|
GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BƯỚC VÀO NĂM 2000
Lm. Hồng Phúc, C.Ss.R.
I. GIÁO HỘI TRÊN CON ÐƯỜNG ÐÃ ÐI QUA Bài 4: Mùa Xuân Của Công Ðồng Vatican II (1962-1965)
Với Ðức Gioan XXIII, Giáo Hội bước vào một mùa Xuân mới. Ngày 28/10/1958, Ðức Angelo Roncalli, nguyên Sứ thần Toà Thánh ở Paris và là Giáo chủ Venise (Ý) được bầu Giáo hoàng lúc đã 77 tuổi. Một cụ già có vẻ cục mịch, "thiếu văn hoá" theo lối của Hồng y Lercaro ở Bologue (sau này đã tự hối), một vị mà người ta cho là vị giáo hoàng "lót đường" cho một vị khác sắp đến. Ai ngờ vị "lót đường" ấy sẽ trở nên một vị chỉ đường đưa đến một mùa Xuân mới. Quyết định đầu tiên của ngài gây ngạc nhiên cho hết mọi người! Ngày 25/1/ 1959, trong Thánh đường kính Thánh Phaolô-Ngoại-Thành. Ðức Thánh Cha Gioan XXIII quyết định triệu tập một Công đồng mới hay đúng hơn, tiếp tục Công đồng Vatican I trước bị gián đoạn năm 1870. Công đồng Vatican II được Ðức Gioan XXIII khai mạc ngày 11/10/1962, với sự tham dự của gần 2300 giám mục trên thế giới và được Ðức Phaolô VI bế mạc ngày 8/12/1965. Vatican II là một biến cố quan trọng của Giáo Hội hiện đại để duyệt qua tất cả mọi vấn đề về tư tưởng, xã hội, chính trị, văn hoá của thời đại và đem đối chiếu với những đòi hỏi của Phúc Âm. Ðức Gioan XXIII muốn là một cuộc đối thoại, một cuộc đổi mới (Aggiornamento) của Giáo Hội, nhưng ngài đã qua đời sau kỳ họp đầu tiên ngày 3/6/1963, để lại cho Ðức Phaolô VI kế vị nhiệm vụ bế mạc Công đồng và bắt đầu thực thi gia sản để lại gồm 4 Hiến chế Tín lý, 7 Sắc lệnh, 3 Tuyên ngôn do các nghị phụ bỏ phiếu công nhận và hai sứ điệp khai mạc và bế mạc gửi toàn thể nhân loại. Ðây là những cải cách chính yếu của Giáo hội do các nghị phụ quyết định sau 4 khóa họp, bao gồm mọi lãnh vực đời sống của người Kitô hữu. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy sau mỗi Công đồng hay xảy ra những nhóm chống đối phản lại những quyết định ban hành. Sau Công đồng Vatican I (1870) phát sinh nhóm gọi là "Công giáo thủ cựu" Vieux Catholiques chống lại quyền vô ngộ. Công đồng Vatican II quậy lên một làn sóng chống đối tương tợ. Một thiểu số bảo thủ, trong số đó có cả Hồng Y Ottaviani, nhất là có Ðức Cha Marcel Lefèbre, nguyên Giám mục Dakar (Phi Châu) và Giám mục Tulle (Pháp), chống lại mọi cải cách. Trong các phiên họp Ðức Cha hay lên tiếng can thiệp trước mặt Ðức Phaolô VI, một người rất ưu tư lo sợ có sự rạn nứt trong Giáo Hội. Nhóm bảo thủ chống lại các quyết định của Công đồng, làm phương hại đến việc thực thi mãi cho đến những ngày gần đây. Họ chống đối "thánh lễ mới" bằng ngôn ngữ địa phương, cuốn Giáo lý Công Giáo, việc nhìn nhận sự tự do tín ngưỡng, việc đối thoại đại kết, lấy lý do rằng những cải cách của Công đồng Vatican II sẽ làm suy vi Ðạo Thánh. Ðứng đầu nhóm chống đối là Ðức Cha Lefèbre. Sau nhiều lần "chiêu hồi" do chính Ðức Gioan Phaolô II chủ xướng, Ðức Cha bị vạ tuyệt