày đó tức là ngày tận thế, ngày mà không ai không loài nào có thể sống còn được. Nhưng ngày tận thế bao giờ sẽ đến? Không ai biết. "Chính con Người, Ðức Yê-su nói, cũng không biết." (Math: 24:36)

Mà nếu đến thì đến cách nào? Quang cảnh ngày tận thế sẽ ra sao? Chúa đến trong vinh quang dưới hình thức nào? Chẳng ai có thể hình dung được, phỏng đoán được. Các điều Chúa nói về ngày tận thế thường là dưới hình thức dụ ngôn.

* *

Phải, ngày tận thế của địa cầu nầy cũng như ngày Chúa sẽ đến trong vinh quang, không ai biết, không ai hiểu được diễn tiến ra sao. Và ngày đó có thể còn xa lắm. Mấy chục năm nữa? Mấy trăm năm nữa? Mấy ngàn năm nữa? Mấy triệu năm nữa? Xa lắm!

Nhưng ngày tận thế của chính chúng ta, có thể không xa lắm. Có thể rất gần. Có thể nội năm nay. Có thể nội tháng nầy. Có thể nội tuần nầy. Có thể nội ngày hôm nay.

Phải, sự chết, tức là tận thế của mỗi một người chúng ta, có thể đến bắt chợt chúng ta bất cứ lúc nào. Chúa có thể gọi chúng ta bất cứ giờ nào. Ðó chính là lời Ngài nhắn nhủ chúng ta:

"Các con hãy chuẩn bị sẵn sàng. Chính vào lúc các con không ngờ thì Con Người sẽ đến. (Luc 12: 40)

Ðó là tin tức của tờ nhựt báo ngày mai mà Chúa trao cho chúng ta hôm nay.


CHÚA NHẬT THỨ XXXIV THƯỜNG NIÊN

Lễ Chúa Kitô Vua

22-11-1998 Luc 23: 35-43

VUA MUÔN VUA

Bài Phúc Âm hôm nay nói rằng khi Ðức Yê-su bị treo lên thập giá, thì có môät tấm bảng đặt ở phía trên đầu Ngài. Ðó là một thông lệ của đế quốc Rô-ma. Tấm bảng nầy tuyên bố tội trạng của người bị đóng đinh.

Trong trường hợp Ðức Yê-su, tấm bảng nầy có mang giòng chữ: Người nầy là vua dân Do-thái. Nói rộng ra, câu nầy có nghĩa là Ðức Ki-tô can tội phản loạn. Là đối thủ của César, đang toan tính tiếm ngôi hoàng đế.

Ðiều nầy dĩ nhiên không đúng sự thật. Dân Do-thái cũng như chính quyền Rô-ma đều biết như vậy. Thượng Hội đồng Do-thái đã lên án Ngài về tội nói phạm thượng nghịch cùng Thiên Chúa. Nhưng theo luật Rô-ma, tội nầy không đáng án tử hình. Vậy họ tố cáo ngài mưu toan phản loạn với chính quyền Rô-ma. Ðó là thứ tội mà Tổng trấn Rô-ma là Phi-la-tô, không thể làm ngơ, dầu rằng ông biết đó chỉ là một lời vu cáo. Vậy, ông đã miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh Ngài.

Về tấm bảng tội trạng treo trên đầu tội nhân thì phải viết như thế nào? Họ có thể viết: Phản loạn. Ðó chính là thứ tội họ tố cáo Ngài.

Nhưng Phi-la-tô thì lại có ý kiến khác. Ông ra lệnh viết: Ðây là vua dân Do-thái. Gián tiếp, thì câu nầy cũng đồng nghĩa với phản loạn. Phi-la-tô thừa biết rằng viết như vậy là làm mất lòng người Do-thái. Ðúng vậy. Nhưng ông lại cố ý như thế. Ðó là một trò diễu cợt độc ác mà Phi-la-tô muốn chơi với dân Do-thái. Ông muốn nói với họ rằng: Vua của các ông là một người yếu nhược, bất lực bất tài như vậy đó! Khi truyền viết: Người nầy là Vua Do-thái," Phi-la-tô vừa cười nhạo dân Do-thái, vừa cười nhạo Ðức Ki-tô.

Trước cái trò đùa độc ác nầy, người Do-thái đã phản ứng như thế nào? Các thủ lãnh họ đã giận dữ kéo lên dinh Phi-la-tô: yêu cầu ông thay đổi nội dung của bản án. Thay vì nói: "Người nầy là vua dân Do-thái, xin ông Tổng Trấn đổi lại là:"Người nầy tự xưng là vua Do-thái."

Nhưng Phi-la-tô cuơng quyết không nhượng bộ. "Sự gì ta đã viết, là đã viết. Cứ để vậy". Quod scripsi, scripsi. Hẳn ông ta đắc ý cười thầm vì đã chơi quân Do-thái được một đòn hài hước, quỉ quyệt tinh vi.

* *

Nhưng đối với Ðức Yê-su, sự thể thì lại khác. Thời gian đã đổi lời cười nhạo của Phi-la-tô thành sự thắng lợi cho Ngài. Trò chế diễu lúc ban đầu đã trở thành một lời ngợi khen, chúc tụng.

Ngày hôm nay, toàn thể Giáo Hội khắp hoàn cầu đang ngợi khen chúc tụng điều mà Phi-la-tô nhạo cười Ðức Ki-tô cách đây 2,000 năêm: "Người nầy là Vua dân Do-thái."

Ðức Ki-tô không những là vua dân Do-thái, mà là vua toàn thể thế giới. Ðức Ki-tô là Vua. Một ông vua không giống như các vua khác. Triều thiên Ngài đội là một vành gai. Ngài không có hoàng cung. Không có phủ việt. Không có ngai vàng, không có bệ ngọc. Ngài cai trị từ trên một thập giá. Có bao giờ nghe nói một đức vua bị đóng đinh, và cai trị tự trên thập giá không? Bọn lý hình được một phen hả hê cười nhạo. Sau khi đội vành gai thay triều thiên vào đầu Ngài, đặt một cây gậy thay phủ việt vào tay Ngài, chúng quì gối cười nhạo: "Lạy Vua Do-thái"Dân chúng đứng chung quanh phụ họa lại như một điệp ca: "Phải. Nếu quả thực ông là vua Do-thái, thì hãy xuống khỏi cây thập giá để chúng tôi tin. (Mat 27: 29-42)

* *

Nhưng chúng ta cũng đừng vội đoán xét chúng. Họ không được chuẩn bị để hiểu được vương quyền của Ðức Ki-tô là như thế nào. Ðối với họ, vua là một người có quyền lực như hoàng đế César. Và quyền lực đó là bạo lực, là một sức mạnh rừng rú, ác độc, tiêu diệt kẻ thù để tự bảo vệ lấy địa vị của mình.

Ðức Ki-tô thì có một quan niệm về quyền lực hoàn toàn khác biệt, trái ngược với sức mạnh rừng rú, bạo tàn. Quyền lực của Ngài là tự hy sinh mình để cứu vớt kẻ khác. Sự thương khó của Ngài trên thập giá đã đem hai quan niệm về quyền lực nầy trực diện, đối chọi nhau, thử sức nhau.

Năm 1952, một nhà viết sử Anh, ông Edward Creasy có xuất bản một cuốn sách nhan đề là: "15 Trận Chiến Quyết Ðịnh Của Thế Giới". Khởi đầu là trận Marathon, trong đó quân Hy Lạp toàn thắng quân Ba-tư năm 490 trước Chúa giáng sinh, và kết thúc bằng trận Waterloo, trong đó Napoléon thua quân Ðồng Minh Anh-Phổ năm 1915. Giữa hai trận chiến nầy, ông đề cập đến các trận như Syracuse, Hastings, Saratoga... Nhưng ông không hề nhắc nhở gì đến một trận chiến, quyết liệt và dứt khoát hơn hết các trận chiến khác. Trận chiến trên đồi Cal-va-ri-ô.

Sự bỏ qua nầy thật ra cũng dễ hiểu. Ðứng về mặt quân sự mà nói, trận chiến trên đồi Cal-va-ri-ô không giống như các trận chiến trong lịch sử xưa nay. Trong các trận chiến khác, mũi tên hòn đạn bên nầy bắn đi, bên kia bắn lại. Máu đổ bên nầy, bên kia cũng đổ máu. Nhưng trận chiến Cal-va-ri-ô thì khác hẳn. Mũi tên hòn đạn chỉ được bắn đi từ một phía. Máu chỉ đổ ở phía bên kia.

Bề ngoài, trận Cal-va-ri-ô không thấy có vẻ gì là trận chiến cả. Nhưng đây là một trận chiến thật sự. Không phải một trận chiến vật chất, nhưng là một trận chiến tâm linh. Trận chiến giữa hai khái niệm về quyền lực. Một bên là bạo tàn rừng rú cần tiêu diệt hết tất cả những gì, những quyền lực nào đứng cản đường đi. Bên kia là tình yêu đau khổ. Một thứ quyền lực chỉ muốn hy sinh mình đi để cứu vớt kẻ khác, gồm cả những kẻ thù địch mình nữa.

Nhìn về khía cạnh nầy, trận Cal-va-ri-ô là trận chiến giữa hai quyền lực, quyết liệt chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Sức bạo tàn chưa bao giờ tàn bạo hơn. Tình yêu đau khổ chưa bao giờ bất khuất bằng. Hai sức mạnh đối lập nầy giao tranh xáp lá cà, giành nhau từng tấc đất một. Và quyết giao tranh cho đến khi ngã ngũ mới thôi.

Suốt cả một ngày dài, trận chiến diễn ra hãi hùng khốc liệt vô tiền khoáng hậu. Sức bạo tàn đặt một vành gai nhọn vào đầu tình yêu đau khổ. Khạc nhổ vào tình yêu đau khổ. Ðóng những đinh sắt to tướng vào tay vào chân tình yêu đau khổ...

Dầu vậy, tình yêu đau khổ vẫn trước sau như một, không đổi thay, không suy khuyết, không hao mòn, không nao núng. Sức bạo tàn của đoàn quân lý hình Rô-ma, của toàn dân Do-thái, không làm cho Ðức Ki-tô ghét ghen họ, chối bỏ họ, hận thù họ. Ngài vẫn tiếp tục yêu mến họ cho đến cùng. Giữa cơn đau đớn tột độ trên thập tự giá, Ngài vẫn yêu thương bàu chữa cho họ: "Lạy Cha, xin thứ tha cho họ, vì họ lầm chẳng biết."

Cuối cùng, sức bạo tàn bị quật ngã, đại bại, và tình yêu đau khổ toàn thắng khởi hoàn trên thập giá. Một trong những điều lạ lùng nhứt trong lịch sử là đây: Một người bị đóng đinh thập giá đã thuyết phục được loài người hơn bất cứ ai, bất cứ sự gì khác, rằng Thiên Chúa là Tình Yêu, và chúng ta phải yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta.



Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com