GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BƯỚC VÀO NĂM 2000

(Kỳ 3)

Hồng Phúc, C.Ss.R.

I. GIÁO HỘI TRÊN CON ÐƯỜNG ÐÃ ÐI QUA

Bài 7: Quyền Bính Trong Giáo Hội Công Giáo

Giáo Hội Công Giáo có một quá khứ 2000 năm lịch sử với những thăng trầm của một tổ chức do Thiên Chúa lập nên nhưng được đặt vào trong bàn tay của con người. Dựa trên giáo lý Phúc Âm và Tông Truyền, từ các giáo phụ đầu tiên cho đến các thông điệp ngày nay, toà nhà Giáo Hội vẫn đứng vững giữa những giòng tư tưởng khác biệt, chống báng và có một sức thu hút mãnh liệt trên hơn một tỷ người.

Có người chỉ trích sự tập trung quyền bính trong Giáo Hội. Nhưng dưới tầm mắt lịch sử, việc tập trung đó chính là sức mạnh của Giáo Hội giữa một thế giới đầy phân tán.

Qua điều mà người ta quen gọi là Quyền Giáo huấn (Magisterium) phát xuất từ trung ương đến các địa phương theo một cốt lõi dựa trên Phúc Âm, qua bộ Giáo luật được cập nhật hoá năm 1983 và qua những quyết định của Công đồng Vatican II (1963-1965) được phổ biến và nghiêm chỉnh thi hành, Giáo Hội càng ngày càng nắm vững vai trò hướng dẫn thiêng liêng và bảo vệ luân lý cũng những giá trị căn bản của con người.

Giáo Hội có một trung tâm quyết định là Lamã và những chi nhánh phối hợp ở địa phương trong các giáo phận, họ đạo, dòng tu, phong trào, hình thành một chính sách quyền bính có một không hai trên thế giới: Một chế định của Thiên Chúa trao cho loài người điều hành.

Câu hỏi đặt ra: Ai điều khiển Giáo Hội?

Lịch sử hiện tại cũng như các hoạt động sáng chói của Ðức Giáo hoàng đương kim cho biết: Quyền bính Giáo Hội phát xuất từ Vatican. Việc tập trung được thực hiện cách riêng từ thế kỷ XVI. Các Công đồng Triđentinô (1545-1563) và Vatican I (1870) tăng trưởng quyền lực của ngôi Giáo hoàng trước sự phá hoại của Phong trào Cải cách và các nhà cách mạng khác. Công đồng Vatican II (1963-1965) đặt sự quân bình trong việc thực thi quyền bính giữa Ðức Giáo hoàng và các Giám mục bằng chế độ tập thể tính (Collegialitéù) nghĩa là các Giám mục cùng chia sẻ với Ðức Giáo hoàng trong việc cai quản Giáo Hội.

Vậy việc cai quản trong Giáo Hội không thể đem so sánh với các chế độ chính trị như chế độ quân chủ và chế độ dân chủ ở ngoài đời. Nhưng "Giáo Hội là một tập đoàn dân Chúa" do các Giám mục, những vị bảo vệ đức tin và sự hiệp nhất, trông coi mà đứng đầu là Giám mục thành Lamã, nơi Phêrô vị thủ lãnh các tông đồ và các giám mục đã tuẫn tiết vì đạo. Vị Giáo hoàng đương kim Gioan Phaolô II là đấng kế vị thứ 264.

Việc bổ nhiệm Ðức Gioan Phaolô II lên ngôi giáo hoàng ngày 16/10/1978 là một biến cố lịch sử. Gốc Balan, ngài là vị Giáo hoàng không phải người Ý từ 455 năm nay. Là một con người có biệt ân, cởi mở, nhận lãnh trách nhiệm như một thừa sai của đức tin và một người đứng đầu sóng gió, Ðức Gioan Phaolô II đã mở ra một trang sử mới cho ngôi giáo hoàng.

