|
ÐÂY
LÀ MỤC MỚI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BƯỚC VÀO NĂM 2000 LM. HỒNG PHÚC, C.Ss.R.
LỜI DẪN NHẬP Trong Kitô giáo, thời gian có một giá trị căn bản. Trong chiều kích đó, thế giới đã được tạo dựng, lịch sử Cứu Rỗi được khai diễn khi "thời gian viên mãn" Chúa Cứu Thế giáng trần, và đến tột đỉnh khi niên cùng nguyệt tận, Con Thiên Chúa lại đến trong vinh quang. Nơi Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, thời gian trở nên chiều kích của Thiên Chúa tuy rằng Thiên Chúa là Ðấng hằng hữu đời đời. Với Chúa Kitô, lịch sử loài người gắn liền với "lịch sử" Thiên Chúa. Con đường loài người đi là con đường Thiên Chúa đã hoạch sẵn. Trong Tông thư Tertio millenimo adveniente ("Ngàn Năm Thứ Ba Ðang Ðến") công bố ngày 10/11/1994, Ðức Gioan Phaolô II trình bày cho chúng ta những suy tư về thời gian lịch sử loài người và "thời gian" của Thiên Chúa và đề nghị một chương trình đặc biệt suy tư học hỏi và tổ chức để chuẩn bị bước vào Ðại Năm Thánh 2000. Ðức Thánh Cha đặc biệt chú ý đến ý nghĩa năm Ðại Toàn Xá, khi kêu gọi một sự cố gắng thực thi công bình xã hội trong luân lý và tự do, tự suy tự giác: "Giáo Hội không thể bước qua ngưỡng cửa của một thiên niên kỷ mới mà không thôi thúc con cái mình tự hối và tự lọc luyện về những lỗi lầm, những bất tín, những rời rạc và chậm trễ. Nhận thức những lỗi lầm [quá khứ] là một tác động chân thành và can đảm giúp chúng ta lớn mạnh luôn trong đức tin và nhận ra những cám dỗ và những khó khăn hôm nay để chuẩn bị đối phó" (TMA, 33). Như vậy, Giáo Hội đâu có chủ trương một cuộc tự mãn, nằm gọn trên những nhành lá chiến thắng. Trái lại, Giáo Hội chủ trương một cuộc tự kiểm, để biết những ưu và khuyết điểm của mình, để tiếp tục xây dựng Nhiệm thể của Chúa, trong đó "có kẻ lành cùng người tội lỗi", có những ánh sáng bên cạnh bóng tối. Trong tinh thần hiểu biết đó, chúng tôi mạo muội phác hoạ lại một hình ảnh Giáo Hội trong quá khứ và hiện tại, bước vào năm 2000, một hình ảnh chắc có nhiều thiếu sót nhưng với cố gắng trung thực, trong ba cái nhìn: I. Giáo Hội Trên Con Ðường Ðã Ði Qua. II. Giáo Hội Trên Con Ðường Sắp Ðến. III. Giáo Hội Với Những Vấn Ðề Sôi Bỏng Của Thời Cuộc. Mong được các bạn chia sẻ, bổ túc và bổ khuyết trong tinh thần yêu mến Giáo Hội. "Chúng ta là con cái của Mẹ Giáo Hội" (Lời Thánh Nữ Tiến Sĩ Têrêxa Avila).
I. GIÁO HỘI TRÊN CON ÐƯỜNG ÐÃ ÐI QUA
Bài 1: Chúa Giêsu - Ðấng Sáng Lập Giáo Hội Lịch sử Giáo Hội Công Giáo khởi đầu với lịch sử Ðấng Sáng Lập là Ðức Giêsu mà các đồ đệ gọi là Kitô - danh từ Hy lạp có nghĩa là Ðấng được xức dầu, tiếng Hêbrơ gọi là Mashiah hay Messia, nghĩa là Ðấng Thiên Sai. Ðức Giêsu chính là Ðấng Thiên Sai do các tiên tri loan báo. Cả toàn dân mong đợi Ngài như vị cứu chúa, một Ðavít khác. Ngài được coi là thuộc dòng họ Ðavít. Dưỡng phụ Ngài là Giuse, một người thợ mộc cũng trong miêu duệ Ðavít. Mẹ Người là Maria, cưu mang Người cách nhiệm lạ trong sự khiết trinh. Người sinh hạ trong thành Bêlem vào một ngày mà các nhà nghiên cứu cho rằng đã xảy ra 6 hay 7 năm trước ngày khởi nguyên Kitô giáo ngày nay. Người bị đóng đinh tại Giêrusalem giữa năm 29 và 33, theo niên lịch Do thái là ngày 14 Nisan (7/4/30). Ðức Kitô Nagiarét không để lại bút tích gì. Ngài chỉ được một sử gia Do thái sống đồng thời là Joseph Flavius nhắc đến, cũng như vài tác giả La tinh như Pline Trẻ, Tacite, Suetone (thế kỷ II) nói qua. Những điều chúng ta biết về Ngài, những dữ kiện vĩ đại trong đời Ngài, chúng ta biết là nhờ các môn đệ, những người thân tín đã đi theo Ngài, kể lại trong những sách gọi là Phúc Âm. Phúc Âm tường thuật những điều Ngài dạy, những việc Ngài làm, trong 3 năm sống công khai tại xứ Palestine đầu thế kỷ I. Các môn đệ khi tường thuật lại, muốn là những chứng tá của niềm tin của họ hơn là với tư cách sử gia, về những điều họ nghe thấy khi đi theo con người kỳ lạ đã kêu gọi họ, đã ban cho họ một nếp sống. Con người Do Thái ấy dám tuyên bố không bãi bỏ mà kiện toàn những điều các tiên tri và lề luật dạy, dám xưng mình là Ðấng Messia và "Con Thiên Chúa". Phúc Âm của Mátcô được viết ở La mã (Roma) vào giữa năm 65 và 70. Phúc Âm của Mátthêu ở Palestine giữa năm 75 và 90, và Phúc Âm của Luca viết cho giới Hy lạp ở Syria vào giữa năm 65 và 80. Phúc Âm của Gioan được viết tại Tiểu Á giữa năm 90 và 100. Ba Phúc âm đầu được gọi là Nhất Lãm vì có thể đem đối chiếu các dữ kiện liên hệ với nhau và có thể nhận thực. Phúc ÂÂm không phải là bản kiểm kê lạnh lùng và xác thực mà là bản tường thuật những hành vi sống động được ghi lại dưới ánh sáng Ðức Tin của những đồ đệ nhiệt thành. Phần thiếu thời và trung niên được ghi chép rất ít oi, khiến các nhà chép "ngụy thư" thêm bớt nhiều chuyện lố lăng khả dĩ đáp lại sự tò mò của độc giả. Tại Nagiarét thuộc vùng Galilê, Giêsu là một cậu bé Do thái bình thường. Luca kể lại việc "cắt bì", đặt tên, cuộc hành hương Giêrusalem lúc lên 12 tuổi với cha mẹ. Cuộc đời công khai bắt đầu với việc nhận phép rửa của Gioan trong giòng sông Giođan và kéo dài hơn 3 năm. Với 12 tông đồ Ngài tuyển chọn, Ðức Giêsu đi khắp cùng vùng Galilê và Giuđa rao giảng Nước Trời đã gần đến. Theo tục lệ Do Thái, Ngài dùng dụ ngôn khi phát biểu cho người nghe dễ hiểu. Ngài hứa ban sự tha thứ và giao hoà với Thiên Chúa. Ðể đánh đôâïng niềm tin, Ngài làm nhiều phép lạ cả thể, như ở tiệc cưới Cana, như việc biến hoá bánh ra nhiều đủ nuôi 5000 người ăn, như việc chữa lành người mù từ khi mới sinh và việc làm cho ông Lazarô chết chôn đã 4 ngày được sống lại .v.v. . . Lời rao giảng của Ðức Giêsu cũng như những việc cả thể Ngài làm đã xúc phạm đến nhà cầm quyền đương thời. Ðối với đạo giáo, Ngài đề xướng một sự vượt qua Lề luật Do thái. Trước mặt Thiên Chúa, theo Người thì việc bác ái thương yêu kẻ khác quan trọng hơn việc giữ tỉ mỉ những điều lề luật dạy. Ví dụ, "Ngày Sabát được đặt ra vì con người chứ không phải con người vì ngày Sabát" (Mc 2: 28) và đức hoà thuận bác ái trọng hơn việc dâng của lễ. Ðối với nhà cầm quyền chính trị, sứ mạng thiêng liêng của Ðức Giêsu chạm đến quan niệm cai trị của Ðế quốc La mã. Người tranh luận với nhà cầm quyền Do thái và La mã. Tuy Ngài biết trước sự gì sẽ xảy ra, Ngài vẫn lên Giêrusalem dự Lễ Vượt Qua. Trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ, Ngài chia sẻ với họ Bánh và Rượu Thánh, dấu chỉ cuộc sống mới cho cả nhân loại. Rồi Ngài bị bắt tại Vườn Cây Dầu, bị đưa ra trước Hội đồng Cộng toạ Do thái, trước Philatô là người nắm quyền sinh sát, bị kết án đóng đinh trên thập giá theo thủ tục Ðế quốc La mã. Nhưng sau 3 ngày ở trong mồ, Ðức Giêsu đã sống lại như Ngài đã tiên báo trước. Mặc dầu mồ của Ngài bị niêm phong canh giữ cẩn thận - một việc xưa nay chưa ai từng làm đó là canh một xác chết vì sợ người chết sống lại - các tông đồ đã làm chứng "việc Ngài được Thiên Chúa cho sống lại, chúng tôi xin làm nhân chứng" (Cv 2:34). Họ tin rằng Ngài còn sống đến muôn đời. Bài 2: Giáo Hội Trong Các Thế Kỷ Ðầu Giáo Hội khai sinh từ các cộng đoàn tiên khởi được thiết lập và bành trướng khi Tin Mừng Chúa Giêsu Phục Sinh được rao giảng. Việc Chúa phục sinh là căn bản của Ðức Tin Kitô giáo. Tiếp đến là việc Chúa ThánhThần hiện xuống. Các Tông đồ lãnh nhận sứ điệp đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân và rửa tội cho họ "nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28:19). Tin Mừng gồm tóm trong Luật Bác ái, mến Chúa và yêu người. Giáo Hội Công Giáo phát xuất từ những dữ kiện do Phúc ÂÂm kể lại như sự sinh hạ của Chúa Giêsu, sự chết và sống lại của Ngài. Việc Chúa Thánh Thần hiện xuống nói lên tính cách công giáo nghĩa là phổ cập, hoàn vũ: Vì Thiên Chúa nhập thể làm người để cứu nhân loại, vì được Ðức Giêsu Kitô là Ðấng Messia do các ngôn sứ loan báo đã lập giao ước vớ Thiên Chúa, giao ước trước đây được thiết lập với Môisê dân được tuyển chọn và nay với dân mới. Ðó là cốt lõi giáo lý Công Giáo. Giáo Hội bành trướng mạnh, vượt ra biên giới Do Thái đi về các dân tộc khác. Nhiều vấn đề được đặt ra mà Giáo Hội phải đối phó, như vấn đề các lạc giáo. Có những nhóm lạc giáo cho rằng Ðức Kitô không phải là một con người thật, như nhóm Docetisme (thế kỷ II và III) dạy rằng Ngài là Thiên Chúa và sự xuất hiện của Ngài ở trần gian chỉ là vẻ hào nhoáng bên ngoài. Trái lại, đối với các đồ đệ của linh mục Arius (250-336) ở Alexandria, Ðức Giêsu "Con Thiên Chúa" không phải là Thiên Chúa, danh từ ấy chỉ dành cho Ðức Chúa Cha. Giáo Hội tiên khởi còn bị xáo trộn bởi hai lạc thuyết Nestorianisme và Nhất Tính (Monophysitisme) vào thế kỷ V. Nestorius cho rằng thiên tính và nhân tính nơi Chúa Kitô đều có một bản vị riêng rẽ trong khi nhóm Nhất Tính (Monophysite) lại chủ trương "Ngôi Lời nhập thể" chỉ có một bản tính duy nhất. Vào các thế kỷ đầu, cuộc bàn cãi xoay quanh thiên tính và nhân tính của Chúa Kitô, về sự chết và quyền năng của Ngài. Ðể giải quyết các cuộc tranh chấp, Giáo Hội mở những Công đồng nghĩa là Ðại hội các giám mục dưới sự chủ toạ của Giám mục La mã hoặc vị đại diện. Năm 431, Công đồng Êphêsô tuyên bố sự duy nhất của thiên tính và nhân tính nơi Chúa Kitô, chống lại lạc thuyết Nestorianisme. Năm 451, Công đồng Chalcedoine công bố sự duy nhất ấy không làm tiêu tan hai bản tính, chống lại thuyết Nhất Tính. Trong khi đó, Giáo Hội đã vượt ra ngoài biên giới Palestine và Giêrusalem, để đặt trung tâm ở La mã, thủ đô Ðế quốc. Nơi đây, năm 64, trong những cuộc bắt bớ của Nêron, hai Tông đồ Phêrô và Phaolô đã tuẫn tiết vì đạo. Ðạo Thánh bén rễ sâu vào miền đất thủ đô gây ảnh hưởng lớn, nhưng cũng lan rộng khắp vòng đai biển Ðịa Trung Hải, đến xứ Syria, đến cả Ấn Ðộ với Thánh Tôma Tông đồ, và Ai Cập. Giáo Hội đầy sức mạnh và nhựa sống. Thiên Chúa người Kitô hữu là Thiên Chúa duy nhất. Ðến đâu, Ngài cũng lật đổ các vị thần địa phương, cùng đảo lộn mọi tập tục Ðế quốc. Hai quan niệm thần linh, độc thần và đa thần chống chọi nhau, quậy lên những cuộc cấm cách đẫm máu, cho đến năm 313, khi Hoàng đế Constantinô I của Ðế quốc La mã trở lại và công bố Kitô giáo là quốc giáo của Ðế quốc. Trong nội bộ, Giáo Hội chia thành năm Toà Thượng phụ: La mã, Constantinople, Giêrusalem, Antioche, và Alexandria. Nhưng với những biến thiên lịch sử, các Toà Thượng phụ mất dần ảnh hưởng. Với trào xâm lăng Ả rập (Arab) vào thế kỷ VII, Giáo Hội Phi Châu và Trung Ðông dần dần bị tiêu diệt. Nhiều giáo dân và giáo sĩ trốn vào trong các đan viện, làm cho phong trào các đan viện khởi sắc. Chỉ còn lại hai Toà Thượng phụ là La mã và Constantinople, hay là Tây phương và Ðông phương, bên cạnh hai vị Hoàng đế: Carôlô Ðại đế (Ðế quốc La mã) và Constantinô IV (Ðế quốc Byzantine). Từ đầu La mã được coi là trung tâm đạo giáo quan trọng hơn cả, vì là nơi đấng kế vị Phêrô đặt trụ sở. Khi có những cuộc tranh chấp ở Ðông phương, người ta lại nại đến vị Giáo hoàng ở La mã giải quyết. Nhưng vì vấn đề xa xôi cách trở, vì những vị hoàng đế Ðông phương tự cho mình có một sứ mạng thiêng liêng, "những giám mục bên ngoài" xen vào nội bôï của Giáo Hội trong các vấn đề giáo lý và thần học, sự tranh chấp giữa Ðông và Tây phương ngày càng trầm trọng đi đến chỗ tan vỡ. Năm 1054, cuộc phân ly chính thức xảy ra khi Ðông phương tẩy chay vị đại diện đặc sai của Giáo hoàng và bản án tuyệt thông do La mã công bố đáp lại. Bản án chỉ mới được xá giải vào năm 1965 sau Công đồng Vatican II. Cuộc ly khai đầu tiên vừa có tính cách đạo lý như vấn đề "Filioque", vừa có tính cách chính trị khi Tây phương tổ chức đạo quân Thánh giá chiếm lại các phần đất ở Thánh Ðịa sau vụ quân Hồi xâm lăng, mà cũng do sự tranh chấp trong nghi lễ như vấn đề bánh có men và bánh không men. Từ đây bên cạnh Giáo Hội Công Giáo còn có Giáo hội Chính thống, Giáo hội La tinh và Giáo hội Byzantin. Mỗi bên đều gửi các vị thừa sai đi truyền đạo: Truyền thống Byzantin qui nạp các Giáo hội Nga, Bulgarie, Serbe; Giáo hội La tinh truyền đạo sang Ba lan, Solvaque, Slovène, Croate... Trong một cái nhìn bao quát qua lịch sử Giáo Hội vào thiên niên kỷ thứ nhất, chúng ta cần phải chú ý đến vai trò của một số Giáo hoàng La mã. Ðặc biệt như Ðức Lêô I (440-461), đã đứng ra chống lại quân Hunô xâm lăng; như Ðức Grêgôriô I (590-604), người đại diện thần quyền nhưng cũng nắm thế quyền để lấp vào chỗ trống chính trị bỏ ngõ, trước hiểm hoạ xâm lăng của man rợ đến từ phương Bắc. Nhất là phải nói đến cuộc cải tổ của Ðức Grêgôriô VII (1070-1085) trong mọi lãnh vực, như lãnh vực thiêng liêng (chấn hưng đời sống giáo sĩ, chống nạn buôn thần bán thánh...), như trong phụng vụ và các cơ cấu giáo triều. Ðặc biệt ngài đã thắng trong việc tranh chấp với Hoàng đế Ðức quốc Henri IV về vấn đề bổ nhiệm các chức sắc trong Giáo Hội. Việc này thuộc quyền của Giáo hoàng và các Giám mục, chứ không phải của Hoàng đế. Vấn đề này sẽ còn tái diễn qua các thời đại cho đến ngày nay, khi mà Giáo Hội bị nhà cầm quyền thế trần chèn ép tước đoạt sự tự do tín ngưỡng.
Bài 3: Giáo Hội Vào Thiên Niên Kỷ Thứ Hai Sau các cuộc xuất quân Thánh Giá (1096-1291) để cố chiếm lại Thánh Ðịa, nhất là phần mộ Chúa Giêsu, Giáo Hội thời Trung Cổ trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm biến chuyển. Lúc thì cực thịnh với sự xuất hiện của các dòng tu lớn như Xitô, Ðaminh, Phansinh, các đại thánh đường được xây cất, các trường đại học như Sorbonne ở Paris (Pháp) là nơi đào tạo những vị thầy xuất sắc ảnh hưởng cho đến ngày nay, như Thánh Tôma Aquinô. Lúc thì để lại những vết đen trong lịch sử như các toà án thẩm phán chống lại lạc giáo Cathare và Vaudois. Nhất là vào thế kỷ XIV, xảy ra một cuộc phân ly nữa làm cho Giáo hội Âu Châu yếu dần đi. Năm 1305, để tránh những cuộc rối loạn hay xảy ra ở La mã, các Giáo hoàng quyết định thiên đô về Avignon (Pháp). Bảy vị Giáo hoàng liên tiếp ở đó. Năm 1373, Ðức Urbanô VI quyết định trở về La mã. Các Hồng y thân Pháp bầu lên một vị khác là Ðức Clêmentê VII, vị này quyết định trở lại Avignon. Giáo Hội bị phân tán giữa hai Giáo hoàng thù nghịch nhau, điều mà lịch sử gọi là "Ðại Phân ly Tây phương" (Great Western Schism) kéo dài đến năm 1418. Một công đồng gọi là Công đồng Constance được triệu tập năm 1414 để giải quyết vấn đề. Trước sự suy sụp của ngôi Giáo hoàng, Công đồng lại tự cho rằng Công đồng có quyền trên Giáo hoàng và các vị giám mục truất phế cả ba vị (vị thứ ba vừa được bầu lên ở Pise) và chọn một vị khác để lập lại sự duy nhất. Tuy nhiên Thuyết Công đồng (Conciliarisme) không được Giáo Hội nhìn nhận. Giáo Hội còn trải qua một thời gian suy thoái nữa, song song với những biến chuyển chính trị lớn vào thế kỷ XV như việc quân Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ (Turk) xâm chiếm Thủ đô Constantinople ở Ðông phương, việc Kha Luân Bố (Columbus) tìm thấy Tân Thế giới (Châu Mỹ). Âu Châu bước vào thời kỳ gọi là Phục Hưng (thế kỷ 15-17) mà tiêu biểu là việc phát minh máy in của Guntenberg. Một sự phục hưng về chính trị, tư tưởng, văn hoá thoát ra ngoài ảnh hưởng của Kitô giáo, để đi tìm một chỗ đứng độc lập. Ðồng thời sự khám phá ra những chân trời mới mang lại nhiều thịnh vượng vật chất trong mọi lãnh vực. Trước đây văn hoá nghệ thuật hoàn toàn do Giáo Hội chủ động thì nay dưới thời Phục Hưng xuất hiện những vị giáo hoàng tài giỏi trong mọi ngành. Họ trở nên những mạnh thường quân. Ðức Julius II xây cất Ðại Thánh đường Phêrô ở Vatican (1506) và trọng dụng những bậc nhân tài lỗi lạc như Raphael, Michel Ange, Bramante... Tuy nhiên, sống trong xa hoa, họ tỏ ra ít đạo đức, có cả những vị chìm đắm trong thác loạn như Ðức Alexandrô VI Borgia và Leô X thuộc gia đình Medicis. Thượng bất chính, hạ tắc loạn. Khi ngôi giáo hoàng sa sút như vậy thì Giáo Hội bị chia ba sẻ bảy, đòi hỏi một cuộc cải tổ sâu rộng. Từ phương Bắc, một thầy dòng tên là Martin Luther đứng lên hô hào cải cách. Ông dạy học ở Wittenberg (Ðức) và năm 1517, ông dán ở 95 tiểu đề chống lại việc buôn bán ân xá và các hành động của giáo quyền trung ương La mã. Dân chúng địa phương rất phấn khởi. Phong trào "Thệ phản" (Protestantism) ra đời. Luther đứng ra giải thích trong một cuộc tranh luận với các nhà thần học và các vị đặc sứ của Giáo hoàng. Trước Ðại hội Toàn quốc ở Worms năm 1521, Luther không chịu chối bỏ lập trường của mình, nhất là khi ông được sự ủng hộ của các Hoàng thân Ðức đang cầm quyền. Phong trào Thệ phản dựa trên việc phủ nhận các truyền thống sau đây: Quyền giáo huấn, cai quản của Giáo Hội, các bí tích, thánh chức, thẩm quyền của tông truyền và của phẩm hàm, của giáo hoàng và các giám mục. Thệ phản chỉ giữ lại 3 thể chế: Thẩm quyền duy nhất của Thánh Kinh, việc rao giảng Lời Chúa, và tổ chức Hội đồng. Giáo Hội Công Giáo khai mào ngay một cuộc phản công gọi là "Chống Cải Cách" (Counter-Reformation) trên nhiều bình diện. Công đồng Triđentinô (1545-1563) nhóm họp để chống lại Phong trào Thệ Phản bằng cách phản kháng lại những yêu sách của Luther. Công đồng Triđentinô xác định lại vai trò giảng dạy và cai quản của Giáo Hội, giá trị tất yếu của Thánh truyền và quyền tối thượng của giáo hoàng. Mọi giáo hội địa phương phải liên hệ với La mã. Ðồng thời một cuộc bành trướng rao giảng Phúc Âm vĩ đại hơn bao giờ hết được khai mở, hướng về các nước hải ngoại, như với hai nhà thừa sai Dòng Tên, cha Mateo Ricci ở Trung Hoa và cha Roberto de Nobili ở Ấn Ðộ. Việc trung ương tập quyền có điều hay là giúp các giáo hội địa phương thoát khỏi ách thống trị của các nhà cầm quyền phần đời. Tuy thế, việc tập quyền ấy cũng gây nhiều phản ứng của những người chủ trương thuyết Pháp quốc tự trị (Gallicanisme), thuyết do Công đồng Constance nói trên đây gợi ý, dành cho giáo hội địa phương được tự trị. Nhưng trái lại, cũng có phong trào gọi là "Bên kia núi Alpes" hay "Ultramontanisme" chủ trương phải tuần phục triệt để giáo hoàng của các nhân sĩ và linh mục như Jean Lacordaire, Guéranger, Joseph de Maistre, Louis Veuillot . . . Năm 1870, dưới thời Ðức Piô IX (1846-1878), quân Ý xua quân chiếm thành phố La mã và nước Toà Thánh (Papal States). Ðức Piô IX và các đấng kế vị như Ðức Piô X chủ trương một tập quyền trung ương mạnh mẽ hơn trong khi Giáo Hội đang gặp khó khăn. Ðức Piô IX khai mở Công đồng Vatican I năm 1870 để công bố quyền tối thượng của Giáo hoàng với đặc ân vô ngộ (infaillibilité). Ðức Piô X lên án thuyết "tân thời hoá" (Modernisme), các phương pháp phê phán Thánh Kinh (biblical criticism) coi giáo lý chỉ có tính cách tượng trưng. Với Ðức Lêô XIII (1878-1903), Giáo Hội có một cuộc cởi mở hơn với thế giới tân tiến. Thông điệp thời danh "Rerum Novarum" (Tân Sự) năm 1891 lên án tình trạng nghèo khổ của giới thợ thuyền và những cơ cấu bất công của ngành kỹ nghệ. Giáo Hội cảm thấy cần phải lấy lại chủ quyền của trung ương nên tỏ ra dè dặt trước những đổi mới trong phạm vi thần học, Thánh Kinh, sự hiểu biết, sáng kiến của giáo sĩ và giáo dân. Rất đáng tiếc một số nhà thần học tân tiến và cởi mở bị lên án như các cha Teilhard de Chardin, Yves Congar, Henri de Lubac và Dominique Chenu. Triều đại của Ðức Piô XII (1939-1958) diễn ra dưới thời Thế chiến II với bao nhiêu đổ nát hoang tàn còn ghi dấu trong lịch sử nhân loại. Giáo Hội như khựng lại chưa dám cất cánh tung bay. Phải chờ một người Chúa gửi đến là Ðức Gioan XXIII, Giáo Hội mới gây lại được mùa Xuân của một ngày Hiện Xuống mới: Công đồng Vatican II (1963-1965). (Còn tiếp) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |