GIÁO HỘI VÀ THỜI SƯÏ
VẤN ÐỀ DÂN SỐ

Thế Hùng, C.Ss.R

 

Khi thế giới đang chuẩn bị tiến vào năm 2000, người ta đưa ra nhiều dự đoán khác nhau về một thiên niên kỷ mới đang mở ra cho nhân loại. Khi nhìn đến Ðệ Tam Thiên Niên Kỷ sắp đến, một số người lạc quan xem đó một mốc điểm thời gian có ý nghĩa cho tiến bộ của lịch sử nhân loại bao gồm trong mọi lãnh vực: khoa học kỹ thuật, xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá,... Tuy nhiên, cũng có một số người bi quan nhìn đến năm 2000 như là một kỷ nguyên mà nhân loại đang tiến dần đến sự hủy diệt bởi vì nạn nhân mãn, tức là số người sống trên trái đất quá đông trong khi đó tài nguyên thế giới lại giới hạn không thể cung cấp đủ cho tất cả. Vậy câu hỏi đặt ra là phải chăng thế giới đang gặp phải hiểm hoạ nạn nhân mãn mà Liên Hiệp Quốc và một số tổ chức cũng như cá nhân đang hô hào kiểm soát bằng việc cổ võ và ngay cả áp lực các nước nghèo dùng đến các phương thức ngừa thai nhân tạo, triệt sản và phá thai.

 

Chuyện Xưa Lặp Lại

Thật ra không phải đợi đến cuối thế kỷ 20, vấn đề dân số mới được đặt ra. Hai thế kỷ trước đây vào năm 1798, nhà kinh tế và xã hội học của Anh quốc Thomas Malthus (1766-1834) trong cuốn Luận Về Nguyên Tắc Dân Số ("An Essay on the Principle of Population") đã nhận định rằng việc thế giới nghèo đói là điều không thể tránh được bởi vì dân số tăng theo cấp số nhân trong khi lương thực sản xuất ra tăng theo cấp số cộng. Rồi Malthus kết luận, chỉ có chiến tranh, nạn đói, và bệnh dịch mới có thể làm cho dân số bớt xuống vừa với khả năng sản xuất lương thực của thế giới, nếu không nhân loại sẽ sống hoài trong cảnh đói nghèo. Dĩ nhiên, ai cũng biết, dự đoán của Malthus là vô căn cứ bởi vì mặc dầu dân số thế giới tăng khoảng 6 lần trong 200 năm qua, tiêu chuẩn sống của người dân ngày nay cao hơn nhiều so với trước đây. Lý do là vì Malthus không tính đến khả năng phát triển trí tuệ của con người vượt xa mức tăng trưởng dân số. Do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, thế giới ngày nay nói chung có một cuộc sống phồn thịnh hơn xưa.

Tuy lời tiên tri của Malthus chẳng có hiệu nghiệm tí nào, vậy mà vào năm 1968 nhà sinh học người Mỹ Paul Ehrlich trong cuốn sách Quả Bom Dân Số ("The Population Bomb") tiếp tục đưa ra lời cảnh cáo về nạn khan hiếm thực phẩm và tài nguyên thiên nhiên trên thế giới. Theo dự đoán của ông, nếu dân số thế giới (3.5 tỉ năm 1968) tiếp tục gia tăng thì những trận đói khủng khiếp làm chết cả hàng trăm ngàn người sẽ xảy đến ở các nước nghèo và cũng theo lời ông, nuôi 6 tỉ miệng ăn trên thế giới là hoàn toàn không thể nào thực hiện được. Nhưng 30 năm sau, chúng ta đều biết tài nguyên thiên nhiên như dầu lửa, thép hiện được cung cấp dồi dào với giá rẻ. Ðến năm 2000 dân số thế giới sẽ vượt quá con số 6 tỉ nhưng hiểm hoạ nạn nhân mãn chẳng thấy đâu cả. Còn những nạn đói khủng khiếp mà Paul Ehrlich dự phóng thật sự đã có xảy ra ở một số nước nghèo như Ethiopia, Sudan và Somalia. Nhưng nói cho cùng, nguyên nhân không phải là do dân chúng đông đúc cho bằng là từ những cuộc nội chiến vô lý kéo dài giữa các phe phái gây bất ổn cho việc sản xuất thực phẩm của người dân. Tuy vậy, mối lo sợ viễn vông về nạn khan hiếm thực phẩm do việc bùng nổ dân số gia tăng vẫn ăn sâu vào đầu óc của một số người. Chẳng hạn như ông David Packard, đồng sáng lập viên của hãng điện toán Mỹ nổi tiếng thế giới Hewlett-Packard, khi chết đi đã để lại một tài sản trị giá 9 tỉ đô la với di chúc là phải ưu tiên sử dụng số tiền này để làm hạ thấp mức sinh đẻ toàn cầu.

 

Ðằng Sau Những Con Số Thống Kê

Mới đây trong số báo tháng 10/1998 của tờ tạp chí Mỹ nổi tiếng National Geographic có đề cập đến vấn đề dân số trước ngưỡng cửa năm 2000. Tờ tạp chí cho thấy mối lo sợ của môït số chuyên viên về viễn ảnh bùng nổ dân số ở các nước nghèo khi họ cho rằng, nếu dân chúng ở các nước nghèo không chịu đẻ bớt lại thì thế giới sẽ tiêu vong.

Thật ra, ai cũng biết Tổ chức Liên Hiệp Quốc là một trong những cơ quan đứng đằng sau những nghiên cứu cho rằng dân số thế giới gia tăng ngoài vòng kiểm soát. Những dự báo về dân số do Quĩ Dân Số Liên Hiệp Quốc (UNPF) đưa ra trong các báo cáo luôân vượt mức phát triển dân số thật sự. Chẳng hạn báo cáo năm 1988 dự báo dân số thế giới trong thời kỳ từ 1995-2000 tăng 97 triệu. Nhưng con số dự báo dân sô này giảm đi theo các báo cáo sau đó: 94 triệu (báo cáo 1992), 88 triệu (báo cáo 1994), 81triệu (báo cáo 1996), 78 triệu (báo cáo 1998). Cũng thế, ước lượng dân số thế giới vào năm 2050 của Liên Hiệp Quốc là 9.8 tỉ theo báo cáo năm 1994 xuống còn 9.4 tỉ (báo cáo năm 1996), và còn 8.9 tỉ (báo cáo năm 1998).

Nếu về mặt lý thuyết thuần túy, những nghiên cứu dân số của Liên Hiệp Quốc thay đổi theo thời gian là có thể chấp nhận được vì khó khăn trong cách tính toán. Tuy nhiên, điều không thể chấp nhận là, dựa trên những dự đoán dân số thổi phồng mà Tổ chức Liên Hiệp Quốc và các cơ quan khác như Ngân Hàng Thế Giới và Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế đã tiến hành một cách hung hăng việc kiểm soát dân số ở các nước nghèo trên thế giới qua các hình thức thường là bị cưỡng bức: ngừa thai nhân tạo, triệt sản và nhất là phá thai. Dựa trên những bản thống kê dân số không chính xác này và được các cơ quan thông tấn tiếp tay gây dư luận thuận lợi cho chương trình kiểm soát dân số ở các nước nghèo, Hội Nghị Dân Số và Phát Triển Thế Giới ở Cairo (Ai Cập) năm 1994 kêu gọi chi tiêu 17 tỉ đô la vào năm 2000 cho các chương trình kế hoạch hoá gia đình và y tế sinh sản, trong số đó 10 tỉ được dùng vào việc kế hoạch hoá gia đình, hay nói một cách khác là ngừa thai nhân tạo, triệt sản và phá thai.

Trong số những quốc gia và tổ chức ủng hộ triệt để chương trình kiểm soát dân số, chính phủ Hoa Kỳ đi đầu trong việc đặt điều kiện các nước nhận viện trợ phải ổn định tăng trưởng dân số qua các hình thức kế hoạch hoá gia đình. Chẳng hạn kể từ những năm 1960, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã thực hiện 30 chương trình kiểm soát dân số tại Peru (Nam Mỹ). Ngoài ra, Chính phủ Hoa Kỳ còn tài trợ cho những cơ quan và chương trình quốc tế thường có khuynh hướng ủng hộ ngừa thai nhân tạo, triệt sản và phá thai. Cho nên mới đây Quốc Hội Hoa Kỳ do Ðảng Cộng Hoà kiểm soát đã cấm chính phủ Clinton tài trợ cho Quĩ Dân Số Liên Hiệp Quốc vì cơ quan này đã đẩy mạnh nhiều chương trình liên quan đến phá thai ở các nước thuộc Thế Giới Thứ Ba (các nước nghèo) trong đó có Trung Quốc là quốc gia đang thi hành chính sách mỗi gia đình chỉ được phép có 1 con và người phụ nữ bị buộc phải phá thai nếu sinh đứa thứ 2.

Ở Trung Quốc, các phụ nữ phải đi khám hàng tháng ở các bệnh xá công cộng và bị buôïc phải trục hủy những thai "bất hợp pháp" như bà Xiaoduan Gao, một di dân Trung Quốc 37 tuổi, thừa nhận trong một báo cáo tin tức của Ðài Truyền Hình ABC (ABC World News Tonight) vào ngày 9/6/1998. Là giám đốc trong vòng 14 năm của một Trung tâm gọi là Sinh Ðẻ Có Kế Hoạch ở một thị trấn tại Trung Quốc gồm 60.000 dân, bà Gao nói rằng, ngay cả trong trường hợp khi một em bé được sinh ra một cách "bất hợp pháp", nghĩa là không được phép của Nhà Nước, thì bác sĩ tại trung tâm sẽ tiêm cho một mũi thuốc để đứa bé chết ngay cho dù ra khỏi bụng mẹ em còn sống. Bà Gao cho biết, Trung tâm của bà còn trả tiền cho các tay chỉ điểm để báo cho biết phụ nữ nào có thai mà không được phép của chính quyền. Ngoài ra, ở Trung tâm còn có phòng nhốt những phụ nữ cho đến khi nào họ "đồng ý" phá thai hoặc triệt sản. Ngay cả các thân nhân cố che dấu những người phụ nữ mang thai "bất hợp pháp" cũng bị nhốt tại đây. Ngoài ra, ai cũng biết là đối với những phụ nữ nào "vi phạm" chính sách 1 con của chính phủ Trung Quốc, các điều kiện sinh sống của họ và của gia đình sẽ được nhà nước "lưu tâm" bằng cách cúp lương thực, điện nước, lương bổng, và ngay cả tịch thu tài sản. Hơn nữa, với hủ tục "trọng nam, khinh nữ", nhiều gia đình người Trung Hoa một khi đã có một em bé gái thì tìm cách giết đi như để bỏ đói, bỏ lạnh để em chết đi, và như thế người mẹ mới có quyền mang thai với hy vọng sẽ có con trai.

Gần đây, một tin chấn động khác liên quan đến kiểm soát dân số được tờ Nhật báo Wall Street Journal số ra ngày 18/6/1998 phanh phui, đó là việc có 2 người Mỹ đã tự đứng ra phân phối thuốc quinacrine để triệt sản vĩnh viễn cho hơn 100.000 phụ nữ ở các nước nghèo. Hai nhà nghiên cứu ngừa thai Stephen D. Mumford, 55 tuổi, và Elton Kessel, 79 tuổi, đã lập nên cái gọi là Trung tâm Nghiên cứu Dân số và An sinh, từ basement nhà ông Mumford ở Chapel Hill, tiểu bang North Carolina. Mục tiêu của họ là dùng thuốc quinacrine để giảm bớt dân số ở các nước nghèo. Họ lý luận rằng, làm thế để giảm bớt miệng ăn ở các nước nghèo và hy vọng rằng đời sống vật chất ở đó sẽ khá hơn. Như vậy, làn sóng di dân đến Hoa Kỳ kiếm sống sẽ giảm đi. Ông Mumford đã nói thẳng với Nhật báo Wall Street Journal rằng, "Cuộc bùng nổ nhân số sau năm 2050 [tại Hoa Kỳ] sẽ hoàn toàn do những người di dân và con cái của họ. Cuộc bùng nổ nhân số này sẽ chế ngự cuộc sống của chúng tôi và sẽ có xáo trộn cũng như vô chính phủ." Cũng cần nên biết rằng Trung tâm Nghiên cứu Dân số và An sinh của hai ông Mumford và Kessel đã được những nhóm người chống lại việc di dân vào Hoa Kỳ tài trợ một phần.

Ðiều làm cho tin này trở thành đề tài sôi nổi và tạo nên sự chống đối việc sử dụng thuốc quinacrine của ngay cả từ những tổ chức kế hoạch hoá gia đình, đó là vì loại thuốc này mà chủ đích ban đầu là nhằm chống lại bệnh sốt rét, đã không được Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) của Hoa Kỳ cho phép sử dụng bởi vì nó có thể gây nhiều nguy hiểm, ngay cả việc gây ung thư. Hai ông Stephen Mumford và Elton Kessel đã đặt mua trên 2 triệu viên thuốc quinacrine của Hãng Sipharm Sisseln Ag ở Thụy Sĩ mà hãng này không hề hay biết là sẽ được sử dụng cho việc triệt sản. Sau khi mua về, hai ông phân phối đến các nước nghèo qua sự dàn xếp với các bác sĩ, y tá và bà mụ tại đây để phát không cho các phụ nữ. Khi được đưa vào tử cung phụ nữ, thuốc quinacrine sẽ ngăn chận vĩnh viễn việc đậu thai bằng cách làm sẹo trong ống dẫn trứng.

Ðiều oái oăm là ngay cả nhiều chính phủ của những nước nghèo cũng hợp tác trong việc sử dụng thuốc quinacrine để làm giảm bớt dân số nước họ. Chẳng hạn, như trường hợp Việt Nam, chính phủ cộng sản đưa chương trình triệt sản băèng thuốc quinacrine trong những năm 1980 và mới chịu ngưng vào năm 1993 do áp lực của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO). Chưa cần đề cập đến tính cách vô luân của việc triệt sản, nguy hại của quinacrine thật là rõ ràng. Thế mà, các viên chức Việt Nam lại còn tiếc rẻ về việc không còn được cung cấp miễn phí một thứ "thần dược" để giúp chống nghèo đói. Thật là mỉa mai khi thay vì tiến hành một chính sách phát triển dân sinh tiến bộ hầu nâng đỡ mức sống người dân, chính phủ Việt Nam lại dùng áp lực để người dân phải tiến hành ngừa thai nhân tạo, triệt sản và phá thai. Mới đây, một tờ báo ở Sài Gòn tường thuật rằng nhằm đạt chỉ tiêu kế hoạch hoá gia đình cấp trên giao cho, các nhân viên phụ trách dân số ở các phường phải nhờ đến, dĩ nhiên với tiền thưởng, những người mối lái kiếm người triệt sản. Một số thanh niên chưa lập gia đình lần nào nhưng một phần vì nghèo, một phần bị lừa gạt, đã phải bị cắt ống dẫn tinh.

 

Giáo Huấn Của Giáo Hội Về Các Biện Pháp Kiểm Soát Sinh Sản

Qua bao thập kỷ, Giáo Hội Công Giáo đã nhiều lần phản đối việc kiểm soát dân số bằng những phương pháp vô luân. Các vị giáo hoàng từ thời Ðức Piô XII đến Ðức Gioan Phaolô II đều kêu gọi mọi người hãy tôn trọng sự sống và không được can thiệp vào tiến trình tạo sinh tự nhiên mà Thiên Chúa đặt để nơi con người.

Trong Thông điệp Tin Mừng Sự Sống ("Evangelim Vitae"), Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II cho thấy rõ vấn đề dân số phải được đặt cho đúng với tinh thần Tin Mừng và phù hợp với phẩm giá con người. Ngài vạch ra rằng, "Những cường quốc trên thế giới đang bị ám ảnh bởi việc tăng gia dân số hiện nay [nơi các nước nghèo] và sợ rằng những người đẻ nhiều nhất và nghèo nhất tạo mối đe doạ cho phúc lợi và an bình của nước họ. Do đó, thay vì muốn đối diện và giải quyết những vấn đề liên quan đến phẩm giá của cá nhân và gia đình, cũng như quyền sống không thể vi phạm được của mỗi một người, các cường quốc thích cổ võ và áp đặt bằng mọi biện pháp chương trình kiểm soát sinh đẻ có qui mô."

Dĩ nhiên Giáo Hội không hề chủ trương "trời sinh voi, trời sinh cỏ" như các cơ quan kiểm soát dân số gán ghép. Cũng vậy, việc Giáo Hội phản đối các phương thức kiểm soát sinh đẻ vô luân (ngừa thai nhân tạo, triệt sản và phá thai) không có nghĩa là Giáo Hội cản trở sự thăng tiến của vai trò phụ nữ trong xã hội như các tổ chức kế hoạch hoá gia đình hằng tố cáo. Ðành rằng con cái là phúc lộc Chúa ban nhưng điều đó không có nghĩa là Giáo Hội chủ trương sinh sản vô trách nhiệm, thiếu suy tính, phó mặc cho may rủi. Kinh Thánh nói rằng, có con ngoan còn hơn là nhiều con mà không đạo đức: "Thà có một con còn hơn cả ngàn, thà chết không kẻ nối dòng hơn là có con gian tà" (Huấn Ca 16:3), hoặc "Thà là vô hậu mà nhân đức. . . Ðoàn lũ vô đạo, lắm con nào có lợi chi" (Khôn Ngoan 4:1,3). Cho nên, Giáo Hội chủ trương một đứa con sinh ra như là kết tinh của mọi biểu hiện tình nghĩa vợ chồng phải được nuôi nấng và giáo dục tử tế.

Trong khi nhìn nhận con cái là nguồn vui bao la cho các bậc cha mẹ, thì đồng thời Giáo Hội cũng hiểu được những "trách nhiệm nuôi dạy một số con đông cho xứng hợp trở nên khó khăn" (Humanae Vitae, 2). Do đó, Giáo Hội vẫn cho rằng việc điều hoà sinh sản là điều hợp lý và chính đáng: "Muốn tổ chức đời sống vợ chồng cho thuận hoà, đôi bạn thường vấp phải một số tình trạng sinh sống khó khăn và có thể lâm vào những hoàn cảnh khiến họ không thể gia tăng con số ít là trong một thời gian" (Gaudium et Spes, 51). Trong vấn đề điều hoà sinh sản, Giáo Hội khuyến khích các cặp vợ chồng chỉ áp dụng phương pháp tự nhiên bởi vì "những phương pháp này tôn trọng thân thể của vợ chồng, khuyến khích họ âu yếm và giúp nhau hướng đến tự do chân chính" (Giáo Lý Công Giáo, 2370). Ngược lại, Giáo Hội vẫn cương quyết lên án các biện pháp ngừa thai nhân tạo bởi vì chúng đi ngược lại với "sự liên kết bất khả phân ly giữa hai ý nghĩa của hành vi ân ái: kết hợp và truyền sinh. Ðây là điều chính Thiên Chúa đã muốn và không được tách rời" (Giáo Lý Công Giáo, 2366). Nhất là trong vấn đề phá thai, Giáo Hội nói rất rõ rằng quyền được sống là quyền bất khả nhượng của mọi người vô tội và vì thế "những quyền này không tùy thuộc vào các cá nhân, không tùy thuộc vào các bậc cha mẹ, cũng không phải là một nhân nhượng của xã hội và của Nhà Nước, nhưng thuộc về bản tính con người và gắn liền với con người do chính hành động Thiên Chúa sáng tạo nên con người" (GLCG, 2273). Ngoài ra, Giáo Hội nhấn mạnh rằng, trách nhiệm cuối cùng của việc điều hoà sinh sản thuộc về đôi vợ chồng bởi vì chính họ là những người đầu tiên có trách nhiệm về việc sinh sản và giáo dục con cái cho dù xã hội có trách nhiệm hướng dẫn qua những thông tin khách quan và tôn trọng tự do, chứ không được phép cưỡng bức (GLCG, 2372).

Năm 1984, trong một tuyên ngôn về Con Người, Gia Ðình, và Những Lực Chọn Căn Bản ("The Person, The Family and Fundamental Choices"), Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ nói rằng việc đẻ cách mấy năm, đẻ nhiều hay đẻ ít phải được xác định do: (a) quyết định của chính đôi vợ chồng trong sự tự do, hiểu biết và đồng ý của cả hai, (b) trách nhiệm của đôi vợ chồng trước mặt Thiên Chúa, đối với chính họ và gia đình, cũng như đối với xã hội mà họ là một phần tử, (c) sự nhận thức về chân giá trị của giáo huấn Giáo Hội liên quan đến đạo đức luân lý của các phương thức hạn chế sinh sản.

 

Thực Chất Vấn Ðề "Khủng Hoảng Dân Số"

Thật ra, vấn đề mấu chốt trong cái gọi là "khủng hoảng dân số" hiện nay không phải vì dân số quá đông cho bằng là mức tiêu thụ tài nguyên quá đáng như Tạp chí National Geographic số tháng 10/1998 có đề cập, "Nếu toàn thế giới tiêu thụ tài nguyên nhiều như các nước kỹ nghệ hoá hiện đang tiêu thụ, tài nguyên có thể cạn kiệt." Chẳng hạn, mức sử dụng năng lượng mỗi đầu người ở Hoa Kỳ cao gấp 20 lần so với Ấn Ðộ. Một gia đình nghèo ở Phi châu có từ 8-12 con có thể không tiêu thụ tài nguyên nhiều bằng một gia đình 4 người tại các nước kỹ nghệ. Ngay từ năm 1953, Ðức Piô XII có nói, thách đố thực sự của thế giới không phải là đông dân như một số nhà khoa học Âu Mỹ chủ trương nhưng là làm sao con người phải trở thành những người tiêu thụ có trách nhiệm. Với việc ngày càng có nhiều quốc gia đi vào quĩ đạo kỹ nghệ hoá cao độ, con người càng nên ý thức trách nhiệm về việc tiêu thụ năng lượng và tài nguyên thiên nhiên. Những sự lãng phí và khai thác vô trách nhiệm các nguồn tài nguyên là nguyên nhân chính của các vấn đề ô nhiễm sinh thái và phá hủy môi trường. Ngoài ra, thay vì dùng những tài nguyên để sản xuất vũ khí sát hại, con người có thể dùng chúng cho nhu cầu phát triển xã hội, nâng cao mức sống của mọi thành phần trong đại gia đình nhân loại. Vì vấn đề dân số chỉ nhắm vào các nước nghèo, người dân ở đây cảm thấy oán hận đối với các nước giàu vì họ buộc phải áp dụng các biện pháp kiểm soát sinh đẻ trong khi các nước giàu lại sử dụng tài nguyên nhiều nhất thế giới. Cuối cùng ra, vấn đề dân số chỉ là phương cách khai thác và tiêu thụ một cách có trách nhiệm các nguồn tài nguyên, cũng như san sẻ nguồn tài nguyên này theo tinh thần nhân loại liên đới.

* * *

Trong tuần lễ từ ngày 25-31/10/1998 được Tổ chức Liên Hiệp Quốc mệnh danh là Tuần Lễ Ý Thức Về Dân Số Thế Giới ("World Population Awareness Week") với sự bảo trợ của nhiều cá nhân và tổ chức ủng hộ kế hoạch hoá gia đình nhằm kêu gọi sự quan tâm về vấn đề dân số và những nỗ lực kiểm soát sinh sản. Trong dịp này, nhiều bài xã luận và quảng cáo tán dương những chương trình kiểm soát dân số, chẳng hạn như một quảng cáo vào ngày 29/10/1998 do chủ tịch của Viện Dân Số là ông Werner Fornos đứng tên ký rêu rao rằng, Tuần Lễ Ý Thức Về Dân Số Thế Giới được sự ủng hộ của gần 500 tổ chức trong 80 quốc gia, 32 thống đốc và hơn 200 thị trưởng của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đối với những người Kitô hữu, vấn đề dân số đã rõ ràng: nó không thể được giải quyết qua các hình thức ngừa thai nhân tạo, triệt sản và phá thai.

Một điểm cuối cần ghi nhận ở đây là cho dù dân số các nước nghèo đang tiếp tục gia tăng, thì cách riêng tại Phi Châu, nơi mà Liên Hiệp Quốc đang nhắm đến trong việc kiểm soát sinh sản, hiện đang bị dịch AIDS hoành hành sẽ làm số dân giảm đi trong thời gian tới. Cũng cần nói thêm là trong khi Liên Hiệp Quốc tỏ ra quan tâm về thế giới quá đông dân thì hiện có 51 quốc gia mà đa số là các nước kỹ nghệ, không thể thay thế mức độ dân số nước họ trong vòng 1 thế hệ. Nếu một quốc gia muốn có dân số ổn định như hiện có, mức sinh đẻ phải là 2.1 người cho mỗi phụ nữ. Trong khi đó, mức độ sinh đẻ của 51 nước chỉ từ 1.24 (Ý và Tây Ban Nha) đến 2.08 (Malta). Như thế, nhìn về tương lai khi mà tại những nước này, tỉ lệ số người già tăng nhanh hơn nhiều so với số người gia nhập thị trường lao động, lúc đó sẽ có sự mất quân bình trong việc cung cấp các dịch vụ xã hội, và có thể dẫn đến việc xung đột giữa 2 thế hệ già trẻ về quyền lợi.

Ðể kết luận, chúng ta có thể đọc lại Thông điệp "Tin Mừng Sự Sống" của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II để thấy rõ lập trường và hướng giải quyết của Giáo Hội về vấn đề dân số:

"Ngày nay một phần quan trọng của những chính sách ủng hộ sự sống là vấn đề phát triển dân số. Một điều chắc chắn là các nhà cầm quyền có trách nhiệm ‘can thiệp để định hướng nhân số’. Nhưng những sự can thiệp như thế phải luôn để ý và tôn trọng trách nhiệm đầu tiên và không thể chuyển nhượng được của các cặp hôn nhân và gia đình, cũng như không thể sử dụng những phương pháp mà không tôn trọng con người và các nhân quyền căn bản, bắt đầu là quyền sống của mỗi con người vô tội. Vì thế, không thể chấp nhận về mặt luân lý việc cổ võ, chưa nói đến áp đặt, sử dụng những phương pháp chẳng hạn như ngừa thai, triệt sản, và phá thai để điều hoà sinh sản. Những cách giải quyết vấn đề dân số là hoàn toàn khác. Các chính phủ và những cơ quan quốc tế trên hết phải phấn đấu tạo ra những điều kiện kinh tế, xã hội, y tế công cộng, và văn hoá mà sẽ có thể khiến cho các cặp hôn nhân có sự chọn lựa về việc truyền sinh trong sự tự do đầy đủ, và với trách nhiệm thật sự. Các chính phủ và cơ quan quốc tế phải nỗ lực để bảo đảm ‘cơ hội lớn hơn và sự phân phối công bằng hơn của cải hầu mọi người có thể chia sẻ đồng đều những của cải làm ra. Những giải pháp phải được tìm kiếm ở mức độ toàn cầu bằng việc thiết lập một chương trình thông hiệp và san sẻ của cải thật sự, trong trật tự quốc gia và quốc tế.’ Ðây là con đường duy nhất để tôn trọng phẩm giá con người và gia đình, cũng như tôn trọng gia sản văn hoá thật sự của các dân tộc" (EV, 91).

Tài liệu tham khảo:

- Population Control and Responsibility" by Mike Nelson, The Tidings Catholic Weekly, Los Angles Archdiocese, Oct 2, 1998, p. 14-15.
- Population Control Denounced by Experts at Women’s Conference" by Joseph Esposito, National Catholic Register Weekly, Oct 4-10, 1998, p. 7f.
- Pro-lifers Strive to Shatter World Population Myths" by Joseph Esposito, National Catholic Register Weekly, Nov 8-14, 1998, p. 16f.
- Hard Data Show Unreliabiliity of U.N. Population Projections" by John Flynn, National Catholic Register Weekly, Nov 29-Dec 5, 1998, p. 16f.
- Nguyễn Bình Tĩnh, SS, Hôn Nhân Kitô Giáo, Toà Giám mục Ðà Nẵng, NXB Thuận Hoá, 1995.
- Wall Street Journal, Mid June/1998; ABC News. Com Health & Living, June 26, 1998 on quinacrine.
- Be Fruitful and Multiply" by N. Gregory Mankiw, Fortune Magazine, Features, Sep 7, 1998.
- IMF, World Bank, UN Accused of Promoting Abortion", Catholic World News, Nov 25, 98.
- Catholic Documents


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com