thông theo giáo luật, khi người tôn phong 4 giám mục ngoài sự hiệp thông. Ðức Cha qua đời năm 1991 tại Ecône (Thụy sĩ) nơi có trụ sở Huynh đệ Thánh Piô X do ngài lập nên. Mặc dầu những xáo trộn xảy ra, Công đồng Vatican II được toàn thể Giáo hội coi là "một mùa Xuân mới". Mặc dầu có một số nhỏ cấp tiến muốn đặt lại mọi vấn đề, đa số giáo dân nhất là các chiến sĩ dấn thân đã phấn khởi đón nhận và thực thi các cải cách của Công đồng cho phù hợp với một Giáo Hội của thời đại văn minh. Sau đây là những cải cách của Công đồng Vatican II. Những cải cách được chấp nhận năm 1965 sau 4 khoá họp, bao gồm mọi lãnh vực của đời sống Giáo Hội, được ghi trong 16 văn kiện chia thành những Hiến chế, Sắc lệnh và Tuyên ngôn. Trong Hiến chế về Phụng vụ (Sacrosanctum Concilium), Công đồng tái lập thói quen dùng ngôn ngữ địa phương thay tiếng Latinh và cổ võ sự tham dự tích cực của tín hữu trong việc Phụng vụ; linh mục cử hành thánh lễ quay mặt về phía giáo dân tham dự. Hiến chế Tín lý về Giáo Hội (Lumen Gentium) định nghĩa Giáo Hội như "một tập đoàn dân Chúa" và quyền bính được coi là việc phục vụ. Việc hợp tác được gắn bó hơn giữa các giám mục, trong các hội đồng giám mục, giữa các giám mục và đức giáo hoàng, điều mà danh từ tập thể tính (Collegialité) ám chỉ. Giáo dân cũng được mời gọi để tham dự tích cực hơn vào đời sống Giáo Hội. Hiến chế Tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa (Dei Verbum) đề cao hai nguồn gốc Mạc khải là Thánh Kinh và Thánh Truyền trong Giáo hội. Thánh Kinh phải được học hỏi, đào sâu hơn và được thuyết giảng nhiều hơn; điều mà anh em Tin lành đòi hỏi bấy lâu nay thì anh em Công giáo phải học hỏi Thánh Kinh nhiều hơn, siêng năng tham dự các lớp Kinh Thánh. Hiến chế Mục vụ về Giáo Hội trong Thế giới Ngày nay (Gaudium et Spes) đổi hẳn nhãn quan về con người trong vũ trụ. Trước đây trong các cuộc tranh chấp với thuyết tân-thời-hóa, Giáo Hội như có thái độ phòng vệ. Công đồng tất nhiên không hoài nghi về sự tiến triển của khoa học và cơ khí. Công đồng tuyên bố Chúa Kitô đến trần gian để cứu nhân loại, chứ không kết án nhân loại. Như Ðức Gioan XXIII mong ước, Công đồng Vatican II là Công đồng đầu tiên trong lịch sử đã không phán quyết một kết án nào. Bản Tuyên ngôn về Tự do Tôn giáo (Dignitatis Mumanae) là một khúc quanh căn bản của Công đồng. Từ trước, Giáo Hội vẫn chống lại nguyên lý tự do tôn giáo và dựa trên quyền "bảo về sự thật" để bênh vực những hành động cấm đoán lịch sử như chúng ta thấy trong các vụ Galilê, Savonarola v.v thì nay Công đồng quyên bố tôn trọng lương tâm của mỗi người. Công đồng kêu gọi các quốc gia bảo vệ quyền tự do tôn giáo, đang bị chà đạp trong các nước cộng sản. Bản Tuyên ngôn này bị nhóm thiểu số bảo thủ chống đối kịch liệt, vì sự mới mẻ và tầm quan trọng của nó vì như có vẻ đi ngược lại với câu châm ngôn: "Ngoài Giáo Hội không có sự cứu rỗi." Sắc lệnh về Ðại-kết (Unitatis Redintegratio) bàn về việc đối thoại với các Giáo hội Kitô giáo không hiệp thông. Có một sự hiểu biết và xích lại gần nhau hơn. Trong Công đồng cũng có sự tham dự của "các anh em phân cách" với tư cách quan sát viên (Chính thống, Anh giáo, Tin lành . . .) Tuyên ngôn về Liên lạc giữa Giáo Hội với các Tôn giáo ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate). Lần đầu tiên, Giáo Hội nhìn nhận "những yếu tố chân lý" trong các đạo giáo khác. Cách riêng, giữa Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo có một liên hệ thiêng liêng. Công đồng lên án mọi ý thức bài Do Thái coi họ là dân tộc đã giết Chúa. Công đồng là điểm tựa cho một giai đoạn mới, cho một mùa Xuân mới mà Ðức Gioan Phaolô II là ngôi sao sáng chói. Ngài dẫn Giáo Hội đi vào thiên niên kỷ thứ ba của lịch sử qua những lần công du, những minh định lập trường làm nổi bật lên vai trò của Giáo Hội Công Giáo trong thế gới ngày nay.
Bài 5: Một Triều Ðại Mới Với Ðức Gioan Phaolô II
1978: một năm ba Giáo hoàng. Trong Mật nghị bầu người kế vị Ðức Phaolô VI qua đời ngày 6 tháng 8 năm 1978, các Hồng y nghị phụ muốn chọn một người vừa là một chủ chiên có uy tín, vừa là một người thực thi tập thể tính của Công đồng. Ngày 26/8/1978, Hồng y Albino Luciano, Giáo chủ Venise (Ý), người được coi là cương quyết trong các vấn đề luân lý và kỷ luật, được bầu và lấy danh hiệu là Gioan Phaolô I, ngụ ý theo đuổi đường hướng của hai vị tiền nhiệm. Chẳng ngờ vừa mới khởi đầu nhiệm vụ, ngài chết bất ưng sau 33 ngày lên ngôi Giáo hoàng. Việc chọn đấng kế vị trở nên thật khó khăn. Ðức Gioan Phaolô I đột ngột ra đi, đặt ra nhiều vấn đề quan trọng: không những người kế vị Thánh Phêrô phải là người có kiến thức sâu rộng, dễ dàng tiếp xúc mà còn phải có một sức khoẻ tráng kiện. Ngày 16/10/1978, trong sự bất ngờ của mọi người, Hồng y Karol Wojtyla, Giáo chủ Cracovie (Balan) được tuyển chọn. Ðây là vị Giáo hoàng Balan đầu tiên trong lịch sử được chú ý nhiều trong sự góp phần tích cực trong Công đồng. Ngài chọn danh hiệu Gioan Phaolô II với những lý do như vị tiền nhiệm. Karol Wojtyla, sinh ngày 18/5/1920 tại Wadowice, gần Cracovie ở Balan. Thụ phong linh mục năm 1946; thụ phong Giám mục năm 1958 và sau là Tổng giám mục Tổng Giáo phận Cracovie. Năm 1967, ngài được Ðức Phaolô VI vinh thăng Hồng y giáo chủ và ngày 16/10/1978 được bầu Giáo hoàng. Vị Giáo hoàng đầy tiên gốc Slavic trong lịch sử và cũng là vị giáo hoàng đầu tiên không phải là người Ý sau 4 thế kỷ. Vị giáo hoàng sau cùng không phải người Ý là Ðức Adrien VI, người Hoà lan năm 1522. Trong bài diễn văn đầu tiên ngày 22/10/1978, ra mắt công chúng tại tiền đường Ðền Thờ Thánh Phêrô, ngài đã đánh động quần chúng bằng câu trích ở Phúc Âm Thánh Gioan: "Ðừng sợ. Hãy mở rộng các cửa cho Thiên Chúa." Ðây là bước đầu. Sau này, trong cuốn sách Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, ngài viết: "Hồi ấy, tôi không biết những lời ấy sẽ đưa tôi và Giáo Hội đi về đâu. Sứ điệp tung ra là bởi Chúa Thánh Thần, Ðấng an ủi, và Chúa Giêsu đã hứa với các tông đồ, hơn là bởi con người đã nói ra. Và, với thời gian, tôi lại có nhiều dịp để nhắc lại." Khai mạc giáo vụ, Ðức Gioan Phaolô II long trọng nhắc lại một cách khẩn thiết, cho Giáo hội hoàn vũ cá tính của mình giữa một thế giới đầy vấn vương xáo trộn. Trong Thông điệp đầu tiên năm 1979 mang tựa đề "Ðấng Cứu Chuộc nhân loại" (Redemptor hominis) ngài kêu gọi một cuộc giao tranh để cứu vãn con người đang bị tổn thương trong phẩm giá. Ðề tài mà ngài mạnh mẽ nhắc lại trong nhiều lần sau này, đó là chống chiến tranh, các ý thức hệ chuyên chế, các chế độ độc tài, nhất là những xúc phạm đến sự sống con người trong việc phá thai. Năm 1995, trong thông điệp thứ 11 mang tựa đề "Phúc âm sự sống" (Evangelium vitae), ngài gọi những điều đó là phúc âm sự chết. Ðức Gioan Phaolô II, trong trách nhiệm chủ chăn hoàn vũ, đã mở màn cho những chuyến công du thế giới, vào thời kỳ mà các giáo hoàng ít khi rời Lamã. Ðức Phaolô VI là người đầu tiên bỏ nước Ý đi viếng Thánh Ðịa thì, trong 18 năm trị vì, Ðức Gioan Phaolô II đã đi vòng quanh thế giới trên 59 lần, 9 lần thăm Châu Mỹ Latinh và Trung Mỹ, mới qui tụ gần một nửa số giáo dân, 4 lần Bắc Mỹ, 4 lần Á Châu, 6 lần Phi Châu và 18 lần Âu Châu ngoài nước Ý. Ðến đâu, ngài "củng cố đức tin của anh em," lôi kéo rất nhiều người, khơi động sự chú ý của quần chúng đến sự hữu hình và vai trò của Giáo Hội. Ngài ra đi trong tinh thần truyền giáo của Thánh Phaolô là người đi vòng quanh đế quốc Lamã 4 lần. Ðến năm 1986, ngài xuất hành khỏi nước Ý 32 lần. (Theo Voyages 1023). Trước sự đe dọa lớn lao trần tục hoá và cơ khí hoá con người. Ngài tuyên bố tại Diễn đàn Cơ quan Văn hoá Quốc tế UNESCO "phải đặt ưu tiên luân lý trên kỹ thuật, con người trên vật chất và nhân bản trên chất thể." Nhất là các cuộc viếng thăm Balan, quê hương của ngài, đánh dấu một khúc quanh, gây một chấn động lớn làm lung lay cả khối Cộng sản Ðông Âu. Trong quê hương của ngài, ngài mạnh mẽ đỏi hỏi quyền biết sự thật trước sự gian dối, biết tôn trọng luân lý, sự tự do lương tâm, tự do tín ngưỡng chống lại một chế độ hà khắc. Cuộc viếng thăm Vatican của Tổng Bí thư cuối cùng của Ðảng Cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev ngày 1/12/1989 là một dữ kiện lịch sử báo hiệu sự gì phải xảy đến đã đến. Năm 1989, bức tường Berlin sụp đổ. Và ngày lễ Giáng sinh 25/12/1991, lúc 19 giờ 25 phút, cờ đỏ búa liềm bị hạ và cờ Liên hiệp Nga được kéo lên trên Ðiện Cẩm Linh. Gorbachev, sau một bài tuyên bố ngắn, đã ký văn kiện từ chức, trao quyền lại cho Yeltsine. Không một vị giáo hoàng nào trước đây đã có một chiều kích hoạt động lớn lao như vậy, Ðức Gioan Phaolô II đã tiếp bao nhiêu quốc trưởng và giáo trưởng, đọc bao nhiêu bài diễn văn, giáo huấn. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên đã tận dụng các phương tiện truyền thông nhất là đã chịu trả lời cho các cuộc phỏng vấn in thành sách bán chạy nhất. Trong các cuộc công du, ngài luôn có những cuộc đối thoại với các tôn giáo khác. Năm 1979, tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), ngài viếng thăm Thượng phụ Constantinople, nhà lãnh đạo thiêng liêng của Chính Thống giáo, năm 1982 ngài qua Canterbury (Anh quốc) thăm vị giáo chủ Anh giáo. Việc liên lạc với các tôn giáo ngoài công giáo không phải luôn luôn quang đãng. Năm 1992, Giáo hội Anh quốc quyết định cho người phụ nữ làm linh mục, 36 bà được phong chức cùng một lúc. Ðối với người Công giáo, đây là một việc đi ngược lại với tông truyền, có từ Chúa Kitô: chỉ chọn các môn đệ trong hàng nam giới. Và sau khi khối Cộng sản Ðông Âu sụp đổ mang lại sự tự do cho tôn giáo thì Chính Thống giáo lại tỏ ra nghi kỵ bực bội vì sự phục hưng của hàng giáo phẩm Công giáo, sự lớn mạnh của các Dòng tu, nhất là sự hưng thịnh của các Giáo hội gọi là Uniates, hiệp thông với Giáo Hội Lamã nhưng theo lễ điển Hy lạp như Giáo hội Ukraine, Roumanie mà trước đây dưới thời Staline bị quốc hữu hoá. Toà Thượng phụ Chính thống ở Moscou lại trách Vatican "dành dân." Ðức Gioan Phaolô II tỏ ra hiểu biết và kính trọng các giá trị của các tôn giáo khác. Ở Maroc và Tunisie, người kêu gọi Hồi giáo có một thái độ hoà hoãn. Ngày 13/4/1986, lần đầu tiên ngài đến thăm Hội đường Do thái ở Lamã và gọi người Do thái là "người anh cả." Ngày 27/10/1986, tại Asissi (Ý), ngài tổ chức buổi cầu nguyện cho hoà bình với sự tham dự của hơn 200 đại diện các tôn giáo trên thế giới. "Hoà bình thế giới," ngài nói, "tuỳ thuộc hoà bình giữa các đạo giới." Và, hơn tất cả, ngài chủ trương chống lại sự nghèo đói, sự bất công, sự kỳ thị sắc tộc và mọi hình thức áp chế. Nhưng trước tình trạng phân chia các nước giầu và nghèo, thời hậu Cộng sản không đáp ứng lại như mong muốn, ngài tỏ ra rất lo âu cho thế giới. Các thông điệp gần đây như Centesimus annus (1991) về công bằng xã hội, Splendor veritatis (1993) về luân lý và đạo đức, và nhất là Thông điệp "Phúc âm sự sống" (Evangelium vitae) (1995) lên án phá thai và trợ tử cũng như các luật pháp cho phép các tội ác này, là những bản cáo trạng gắt gao về sự tự do vô kỷ luật, về những hình thức cụ thể phá hoại sự sống như việc phá thai và giúp an tử. Một vị Giáo hoàng dám ăn dám nói nhiều lần về luân lý giới tính, về tình nghĩa vợ chồng khiến cho dư luận khó chịu. Một vị Giáo hoàng không sợ đi ngược lại trào lưu dư luận xung quanh, khi thẳng thắn lên án sự bội tín, việc chung sống ngoài hôn nhân, việc thụ thai nhân tạo. Ðể chống lại bệnh SIDA (AIDS), người kêu gọi việc chay tịnh và việc thủy chung vợ chồng. Ngài dám nói sự thật mà sự thật thì hay mất lòng, vì thế có người cho rằng ngài mất đi danh tiếng và sự phấn khởi buổi đầu. Dầu sao, Ðức Gioan Phaolô vẫn là một vị Giáo hoàng "không ai ngờ trước."