Giáo hoàng có 3 nhiệm vụ: Là Giám mục Lamã, là chủ chiên của Giáo Hội hoàn cầu, là quốc trưởng tiểu quốc Vatican. Ngài là đấng kế vị Thánh Phêrô được Chúa trao cho nhiệm vụ điều khiển Giáo Hội: "Con là Ðá và trên Ðá này, Thầy sẽ xây dựng Hội Thánh của Thầy, và quyền môn Âm phủ sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ ban cho con chìa khoá Nước Trời, và sự gì con cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng cầm buôâïc, và sự gì con tháo cởi dưới đất thì trên trời cũng sẽ tháo cởi" (Mt 16:16-18).

Theo truyền thống từ đầu, Phêrô và các đấng kế vị được hưởng quyền tối thượng, chứ không phải chỉ một mình Phêrô, và một quyền tối thượng thật sự chứ không phải chỉ là danh dự.

"Con là Ðá". Bằng câu nói bất hủ ấy, Chúa ban cho Phêrô quyền bính, gửi Ngài đến Lamã, chết vì đạo năm 64, được nhìn nhận là thủ lãnh Giáo Hội, là nền tảng một toà nhà kiên cố, gió táp mưa sa sóng vỗ vẫn không lay chuyển. Trước đây anh em Tin Lành hoài nghi sự việc Phêrô đã đến Lamã và chết ở đó, như vậy quyền bính của Giám mục Lamã kế vị không có nền tảng vững chắc thì các cuộc khảo sát khoa học dưới lòng đất đã chứng minh rằng ngôi mộ của Phêrô đã được tìm thấy và luận kia đã bị phủ nhận, không ai nhắc đến nữa. Thật cảm động khi nghe vang vọng lên cũng như khi nhìn thấy trong lòng Ðại Thánh đường Phêrô nổi bật lên câu nói ngàn xưa: "Con là Ðá, trên Ðá này Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy". Ðức Giáo hoàng, Giám mục Lamã, là hiện thân của sự hiệp nhất trong Ðức Tin của toàn thể Giáo Hội. "Phêrô, Thầy cầu cho con...con hãy củng cố đức tin anh em con" (Lc 22:32).

Ðức Giáo hoàng là Giám mục Lamã. Ngài dành cho giáo phận của ngài một sự ưu ái mục vụ đặc biệt, mặc dầu phải đi đó đi đây. Ðức Gioan Phaolô II đã đi thăm nói được là tất cả giáo xứ tại Lamã, giáo phận của ngài. Ngài đặt một Hồng y phụ tá (hiện là Ðức Hồng y Camillo Ruini) coi sóc giáo phận, tương tự như một cha xứ với một cha phó trông coi một họ đạo.

Nhất là Ðức Giáo hoàng là vị chủ chăn của Giáo Hội hoàn vũ. Ngài chia sẻ với trên bốn ngàn giám mục hoàn cầu trọng trách cai quản Giáo Hội trong tinh thần "tập thể" của Công đồng. Ðể giúp ngài trong công việc lớn lao ấy, ngài tuyển chọn các cộng sự viên làm việc dưới sự hướng dẫn của ngài, trong một tổ chức gọi là Giáo triều Lamã (Roman Curia). Ðức Giáo hoàng tuyển chọn các Giám mục hoàn cầu, phong các Hồng y, triệu tập các Công đồng và các Thượng Hội đồng Giám mục. Trong khi chúng tôi viết thiên tham khảo này thì Thượng Hội đồng Giám mục Á châu (từ 19/4 đến 15/5/1998) đang nhóm họp tại Lamã, trong đó có 8 Giám mục Việt Nam tham dự đại diện cho Giáo Hội Việt Nam.

Quyền Giáo huấn của Giáo hoàng được thể hiện dưới hai phương diện: Quyền Giáo huấn phổ quát và bình thường, và quyền Tối thượng và ngoại lệ. Ngài giảng dạy qua các bài diễn văn, các bài giáo huấn, nhất là ngài công bố các thông điệp gửi đến cho tất cả các giám mục trên thế giới và qua các vị này đến với "mọi người thiện chí". Thông điệp thường được chuẩn bị lâu dài, mang một chủ đề, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ðến năm 1996, Ðức Gioan Phaolô II đã ra 11 thông điệp trong 18 năm trên cương vị giáo hoàng. Từ một thế kỷ nay có những thông điệp để đời, làm chấn động dư luận, như Thông điệp Rerum Novarum (1891) của Ðức Lêô XIII, Thông điệp Mater et Magistra (1961), Thông điệp Humanae Vitae (1968) của Ðức Phaolô VI và Thông điệp Redemptor Hominis (1979) của Ðức Gioan Phaolô II.

Các Ðức Giáo hoàng cũng sử dụng quyền Tối thượng và ngoại lệ trong một vài lần, để công bố một tín điều dựa trên quyền vô ngộ về đức tin và luân lý, như năm 1854, Ðức Piô IX công bố Tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và năm 1950, Ðức Piô XII công bố Tín điều Ðức Mẹ Linh Hồn Và Xác Lên Trời.

Sau cùng Ðức Giáo hoàng là quốc trưởng của một nước bé nhỏ nhất thế giới, nước Vatican; chỉ cần mất 45 phút là đi hết vòng quanh tiểu quốc này. Gọi là tiểu quốc vì chỉ có rộng 44 mẫu tây nhưng có một sức mạnh lớn lao phi thường, sức mạnh tinh thần. Tiểu quốc phải có để bảo đảm cho Giáo Hội quyền tự do, được quốc tế nhìn nhận. Do Hiệp ước Lateran ký kết với quốc gia Ý năm 1929, Vatican có chủ quyền và có mọi cơ cấu cần thiết cho việc cai quản Giáo Hội. Cơ chế gọi là Curia hay Giáo triều được quốc tế hoá từ sau Công đồng Vatican II, để phù hợp với Giáo Hội thời nay, một Giáo Hội Công Giáo có mặt trên khắp địa cầu.

Vatican trở nên dinh thự và nơi ở của các giáo hoàng kêå từ thế kỷ XIV. Mảnh đất bé nhỏ ấy là biểu tượng "sự tự do tuyệt đối và hữu hình" của Toà Thánh, nghĩa là cơ quan đầu não của Giáo Hội Công Giáo. Tiểu quốc Vatican bao gồm Ðại Thánh đường Thánh Phêrô được Hoàng đế Constantinô xây dựng chính trên ngôi mộ của Thánh Phêrô và hoàn tất vào năm 1628. Vatican còn gồm các dinh thự của Giáo hoàng, Bộ Ngoại giao, và các bộ khác của Giáo triều, các viện bảo tàng, cách riêng ngôi Thánh đường Sistine nơi các Hồng y hội họp trong mật nghị bầu Giáo hoàng mới. Hiệp ước Lateran năm 1929 còn nhìn nhận thuộc lãnh thổ Vatican các Ðại Thánh đường Thánh Gioan Lateran, nơi ở cũ của các Giáo hoàng, Ðại Thánh đường Thánh Phaolô-Ngoại-Thành, Ðại Thánh đường Ðức Bà Cả. Ðức Phaolô VI còn xây thêm một hội trường tối tân có 10 ngàn chỗ, nơi các du khách từ trên thế giới về có thể gặp Ðức Giáo hoàng trong cuộc triều yết chung mỗi ngày thứ Tư. Vào mùa Hè, cuộc triều yết ấy được tổ chức ngoài Công trường Thánh Phêrô. Gần đây, Ðức Gioan Phaolô II còn xây cất gần Ðại Thánh đường Thánh Phêrô một dinh thự gồm 120 phòng gọi là Dinh thự Thánh Mátta dành cho 120 Hồng y cử tri lưu ngụ trong cuộc mật nghị sắp tới để bầu vị tân Giáo hoàng.

Việc bầu vị tân Giáo hoàng diễn ra như thế nào?

Sau khi vị Giáo hoàng tiền nhiệm qua đời hoặc có thể từ chức, cuộc mật nghị được triệu tập và diễn ra trong thời hạn tối thiểu 18 ngày để bầu vị Giáo hoàng mới. Các Hồng y tham dự cuộc bầu cử không quá 120 vị và dưới 80 tuổi. Vị trí mật nghị là Vatican, ngoại trừ hoàn cảnh lịch sử, như trường hợp Ðức Piô VII được bầu tại Venise (Ý) năm 1800. Và Nguyện đường Sistine vừa được tân trang rất đẹp, là nơi hội họp, cầu nguyện, đàm luận và bỏ phiếu.

Luật bí mật được nghiêm giữ trong suốt thời gian nhóm họp. Các cửa ra vào Nguyện đường Sistine được đóng kín và canh giữ. Nhưng từ đây, các Hồng y không còn bị "nhốt" như trước, song được lưu ngụ trong Dinh thự Thánh Mátta vừa được xây cất.

Nghiêm luật "bí mật" không phải mới có mà đã có từ năm 1271 trong cuộc bỏ phiếu bầu Ðức Grêgôriô X tại Viterbe. Các Hồng y không thoả thuận với nhau, cuộc bầu bán kéo dài, dân chúng trong thành phố liền "nhốt" các vị lại, bắt chỉ dùng bánh khô và nước lã cho đến khi bầu được vị giáo hoàng mới. Từ đó, thủ tục cô lập các Hồng y thành luật với mục đích cắt đứt mọi ảnh hưởng, mọi áp lực bất cứ từ nơi nào đến. Tuy nhiên, việc lựa chọn Giáo hoàng rất cởi mở. Giáo luật cho biết một hồng y, giám mục, linh mục và cả một giáo dân có thể được bầu làm Giáo hoàng (sau đó phải lãnh nhận chức Giám mục). Trong mật nghị không có vấn đề tranh cử, nhưng không cấm những cuộc bàn thảo tư riêng, không có một ứng cử viên với chương trình hoạt động...nhưng tất cả đều do Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn.

Cuộc bỏ phiếu diễn ra mỗi ngày 4 lần, 2 lần buổi sáng và 2 lần buổi chiều. Mỗi cử tri đều bỏ tấm phiếu của mình vào chiếc chén thánh đặt trên bàn thờ. Vị được tuyển chọn phải hội đủ 2/3 số phiếu cộng thêm 1. Nếu chưa đủ túc số, các phiếu được hoả thiêu trong chiếc lò sưởi với một ít rơm thấm nước, toả ra một làn khói đen từ chiếc ống khói trên mái Thánh đường Sistine. Dân chúng bên ngoài thấy thế hiểu rằng cuộc bỏ phiếu chưa đạt kết quả. Nếu làn khói đổi ra màu trắng, cuộc đầu phiếu đã thành công, đã có vị Giáo hoàng mới.

Vị Hồng y nội thần - Camerlinge - cai quản Giáo Hội trong khi Toà Thánh trống ngôi, sẽ hỏi vị được chọn có chấp nhận không? Nếu ngài nói: Accepto - Tôi chấp nhận, từ giây phút đó, ngài trở nên Giáo hoàng của toàn thể Giáo Hội.

Danh tánh của vị Giáo hoàng mới được long trọng công bố cho dân chúng trước Tiền đường Thánh Phêrô: Habemus Papam - Chúng ta có Giáo hoàng. Ngài ra mắt công chúng, nói mấy lời đầu tiên và ban phép lành Orbi et Urbi - cho dân chúng có mặt và cho cả hoàn cầu.

 

Bài 8: Giáo Triều Lamã - Hội Ðồng Hồng Y
- Thượng Hội Ðồng Giám Mục

Trong việc cai quản Giáo Hội, Ðức Giáo hoàng được sự giúp đỡ của Giáo triều Lamã (Curia) gồm những vị cố vấn thân cận. Nhiều lần, ngài còn triệu tập Thượng Hội nghị tất cả các Hồng y trong Hồng y đoàn (Sacré Collège) hoặc Thượng Hội đồng các Giám mục để duyệt xét một vấn đề hoặc tình hình trong một xứ, một châu.

Giáo triều gồm có Phủ Quốc vụ khanh và các Bộ, các Ủy ban và Toà án. Phủ Quốc vụ khanh là cơ quan điều khiển Giáo triều với vị đứng đầu từ năm 1990 là Hồng y Angelo Sodano được coi như Thủ tướng và là người cầm đầu ngành ngoại giao của Toà Thánh. Thứ đến là vị Ðại diện trông coi các vấn đề chung, một thứ bộ trưởng nội vụ, hiện nay là Ðức Cha Gioanni Battista Ré, và vị Tổng thư ký coi việc liên lạc với các chính phủ, một thứ bộ trưởng ngoại giao, hiện nay là Ðức Cha Jean-Louis Tauran, người Pháp.

Ðứng đầu 9 Bộ là một vị Bộ trưởng có phận sự trông coi vấn đề giáo lý (Bộ Giáo lý và Ðức Tin), chuẩn bị hồ sơ để chọn các Giám mục (Bộ Giám Mục), lo việc tôn phong chân phước và các thánh (Bộ Phong Thánh), lo chấn hưng việc truyền giáo và giúp đỡ Thế Giới Thứ Ba (Bộ Truyền Bá Phúc Âm), liên lạc với các Giáo hội Ðông phương (Bộ Giáo Hội Ðông Phương), trông coi giáo dục trong các Chủng viện, các Ðại học Công Giáo (Bộ Giáo Dục Công Giáo), qui định và giải quyết những vấn đề liên quan đến phụng vụ (Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích), lưu tâm đến đời sống linh mục (Bộ Giáo Sĩ), hướng dẫn sinh hoạt các dòng hay tu hội (Bộ Phụ Trách Ðời Sống Tận Hiến và Hiệp Hội Tông Ðồ).

Toà Thánh còn có 12 Hội đồng Giáo hoàng (Pontifical Councils), đặc trách về các vấn đề khác, như đối thoại với các tôn giáo khác (Hội Ðồng Giáo Hoàng Phụ Trách Việc Ðối Thoại Giữa Các Tôn Giáo), thúc đẩy một nền văn hoá xứng với nhân phẩm (Hội Ðồng Giáo Hoàng Về Văn Hoá), cổ võ nền công lý và hoà bình trên thế giới (Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hoà Bình), giải thích luật lệ trong Giáo Hội (Hội Ðồng Giáo Hoàng Giải Thích Văn Bản Luật Pháp), sử dụng các phương tiện truyền thông hầu đẩy mạnh tiến trình Phúc Âm hoá (Hội Ðồng Giáo Hoàng Truyền Thông Xã Hội), chăm sóc mục vụ y tế cho người bệnh (Hội Ðồng Giáo Hoàng Lo Mục Vụ Cho Nhân Viên Y Tế), lo mục vụ cho tị nạn, di dân, du mục (Hội Ðồng Giáo Hoàng Lo Mục Vụ Cho Người Di Dân Và Du Mục), quan tâm đến mục vụ gia đình (Hội Ðồng Giáo Hoàng Ðặc Trách Gia Ðình), đẩy mạnh công cuộc đại kết (Hội Ðồng Giáo Hoàng Cổ Võ Sự Hiệp Nhất Kitô Hữu), thúc đẩy hoạt động giáo dân trong đời sống và sứ mạng của Giáo Hội (Hội Ðồng Giáo Hoàng Ðặc Trách Giáo Dân), và điều hoà các hoạt động và tổ chức bác ái (Hội Ðồng Giáo Hoàng Ðồng Tâm "Cor Unum").

Ba Toà án Tối cao giải quyết các vụ tranh chấp là Toà Ân Giải Tối Cao, Tối Cao Pháp Viện và Toà Chống Án Trung Ương hay còn gọi là Toà Án Rota thường xử về vấn đề hôn phối.

Việc quản trị tuy được tập trung ở Lamã, nhưng cũng được phân phối trong các giáo hội địa phương được quyền tự giải quyết các vấn đề nội bộ.

Hội đồng Hồng y gồm các vị Hồng y được tuyển chọn để cầm đầu các Bộ hay cai quản những giáo phận lớn trên thế giới. Do quyết định của Ðức Giáo hoàng Phaolô VI năm 1970, các vị Hồng y cao niên trên 79 tuổi không còn được quyền bầu làm Giáo hoàng và số cử tri trong mật nghị không được quá số 120 vị. Hội đồng Hồng y được quốc tế hoá: từ năm 1988, Âu châu không còn là đại đa số cử tri và từ năm 1994, Hội đồng gồm đại diện của 64 quốc gia và 56 vị được quyền bầu cử. Cuộc bầu cử sắp đến sẽ rất cởi mở.

Dưới thời Ðức Gioan Phaolô II, Hội đồng Hồng y trở nên cộng sự viên của Giáo hoàng trong việc cai quản Giáo Hội, họ là những cố vấn đặc biệt khi cần phải có một đường hướng. Ví như cuộc họp đặc biệt năm 1991 bàn về việc tôn trọng mạng sống đưa đến việc công bố 4 năm sau bức Thông điệp "Phúc Âm Sự Sống" (Evangelium Vitae).

Một Hội đồng Hồng y, hiện nay do Hồng y Szoka, nguyên Tổng Giám mục Detroit, cầm đầu chuyên về vấn đề tài chính của Toà Thánh, đã lập lại được sự quân bình trong ngân sách sau vụ thất thoát của cơ quan IOR hay Cơ quan các Hoạt động Tôn giáo.

Nếu Công đồng Vatican I đặt trọng tâm vào quyền tối thượng của Giáo hoàng thì Công đồng Vatican II quân bình hoá bằng tập thể tính của các Giám mục, nghĩa là trong việc cai quản Giáo Hội, các Giám mục thế giới là một cơ quan duy nhất đồng trách nhiệm trong việc rao giảng Tin Mừng, là những nhà lãnh đạo đức tin, và có quyền bính dưới quyền Giám mục Lamã, người kế vị Phêrô, vị chủ chăn trên hết. Nếu các Công đồng của các Giám mục do Giáo hoàng đề xướng, triệu tập và chủ toạ chỉ diễn ra một đôi khi - ba Công đồng cuối cùng trong 4 thế kỷ - thì Thượng Hội đồng Giám mục thế giới được triệu tập thường xuyên 3 năm một lần để thảo luận về một vấn đề như về đời sống tu trì (1994), về việc đào tạo các giáo sĩ (1990), về người giáo dân (1987),... Nhưng cũng có những Thượng Hội đồng Giám mục ngoại lệ, như năm 1985 có khoá họp đặc biệt để duyệt xét lại những kết quả của Công đồng sau 20 năm và để quyết định soạn thảo cuốn Giáo Lý Công Giáo hoàn vũ. Cuốn sách được soạn thảo trong 6 năm và xuất bản năm 1992. Cũng có những Thượng Hội đồng Giám mục riêng biệt để duyệt xét về tình hình Giáo Hội ở một quốc gia (như ở Liban, Hoà Lan, Ukraine) hoặc ở một châu như Châu Phi (1994), Châu Âu sau chế độ cộng sản (1991), Châu Mỹ (1997), Châu Á (1998) và sắp tới là Châu Âu (1999).

Thượng Hội đồng Giám mục gồm đại biểu do các Hội đồng Giám mục quốc gia bầu lên, với một số nhỏ do Ðức Giáo hoàng chỉ định, không kể các chuyên viên, các quan sát viên. Thượng Hội đồng Giám mục thường kéo dài khoảng 1 tháng. Các đề nghị được giữ kín cho đến 1-2 năm sau được công bố trong một "Khuyến cáo của Toà Thánh".

Không vị Giáo hoàng nào như Ðức Giáo hoàng đương kim Gioan Phaolô II đã triệu tập nhiều Thượng Hội đồng Giám mục như vậy. Người ta nhận thấy Giáo Hội có một chiều kích cai quản tập trung nhưng đồng thời vẫn tôn trọng quyền các Giám mục địa phương.

 


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com