|
Số 151 - Tháng 2-1999 Hỏi : Ði dự một buổi lễ cầu nguyện, con thấy một đấng đặt tay trên kẻ khác cầu nguyện. Có người ngã lăn ra, có người lại không. Phải chăng có một ma thuật nào đó? Hiền Có hai vấn đề cần phải giải thích. Một là vấn đề đặt tay. Thánh Kinh nói về việc đặt tay: "Chúng ta hãy vươn lên trình độ giáo huấn trưởng thành không trở lại những điều căn bản . . . là nghi thức đặt tay . . . " (Do thái 6:2). Cử chỉ đặt tay làm với đức tin như một sự cầu nguyện, một sự ban phép lành. "Môisê đã đặt tay lên ông Giosuê" (Thứ luật 34:9). Trong Tân Ước, chúng ta thấy nhiều lần Chúa Giêsu đặt tay trên bệnh nhân để chữa lành. Và các Tông đồ cũng làm như vậy (Mt 8:3-15; Mt 9:18; Lc 4:40; Cv 28:8 . . . ) Các Tông đồ đặt tay để ban quyền mục vụ cho các phó tế (Cv 6:6). Cũng để sai đi rao giảng (Cv 13:3), để lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần (Cv 8:17; 19:6). Ngày nay Giám mục đặt tay khi truyền chức thánh. Linh mục đặt tay để làm phép, khi cử hành Thánh thể, bí tích Rửa tội và các dịp khác. Vấn đề thứ hai là việc đặt tay trong các buổi cầu nguyện Thánh Linh, tương tự như được làm trong Thánh Kinh và Thánh truyền, để chúc lành, để chữa bệnh, để trao ban ơn Chúa Thánh Thần. Trong dịp ấy có những người được ơn an nghỉ trong Thánh Linh. Họ được một sự bình an sâu đậm, một sự yêu mến Chúa lớn lao, và nhiều khi được ơn chữa lành thiêng liêng, nếu không phải thể xác. Ðành rằng có những người dễ cảm nghiệm hơn, nhưng cũng có những người không có phản ứng thể xác, họ cũng nhận được ơn Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần như cơn gió thoảng thổi đâu tùy ý người, tùy cách của Ngài muốn. Vì thế, chúng ta không nên xét đoán về phản ứng bên ngoài. Nhưng hãy mở tâm hồn đón ơn Chúa và để Chúa hoạt động.
Hỏi : Xin Cha cho biết về ba em được nhìn thấy Ðức Mẹ ở Fatima, nhất là về Chị Lucia hiện đang còn sống. Một em trong gia đình Fatima
Chúng ta biết khi hiện ra tại Fatima cho ba em thụ khải là: Phanxicô và Jacinta (hai anh em ruột) và Lucia (chị em chú bác), lần thứ hai Ðức Mẹ đã nói: "Jacinta và Phanxicô, Mẹ sẽ đưa về trời sớm." Lời tiên báo này được thực hiện ngày 20/1/1920 khi em Jacinta qua đời tại Lisbonne, hai năm rưỡi sau ngày Ðức Mẹ hiện ra và Phanxicô qua đời 10 tháng trước vào ngày 4/4/1919. Xác của Jacinta được giữ nguyên vẹn. Cả hai được Ðức Gioan Phaolô II phong Ðáng Kính. Hai ngôi mộ nằm song song ở hai cánh Thánh đường Fatima hiện nay. Còn chị Lucia được Mẹ hứa sống lâu hơn để cổ võ việc sùng kính Khiết Tâm. Năm 1998, chị được 91tuổi. Chị vào Dòng Dorôthê, đã tuyên khấn. Nhưng sau vào năm 1948, chị được đổi sang Dòng Kín ở Combre, cách Fatima 70 km và đã khấn trọn ngày 31/5/1949. Chị sẽ được chôn trong Thánh đường Fatima, bên cạnh hai em thụ khải Jacinta và Phanxicô ngày nào Chúa cất chị về.
Hỏi : Thưa Cha, xin hỏi 2 câu: 1) Nhiều người đã bắt đầu dự đoán về vị Giáo hoàng tương lai sau Ðức Gioan Phaolô II. Phải chăng lại trở về với một vị Giáo hoàng người Ý như Ðức Hồng y Martini của Dòng Tên, Giám mục Milan, chẳng hạn. Cha nghĩ sao? 2) Và con gái có được giúp lễ không? Tò mò V.
1. Chúng ta nên nhớ rằng việc tuyển chọn Ðức Giáo hoàng là việc của Chúa Thánh Thần, nhiều khi chúng ta không ngờ trước được. Ví như Ðức Gioan Phaolô II hiện nay mà lịch sử gọi là "Vị Giáo hoàng không ai ngờ trước" đã đến trong sự bỡ ngỡ của mọi người. Theo tiêu chuẩn của Giáo Hội hiện nay, có 2 yếu tố: Cử tri đoàn không quá 150 người và cử tri được bầu không quá 79 tuổi. Theo tin mới nhất (4/10/1998) thì hiện nay số Hồng y người Ý được quyền bỏ phiếu là 18 vị trong số 150 vị. Sau người Ý là nhóm Hồng y của Hoa Kỳ gồm 11 vị. (Tin Báo 30 Ngày ở Lamã 10/10/1998). 2. Về vấn đề con gái giúp lễ. Chúng ta biết từ năm 1994, các Giám mục được phép cho con gái giúp lễ như con trai. Vừa rồi, tại cuộc phong thánh cho Nữ tu Edith Stein ngày 11/10/1998 tại Công trường Thánh Phêrô, người ta thấy có hàng ngàn trẻ em giúp lễ từ Ðức tới, trai có gái có, trong bộ áo trắng ren hoặc áo dài đỏ. Ðây là lần đầu tiên sự kiện này xảy ra tại Vatican. Nhưng các em gái không giúp trong Thánh lễ do Ðức Thánh Cha cử hành.
Giuse Phùng Tự
Người ta nói và viết nhiều về một số Giáo hoàng thời Phục hưng. Sự thật là vào thời kỳ này (thế kỷ XV) ngôi Giáo hoàng về phương diện tôn giáo và đạo đức được coi là xuống thấp nhất. Nhiều vị được coi là mạnh thường quân, nhưng mang tiếng là bỏ quên trách nhiệm thiêng liêng. Nổi danh hơn cả là Ðức Alexandrô VI, thuộc dòng họ Borgia, được bầu lên qua một cuộc bầu cử không trong sạch, lấy danh hiệu là Alexandrô VI (1492-1503). Trước đó, người đã có vợ và 4 con là Cesar, Gioan, Lucrecia, và Geoffray. Trong hoàng triều, Cesa đầy thủ đoạn, Lucrecia đầy lẳng lơ, núp bóng phụ thân. Linh mục Savonarola lên tiếng đả kích bị toà án cất chức và kết án hoả thiêu. Giáo Hội trải qua một thời kỳ đen tối. Năm 1503, Alexanđrô VI từ trần, sau khi lãnh nhận các bí tích. Qua vị lãnh đạo ấy, chúng ta có thể đưa ra vài nhận xét: 1. Chúa gìn giữ Giáo Hội không bị diệt vong vì lỗi lầm người lãnh đạo. 2. Vị Giáo hoàng ấy trong phạm vi tín lý, phụng tự đã không làm một cử chỉ, không công bố một sắc lệnh nào khả dĩ đáng chê trách, hay sai lầm. 3. Ngài chỉnh đốn nước Toà Thánh, nhất là mở mang bờ cõi Giáo Hội về Mỹ Châu. Việt Nam chúng ta nhận được Tin Mừng dưới thời này. Năm 1500 là Năm Thánh, 200 ngàn giáo lữ về Lamã hành hương, bên cạnh vị Giáo hoàng xa hoa, nhưng là người được kế vị Phêrô. Không có vấn đề Ðức Alexanđrô VI được phong thánh. Không nên lầm lẫn với Ðức Alexanđrô I (105-115) là vị Thánh Giáo hoàng thế kỷ 2.
Vân Hà
Có rất nhiều người cũng như Bà đã phẫn nộ trước cái tin đó. Ðược biết theo lời báo cáo của Bà Lê thị Quý thuộc Trung tâm Nghiên cứu Gia đình và Phụ nữ tại Hà Nội thì tệ đoan này đang diễn ra tại Việt Nam nhất là tại các tỉnh giáp với Trung Quốc. Sở dĩ có như vậy vì luật pháp Trung Quốc chỉ cho phép mỗi gia đình có một đứa con. Mà theo truyền thống của Tàu thì họ chỉ thích có con trai nối dòng, nên có câu: "Nhất nam thắng vạn nữ". Kết quả là 70 triệu đàn ông Tàu . . . không kiếm được vợ, nên tìm cách nhập đàn bà từ Việt Nam, Miến Ðiện, Thái Lan, . . . Có những tổ chức buôn lậu người nhập cảnh rồi đem bán, giá từ 70-300 đô một người phụ nữ. Các cô đơn sơ bị dụ dỗ đi kiếm việc đã rơi vào tay mafia. Khi bị mua về làm vợ sinh được một đứa con trai rồi thì bị bỏ rơi hay bị tố cáo nhập cảnh lậu và tống khứ về Việt Nam. Tháng 5/1995, cảnh sát tỉnh Quảng Ðông (Trung Quốc) đã giải cứu được 70 phụ nữ Việt Nam (Việt Báo Kinh Tế ngày 7/11/1995). Ðây là một tệ đoan xã hội khinh tởm. Nói rằng Giáo Hội không lên tiếng nói là oan. Chắc Bà còn nhớ năm 1995 có Ðại Hội Phụ Nữ Quốc Tế tại Bắc Kinh, trong số đại biểu có một bà đại diện Vatican là Giáo sư Mary Ann Glendon của Ðại Học Luật Khoa Harvard (Hoa Kỳ) và một nữ tu Việt Nam trong phái đoàn Vatican, đã mạnh mẽ bênh vực giới phụ nữ. Bên cạnh đó, hai chính khách khác là Bà Bhutto của nước Pakistan và Bà Hillary Clinton, phu nhân Tổng thống Hoa Kỳ, đã phát biểu mạnh mẽ như sau. Bà Bhutto nói: "Hàng triệu con gái bị giết khi mới sinh. Khi khám thai biết là con gái thì phá. Hiện nay ở 15 nước Á Châu, số đàn ông vượt trổi số đàn bà con gái." Bà Hillary Clinton tuyên bố: "Thật là việc vi phạm nhân quyền khi một đứa trẻ mới sinh bị trấn nước, bỏ đói, đè gối chết, vì nó là con gái. Nhân quyền và nữ quyền là một." (Thiết tưởng Bà Hillary cũng nên gây ảnh hưởng nơi chồng bà trong vụ ông ủng hộ phá thai bởi vì nhân quyền và nữ quyền là một ngay cả . . . ở nơi thai nhi nữa!) Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ngày 15/8/1988, dịp cuối Năm Thánh Mẫu đã công bố một Tông thư dài mang tên là "Ðịa vị người Phụ nữ" (Mulieris dignitatem). Ngài nói: "Trong giáo huấn của Chúa Giêsu cũng như trong lối cư xử của Ngài, không có gì phản ảnh việc khinh miệt người phụ nữ thường thấy vào thời đó. Trái lại, lời nói và hành vi của Ngài luôn biểu lộ sự kính trọng và đề cao người phụ nữ" (số 13).
Hỏi : Khi người ta đã thật sự yêu nhau, sao Giáo Hội lại cấm các cuộc hôn nhân khác tôn giáo? Nguyễn Văn Hoà
Tôn giáo đi vào cốt lõi của hai người yêu nhau. Càng đi sâu vào đời sống, càng thấy đặt ra những vấn đề tín ngưỡng về tôn giáo. Rồi đến con cái, việc giáo dục chúng cũng đụng chạm với tôn giáo. Vì thế, Giáo Hội có phận sự bảo vệ cuộc hôn nhân của người tín hữu, có trách nhiệm đặt ra những lề luật khi có những cuộc hôn nhân dị giáo hay khác tôn giáo. Giáo Hội không ngăn cấm nhưng đặt ra những điều kiện để bảo vệ cuộc hôn nhân được bền vững cho cả hai người phối ngẫu và cho con cái sinh ra. Dữ kiện đó thường được gọi là "phép chuẩn hôn nhân". Vậy có những trường hợp sau đây: 1. Nếu không có một phép chuẩn, hôn phối bị cấm chỉ giữa hai người đã rửa tội, một người trong Giáo Hội Công Giáo và người kia thuộc về một giáo hội không hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Lamã (GL 1124). Phép chuẩn ấy gọi là phép chuẩn cho hôn phối hỗn hợp (mariage mixte). 2. Về hôn phối khác tôn giáo, một bên là Công Giáo, một bên không Rửa tội, một phép chuẩn phải có với những điều kiện tương tự như trường hợp 1 trên đây. Ðó là: Bên Công Giáo cam kết tránh mất đức tin và hứa lo cho con cái được rửa tội và giáo dục Công Giáo, thông tri cho bên kia biết điều cam kết (GL 1086, 1125). Vậy hãy đặt Chúa vào gia đình mình sắp lập. Chúa sẽ chúc lành cho hai người và con cái mai sau.
Hỏi : Thưa Cha, đánh bạc có tội không? Chồng con hay đi Casino làm hại gia đình. Con khuyên mãi mà tính nào tật nấy. Ông nói: "Chỉ giải trí!" Bà X. xin dấu tên
Các nhà luân lý luôn tỏ ra rất dè dặt về việc đánh bạc. Có nhiều thứ đánh bạc, có thứ giải trí cho vui như đánh tổ tôm ít tiền đặt cọc, xổ số hoặc có thứ đánh lớn ở Casino... Có các nhà luân lý ngăn cấm tất cả, ít là vì sinh gương xấu và tập quán xấu cho mình và cho con cái. Màu cờ bạc là nguyên do tiêu gia bại sản. Nhưng cũng có những nhà luân lý cho phép chỉ đánh vừa phải và có ý tốt như giải trí, giúp việc từ thiện. Tại Bắc Mỹ chẳng hạn, nhiều nhà thờ có tổ chức Bingo, tại Pháp có nhiều hội từ thiện tổ chứùc việc bán vé số. Các nhà luân lý tỏ ra dè dặt vì các lý do sau đây: 1. Việc đánh bạc là việc tìm kiếm lợi tức mà chẳng phải làm gì cả. Nếu việc tìm lợi đó là việc của những người nghèo dựa vào đó thì có thể nguy hại vì mất thu nhập quân bình trong gia đình, do dựa trên một mối lợi không chắc chắn. 2. Ðối với người giàu có, cờ bạc là một tật xấu, vì tiền của là để giúp đỡ, chia sẻ với người khác chứ không phải để tự tiện tiêu xài hoang phí. 3. Cờ bạc là dịp để gian dối, đưa đến tội ác như đã có xảy ra. Ông xã của Bà hay đi Casino. Ði Casino thường xuyên là thường chơi lớn, nên hết sức khuyên ông ấy vì gia đình con cái, "sì tốp" lại trước khi xảy ra tai hoạ.
Hỏi : Thưa Cha, thủy tổ nhân loại phát xuất từ đâu? Có phải là ở Iraq hiện nay, có người nói thế... Huyền Vũ
Thủy tổ nhân loại phát xuất từ đâu? Ðây là một vấn đề gây tranh cãi cũng như gây sự tò mò của người ta. Thật ra không ai khẳng quyết được, nhưng có những chủ thuyết được các nhà chuyên môn chú trọng hơn. Ngày nay, người ta chú ý cách riêng đến thuyết thủy tổ loài người phát xuất từ Phi Châu, cách riêng từ vùng Ðông Phi. Cha De Chardin, một chuyên viên về cổ sinh vật học thuộc Dòng Tên, nêu ra ba lý do hướng dẫn: 1. Phi Châu là vùng sinh sống của giống nhân viên hay vượn giống người. 2. Nơi tìm được nhiều chất hoá thạch của loài Australopithèque dùng đồ bằng đá. 3. Ở Phi Châu có nhiều dấu vết của thời kỳ đá mài, mở đầu nền văn minh nhân loại. Nhiều nhà khoa học theo chủ thuyết tiến hoá, chủ thuyết mà Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói là đáng nghiên cứu. Vậy theo một số nhà chuyên môn, vấn đề lý lịch của thủy tổ nhân loại có thể như sau: Tên họ: Ađam. Nghề nghiệp: Thủy tổ. Năm sinh: 2.600.000 năm. Nơi sanh: Ðông Phi. Cha: Thiên Chúa. Tình trạng gia đình: có vợ. Tên vợ: Evà. Quốc tịch: Công dân thế giới. Chiều cao: như giống Homo sapiens. Dấu riêng: Quai hàm rất cứng. Trú ngụ: Êthiôpia. Ðó là một giả thuyết dựa trên sự tìm tòi của khoa Khảo cổ và Nhân chủng học. Chúng tôi ghi lại để cống hiến bạn đọc. Chúng tôi chỉ tin: Tôi tin kính Ðức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất . . . và thủy tổ nhân loại. Thủy tổ phát xuất từ Iraq ngày nay? Bạn lầm lẫn với thủy tổ dân Do Thái là Tổ phụ Abraham.Theo lệnh Thiên Chúa, Abraham lìa bỏ xứ sở thành Ur (Iraq hiện nay) đến Harran rồi xuống xứ Palestine (Khải nguyên 11:31ff).
Hỏi : Có nên tin những điều ghi lại trong những thị kiến của các nhà chiêm nghiệm thời danh trong Giáo Hội như Bà Ðáng kính Maria Agrada, Bà Catarina Emmerich không? Một Ðệ tử MTG Xưa nay, có những vị được mạc khải riêng về những việc nhiệm lạ Chúa Giêsu, Ðức Mẹ và các điều khác. Chúng ta có buộc phải tin không? Nguyên tắc chung là chúng ta không buộc phải tin, như không buộc phải tin vào các "sách ngụy thư" viết về cuộc đời Chúa Giêsu lúc thiếu thời, cuộc đời Ðức Mẹ... nhiều khi được tạo lên để đáp ứng tính hiếu kỳ của độc giả đạo đức muốn biết nhưng bốn Phúc Âm Mátcô, Mátthêu, Luca và Gioan lại không nói đến, chẳng hạn như Phúc âm Giacôbê (viết vào thế kỷ 2), Phúc âm Phêrô (hậu bán thế kỷ 2). Gần đây, có những nhà sống chiêm nghiệm lỗi lạc đã để lại những thị kiến của mình, như Bà Maria Agreda về cuộc đời Ðức Mẹ. Bà sống ở Agreda, Tây Ban Nha (1602-1655) và để lại cuốn "Thần Ðô Huyền Nhiệm Thiên Chúa" (The Mystical City of God) đã được dịch ra Việt ngữ 1994. Gần đây nhất có Bà Maria Valtorta (Ý) để lại 17 tập về Ðức Mẹ. Năm 1960 và 1966, Thánh Bộ Ðức Tin Toà Thánh ra thông cáo khuyên không nên đọc. Vậy những mạc khải tư riêng nói trên không buộc phải tin. Nếu tò mò đọc cho biết thì không sao. Sau đây, mời bạn đọc thị kiến của Chị Catarina Emmerich (1774-1824) cách đây 150 năm về . . . mặt trăng. Chị diễn tả: "Mặt trăng lạnh và đầy sỏi đá, có những núi cao, có những bộng đá và những hố sâu... Nước ở mặt trăng luôn bị hút lên và rơi xuống. Mặt Chị Hằng màu vàng và đầy sỏi đá. Trên mặt trăng, ánh sáng in như chết, màu trắng pha xanh... Càng xa mặt trăng càng thêm ánh sáng. Ở đây mọi sự như bị biến thành đá, tương tợ như những cây san hô... (III Catarina Emmerich, 16-79) Home | Nguyet San | Hop Thu Tim Hieu |