Bài 6: Giáo Hội Công Giáo Và "Anh Em Phân Ly"
Trước khi nói đến sự khác biệt trong các Giáo hội phân ly. Cần nhắc lại điều Công đồng Vatican II khẳng định về Giáo Hội chân chính có nhiệm vụ giải thích lời Chúa qua Thánh Kinh và rao giảng cho mọi người. Giáo Hội có bốn đặc tính như sau đây: Giáo Hội duy nhất. Duy nhất giữa các phần tử với Chúa Kitô, với Thiên Chúa là Cha Ngài. Nhưng danh từ ấy cũng biểu lộ sự duy nhất thế giới trong Thánh Thể Ðức Kitô mà Giáo Hội là biểu hiện mầu nhiệm. Cho dầu có những chia rẽ trầm trọng giữa Kitô hữu, sự kiện ấy không thể phương hại đến sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài, không làm giảm thiểu ý muốn hết hợp nhân loại. Giáo Hội là biểu tượng sự hiệp nhất cho thế giới đầy chia rẽ. Sự chia rẽ trong Giáo Hội phải được coi như là một tiếng gọi khẩn cấp trở về sự hiệp nhất. Giáo Hội thánh thiện. Nếu Thiên Chúa là Ðấng Thánh, thì Giáo Hội và các phần tử có khả năng thánh hoá, nhờ các Bí tích giúp họ giao hoà với Thiên Chúa, kết hợp với Ngài để thánh hoá chính mình và kẻ khác Giáo Hội công giáo. Danh từ ấy từ ban đầu được dùng để chỉ Giáo hội hoàn vũ, khác với các Giáo hội địa phương. Có nghĩa là Giáo hội cho hết mọi người, như một ân huệ Chúa ban cho tất cả, không phân biệt tuổi tác, sắc tộc, địa phương, tiếng nói và văn hoá. Ngày nay, danh từ ám chỉ người tín hữu hiệp thông với Lamã, thuộc về một đoàn chiên dưới quyền một Chủ chiên. Sau cùng, Giáo Hội tông truyền. Ðức tin của người Công giáo là đức tin của các tông đồ, mà Ðức Giáo hoàng và các đấng kế vị là những người thừa kế, có nhiệm vụ gìn giữ trọn vẹn kho tàng, cũng như thánh truyền qua mọi thế hệ. Giáo Hội Công giáo thường gọi các tín hữu của các Giáo hội cùng tin vào Chúa Kitô nhưng không thông hiệp với Lamã là những người "anh em phân ly" Frères séparés. Qua dòng lịch sử như chúng ta thấy đã có hai cuộc phân ly lớn; đó là cuộc chia ly vào thế kỷ XI, hình thành Giáo hội Chính thống (Orthodoxie) và cuộc chia ly vào thế kỷ XVI, hình thành các Giáo hội Tin lành (Églises de la Réforme). Giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chánh thống có một mối tương quan. Sự khác biệt chỉ qui về quan niệm cai quản và sự hiệp nhất của Giáo hội. Giáo hội Chính thống cấu thành bởi nhiều Giáo hội địa phương độc lập và tự chủ (Autocéphale). Ðó là Giáo hội Nga điều khiển do Toà Thượng phụ Moscou với khoảng 60 triệu tín hữu, các Giáo hội Hy lạp thuộc Toà Thượng phụ Athène, các Giáo hội Serbe thuộc Toà Thượng phụ Belgrade, các Giáo hội Roumanie thuộc Toà Thượng phụ Bucarest và các Giáo hội Trung Ðông thuộc Toà Thượng phụ Giêrusalem. Sự hiệp nhất các Giáo hội tự trị ấy dựa trên "sự thông hiệp" của các giám mục, với chức vụ và quyền hành ngang nhau, trong cùng một đức tin, khác biệt với Giáo Hội Công giáo vì Công giáo có một thể chế trung ương tập trung nơi vị Giám mục Lamã là Ðức Giáo hoàng và Toà Thánh quản trị. Trong các Giáo hội Chính thống, vị Thượng phụ Constantinophe ở Turkie (từ năm 1991 là Ðức Bartholomê I) chỉ được một quyền tối thượng danh dự trên các vị thượng phụ khác. Người không có quyền can thiệp vào các Giáo hội khác. Quyền tối cao duy nhất là Công đồng hoàn vũ của tất cả các giám mục họp lại. Mỗi Giáo hội tự chọn các giám mục theo nguyên tắc thừa kế các tông đồ. Về các Bí tích nhất là Thánh chức và Thánh Thể, hai Giáo hội Công giáo và Chính thống rất gần nhau. Ngày nay, sự khác biệt lớn lao hơn cả là vấn đề quyền tối thượng của Ðức Giáo hoàng. Ðối với quan niệm Chính thống, Ðức Giáo hoàng chỉ là vị Thượng phụ Lamã và Tây phương, như vào các thế kỷ đầu của Giáo Hội. Ðối với người Công giáo, Ðức Giáo hoàng là thủ lãnh của Giáo hội hoàn cầu. Ðối với Chính thống, mọi giám mục đều là kẻ kế vị các Tông đồ và có quyền như nhau. Ðối với Công giáo, Tông đồ Phêrô và các đấng kế vị làm Giám mục Lamã, được Chúa Giêsu trao cho nhiệm vụ bảo đảm sự hiệp nhất của toàn thể Giáo hội và sự trung thành với giáo lý các ngài để lại, như Phúc âm dạy. Các giám mục hiệp thông với ngài để điều khiển Giáo Hội trong tinh thần "tập đoàn." Các Giáo hội "Cải cách" hay Tin lành chia thành ba nhóm chính yếu: Giáo hội Luther, Giáo hội Calvin và Giáo hội Anh quốc, nhưng với thời gian lại phân nhánh thành rất nhiều danh xưng khác. Giáo hội Luther. Người khởi xướng lên phong trào thệ phản hay cải cách là Martin Luther (1483-1546). Vị thầy Dòng Augustinô người Ðức nầy đã lìa bỏ Giáo hội Lamã vì vấn đề các ân xá năm 1517, khi ông dán trên cửa Nhà thờ Wittenberg 95 tiểu đề chống lại Lamã. Giáo thuyết của ông được Melanchton viết ra năm 1530, khi Luther còn sống, trong bản tuyên ngôn Augsburg được coi là "giáo lý căn bản." Giáo hội Luther chỉ nhìn nhận một đức tin nơi Thiên Chúa, một Thánh Kinh và quyền tư tế cho mọi người đã chịu phép Rửa tội. Theo Luther, ơn cứu rỗi chỉ được ban nhờ đức tin nơi Thiên Chúa, do một sự tiền định nhờ ơn Chúa, chứ không phải do công nghiệp cá nhân của người tín hữu hay do ân xá. Thánh Kinh là quyền bính tối thượng do Thiên Chúa soi sáng cho mỗi người để tự giải thích, không do truyền thống của Giáo hội và hàng giáo sĩ giáo phẩm nào cả. Chỉ có một quyền tư tế chung cho mọi người đã được Rửa tội, không có hàng tư tế do thánh chức như phía Công giáo và Chánh thống. Hai Bí tích được nhìn nhận là phép Rửa tội và Thánh Thể như biểu tượng. Các mục sư và cả giám mục được chọn, không phải do Bí tích, mà chỉ là một tác vụ để hoạt động trong cộng đoàn, chủ sự nghi lễ. Liên minh Giáo phái Luther có khoảng 60 triệu tín đồ. Giáo hội Calvin do một người Pháp, ông Jean Calvin (1509-1564) thành lập sau khi đã ngã theo Cải cách năm 1533, và tị nạn ở Genève. Giáo thuyết rất gần với Luther, đặt trọng tâm vào Kinh Thánh, từ chối mọi phương thức của Giáo hội (giáo hoàng, giáo sĩ, các thánh, v.v ). Các giám mục được Luther nhìn nhận thì Calvin thay thế bằng tổ chức trong đó các vị mục sư và giáo dân được bầu lên cầm quyền. Các đạo hữu theo Calvin được gọi là Presbytérien hay Giáo hội Trưởng lão, có mặt nhiều nơi nhất là ở Pháp, Hoà lan, Hoa kỳ Liên minh Calvin có khoảng 45 triệu. Anh giáo khởi xuất từ cuộc tranh chấp giữa vua Henri VIII (1509-1547) của Anh và Giáo hoàng Clement VII. Ðức Giáo hoàng từ chối không cho vua Anh quốc được ly dị. Nhà vua đưa Anh quốc ra khỏi Giáo hội. Cuộc ly khai được công bố do một bản văn gọi là Bản văn Quyền Tối thượng (Act of Supremacy) năm 1534 và đồng thời nhà vua tự phong là giáo chủ của cả nước. Anh giáo muốn vừa là Công giáo vừa là Tin lành. Do ảnh hưởng Tin lành, Anh giáo chỉ nhìn nhận quyền tối thượng của Thánh Kinh, không nhìn nhận quyền của Giáo hoàng và chỉ có hai Bí tích là Rửa Tội và Thánh Thể. Do ảnh hưởng Công Giáo, Anh giáo giữ lại phần Phụng vụ và một vài hình thức đời sống tu trì, nhất là tổ chức giám mục và linh mục, nhưng lại có gia đình. Và vừa rồi lại cho phụ nữ chịu thánh chức. Hố chia rẽ vốn đã sâu lại khơi sâu hơn giữa họ và Giáo Hội Công giáo và Chính thống giáo. Năm 1896, Ðức Lêô XIII tuyên bố các cuộc truyền chức Anh giáo không thành sự vì thiếu sự liên hệ nối kết với các tông đồ và vì không nhìn nhận sự biểu hiện thật sự của Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể mà họ cho đó chỉ là một nghi lễ tưởng niệm. Giáo hội Anh quốc gồm Giáo hội mẹ và các "tỉnh hội" trong các nước khác. Vị giáo chủ là nhà vua (hiện nay là nữ hoàng Elisabeth II) và về mặt tôn giáo là vị Tổng giám mục Canterbury (hiện nay là Giáo chủ Georges Carey). Số tín hữu có khoảng 70 triệu trên thế giới. Giáo hội Tin lành, ngoài ba chi nhánh lớn vừa kể, còn nẩy nở ra nhiều đại gia đình khác như ba hệ phái sau đây khuôn rập theo ba Giáo hội chính nói trên phần nào. Hệ phái rửa tội lại Anabaptiste chủ trương phép rửa cho trẻ nhỏ không thành vì chưa hiểu biết đức tin, nên phải rửa tội lại khi trưởng thành. Gồm có nhóm Baptist Church với 40 triệu ở Hoa kỳ, nhóm "anh em Moravie" của Jean Hus ở Bohêm và nhóm Mennonite do ông Mennon Simons (1345-1561) người Hoà lan sáng lập. Hệ phái Methodiste, vào thế kỷ XVIII, John Wesley lập một phái sống nghiệm nhặt với giáo lý nghiêm khắc. Chỉ nhận Kinh Tin Kính của các tông đồ, chú trọng đến cảm nghiệm thiêng liêng theo cách Wesley. Số đạo hữu khoảng 40 triệu. Hệ phái Quakers hay phái "những người run" do sự tích họ đã run rẩy trong cuộc hội họp đầu tiên, được Georges Fox (1624-1691) tổ chức, chú trọng đến những cảm nghiệm chủ quan thần bí, không có phụng tự, không có giáo phẩm. Ðại gia đình Tin lành hiện nay trên thế giới có khoảng 250 triệu. Nhà sử học Daniel-Rops trong cuốn "Ces Chrétiens nos frères" kết luận: "Chắc phải cần đến ánh sáng của một ngày Hiện xuống mới để san bằng những khó khăn xem ra không thể vượt qua, mới có thể giải quyết trong ánh sáng chân lý là Tình yêu" (Ces Chrétiens Nos Frères trang 105). Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |