GIA ÐÌNH TÌNH THƯƠNG
RA BẮC . . . RỒI LÊN NON

(Kỳ 1)

Bút ký của Vũ Sinh Hiên

Từ 15 năm nay, một tập hợp những người thiện chí dưới danh xưng "GIA ÐÌNH TÌNH THƯƠNG" (GÐTT), phi chính phủ, dĩ nhiên, mà cũng không có tư cách pháp nhân, bởi mọi đoàn thể ở Việt Nam đều phải trực thuộc Nhà Nước hoặc Mặt Trận Tổ Quốc, còn GÐTT được đặt dưới sự điều phối của linh mục Nguyễn Tự Do, Dòng Chúa Cứu Thế. Cứ mỗi lần qui tụ nhau lại để tổ chức một chuyến đi thăm hỏi và tặng quà các bệnh nhân phong cùi từ Nam ra Bắc, Ðoàn lại mang danh GÐTT, gom góp tặng phẩm của các vị ân nhân xa gần và của chính các thành viên tham gia chuyến đi, tự trang trải mọi chi phí của cuộc hành trình. Sau chuyến đi, ai về nhà nấy với cuộc sống thường nhật của mỗi người. Bút ký này ghi lại những chuyến công tác của GÐTT vào cuối năm 1998 ra Bắc và vào đầu năm 1999 lên Tây Nguyên.

Từ Bắc về, khi chúng tôi bắt đầu viết những trang này thì Sàigòn vừa thoát cơn bão số 8. Bão đổi hướng ra Trung, ở trong Nam chỉ còn là áp thấp nhiệt đới: lạnh 19 độ C (khoảng 66 độ F), mưa lất phất ướt áo lúc nào chẳng biết, đầm đìa mái tóc khi mô chẳng hay. Sàigòn chẳng mấy khi có được cái thứ mưa lãng mạn tình tứ này. Mưa Sàigòn phải là thứ mưa xối xả, hạt to như hạt bắp, vã vào mặt, rồi tạnh ngay, khô ráo liền, nóng nực tức khắc. Cái lạnh hiếm hoi lúc này làm các cửa hàng bán quần áo cũ ngoại quốc ở các đường phố Sàigòn đông như vào hội.

Thế nhưng hôm lên đường ra Bắc, ngày 19/11/98, chỉ mới là cơn bão số 5. Ưu tư hàng đầu vẫn là các bệnh nhân phong cùi từ Bắc chí Nam, nhất là vùng Tây Nguyên, ở đó các bệnh nhân phong chưa được chăm sóc chu đáo như ở đồng bằng. Nhớ lại cái thuở ban đầu... "bao cấp" ấy, thùng mì gói, hộp sữa, ký đường,... tất tần tật phải chở lên xe từ Nam ra Bắc, nhiêu khê và nguy hiểm, bởi thấy xe mang bảng số Sàigòn, các tay anh chị ven đường thường kiếm chuyện gỡ gạc. Một vài chiếc gắn máy Mink hoặc Simson lượn lững lờ trước mũi xe Sàigòn, quẹt nhẹ một tí là thành chuyện. Nay thì "kinh tế thị trường", hàng hoá kiếm đâu cũng dễ nếu... có tiền, nên ra đi gọn nhẹ và phối hợp với những anh chị em thiện chí tại chỗ.

 

MIỀN TRUNG TRONG CƠN BÃO

Xuất hành cùng lúc với khúc dạo đầu của cơn bão số 5, vào 5 giờ sáng ngày 9/11/1998, chọn đường vòng lên Bảo Lộc, qua Finnom đổ đèo Sông Pha, xuống Phan Rang để tránh đoạn đường chiến binh trần ai Phan Thiết-Phan Rang đang dang dở lầy lội cả năm trời nay, Ðoàn GÐTT tới được Cam Ranh thì hoàn toàn thất vọng: nước chảy xối xả từ đồi núi phía Tây, băng qua Quốc lộ 1 đụng phải cây cối, nhà cửa vườn tược ven biển phía Ðông khựng lại và biến quốc lộ thành dòng sông đục ngầu. Mới hồi tháng 6, tháng 7 ngang qua Bảo Lộc, đất nứt nẻ, ngô bắp cháy trụi, chè và càphê vàng úa. GÐTT đi nhiều, chả chuyến đi nào giống chuyến đi nào. Tới ngã ba quẹo vào làng phong Suối Tân, đã thấy linh mục Nguyễn Xuân Nghi, dòng Thánh Giuse, ướt sũng từ đầu tới chân nhưng vẫn quả quyết là đường vào làng không đến nỗi nào. Làng phong ở sâu gần chân núi, ngoài 5 gia đình người dân tộc Raclay có người bệnh, làng gồm 205 nhân khẩu. Các bệnh nhân phong hầu hết đã lành bệnh nhưng mang dị tật khiến mất khả năng lao động. và thân nhân sống chật vật trên mảnh đất cằn cỗi. Gần tới làng mưa vẫn xối xả, lũ trào ra dội ngược đường xe, đành phải tháo lui và trao toàn quyền quyết định cho các cha dòng Thánh Giuse khi cơn lũ tạm lắng. Lúc này, cơn bão số 5 đã được định hình và mang tên gọi trên các phương tiện truyền thông.

Qua đêm ở Nha Trang, sáng hôm sau chúng tôi lên đường rất sớm, định bụng là chạy đua với bão chưa hung hãn lắm, sẽ quẹo vào Quốc lộ 26 lên Tây Nguyên, rồi đổ đèo Mang Yang, An Khê, xuống Qui Nhơn. Không kịp mất rồi. Vừa ra khỏi Nha Trang, xuống đèo Rù Rì đến Ninh Hoà thì bị khựng lại. Mới 5 giờ sáng, chúng tôi buộc phải dùng điểm tâm ngay bên lề đường. Mặt trời ửng hồng ở phía Ðông, hứa hẹn tạnh ráo nhưng lũ vẫn tràn qua Quốc lộ từ triền núi phía Tây, bởi đêm qua mưa không dứt. Quay lui thì không được, còn phía trước là cả đoàn xe nối đuôi nhau nhìn con lũ.

Vẫn chưa hiểu tình hình ra sao, GÐTT chưa hề có kinh nghiệm sống chung với lũ trên Quốc lộ, trước cảnh xe hơi và ghe xuồng chen nhau trên mặt lộ. Có lúc mặt trời lên cao nắng chói chang, chúng tôi tưởng là cơn lũ sắp dứt thì lại là lúc lũ lên cao, bởi phía biển Ðông có triều cường dội ngược con lũ vào đất liền. Chỉ có đồng bào địa phương nơi đây hiểu rõ hơn cả tính khí của thiên nhiên. Họ cố gắng chống chọi để các đìa nuôi tôm khỏi bị cơn lũ cuốn trôi, rồi thản nhiên với tôm lên bán tại Quốc lộ.

Ðã có những dịch vụ đột xuất do hoàn cảnh: tăng bo xe hai bánh qua đoạn Quốc lộ ngập lũ bằng ghe thuyền với giá 25.000đ (gần 2 đô Mỹ) cả người lẫn xe. Ngay cả xe hơi 4 chỗ, 12 chỗ cũng có thể được một chiếc lô bồi cho vượt lữ với giá thoả thuận 200.000đ/xe (khoảng 15 đô Mỹ). Ðến 4 giờ chiều, chúng tôi tháo bô air của chiếc xe 12 chỗ ngồi, mở hết ga và vọt qua chỗ lũ sâu để khỏi chết máy. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm khi qua khỏi đoạn lũ Ninh Hoà cũng không nghĩ đến chuyện vòng ngược lên Tây Nguyên, vẫn cho xe chạy theo Quốc lộ 1, thiu thiu dỗ giấc ngủ trong lúc mưa vẫn rơi nặng hạt trên mui xe. Chúng tôi vẫn chưa lường hết được sự hung hãn của cơn bão số 5. Mới năm ngoái đây, cũng con bão mang tên số 5 đổ vào đồng bằng sông Cửu Long gây bao thiệt hại cho vựa lúa của cả nước. Năm nay, lại bão số 5 đổ vào miền Trung giữa lúc xứ dân gầy không ngờ đến.

Lúc 2 giờ đêm rạng ngày 21.11.1998, chúng tôi tới cầu La Hà cách phía Nam Quảng Ngãi 10km, khựng lại như bao người và đành ngồi trong xe nghe mưa rơi, chờ hừng đông lên. Lúc 8 giờ sáng, xe được phép lăn bánh, đến Sơn Tịnh lại một đoạn Quốc lộ nữa đã biến thành dòng sông, nước tràn đồng tràn đường, chảy xiết và bóc trần những mảng bêton nhựa khỏi mặt lộ, hất sang vệ đường để lại đá đất lởm chởm. Không thể vượt qua đoạn đường này bằng chính sức mạnh của chiếc xe 12 chỗ ngồi, chúng tôi may mắn được một chiếc xe tải của công ty sữa cũng mang biển số Saigon đang trên đường chở hàng ra Bắc đồng ý kéo khỏi khúc sông bất ngở và hiểm nghèo này. Ðồng hương Sàigòn đấy, cho dù giữa đất khách quê người nhưng chuyện làm ăn là làm ăn, giá cả được coi như khá thân hữu: 150.000đ (gần 11 đô Mỹ).

Khoảng 12 giờ trưa ngày 21.11.1998, sau bao nhiêu đối phó với những bất ngờ trên đoạn đường từ Quảng Ngãi ra Quảng Nam, qua Tam Kỳ, thủ phủ của tỉnh Quảng Nam mà hôm nay con phố chính tức Quốc lộ 1 được đặt tên Phan Chu Trinh đã biến thành dòng sông, chúng tôi phải dừng xe tại cây xăng số 16 thuộc xã Bình Nguyên, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, kể cả các xe tải mang biển số của Thái Bình, Huế, Nghệ An, Tiền Giang, Vũng Tàu, Sàigòn,… Hầu như xe cộ khắp nước đang góp mặt ở đoạn đường này. Trước mặt chúng tôi, phía Câu Lâu, Vĩnh Ðiện chắc lũ lên cao lắm, các nhân viên công an đang phải dùng canô di tản đồng bào từ các vùng sâu vùng xa ra mặt lộ.

Dời đoàn xe, chúng tôi thuê chiếc Honda ôm, mang theo máy quay video, tiến xa lên phía trước để thu những thước phim đau lòng, biển nước mênh mông chỉ còn cách Ðà Nẵng có 30km. Lúc này đây nếu có thể "nghiêng đồng đổ nước ra sông" được như câu thơ khẩu hiệu ngạo nghễ nào đó thì quả là hay biết mấy! Người xưa kia bị thiên nhiên hành hạ quá, vật vã quá thì cũng chỉ dám gọi là "Con Tạo" cho sướng miệng một tý, còn thì vẫn ngoan ngoãn, kiên nhẫn, khiêm tốn đợi chờ "mà xem Con Tạo xoay vần đến đâu". Người xưa khôn thật. Cái nghênh ngang của người đời nay khiến kẻ viết bút ký đang co ro dưới chân cầu La Hà nhớ tới chuyện con gà trống ngày ngày cất tiếng gáy, rồi thấy mặt trời ửng hồng ở phương Ðông, nó ngạo nghễ cho rằng chính nó đã ra lệnh cho mặt trời mọc. Miền Nam năm nay, với hệ thống kênh đào tiêu lũ mới được hoàn tất, đang mong lũ về đem theo phù sa thì lũ lại không về, lũ quay ra tàn phá miền Trung quê nghèo. Một tháng sau ở Sàigòn, ngày 22.12.1998 báo chí tại đây đưa đưa tin hồ Hoà Bình (miền Bắc) đã thiếu nước dự trữ trong khi lưu lượng nước về hồ Trị An, Thác Mơ (miền Nam) là lớn nhất trong lịch sử. Nhưng ở miền Trung, đồng bào là chúng tôi đã chống đỡ một cách tuyệt vọng trước thiên nhiên nghiệt ngã. Thế đó!

Không ngờ điểm cao trước cây xăng này lại là nơi chúng tôi phải tạm trú 3 ngày 3 đêm. Bi đát hơn cả là các xe tải chở súc vật, hải sản mà trái cây và điểm đến là biên giới Việt-Trung xa tít. Thật là đại hoạ nếu xe của bạn đậu gần các xe chở heo, trâu, chó lên thị trường phương Bắc, rồi lại chở tỏi, táo từ Trung Quốc về. Một xe chở nhãn sang Trung Quốc đã phải mua thêm 40 cây đá, mỗi cây 10.000đ (70 xu Mỹ) để giữ lạnh cho sản phẩm. Ðêm 24.11.1998, thấy có xe từ hướng Bắc xuống, các xe đang đậu tưởng là đã có thể thông xe, đồng loại nổ máy, í ới gọi nhau để lấy khí thế. Mệt rã rời mà linh mục Nguyễn Tự Do vẫn còn đủ dí dỏm để ví von "Chắc xưa kia, giữa đêm khuya, dân Do Thái gọi nhau trốn khỏi Ai Cập cũng rộn rã đến thế này là cùng." Chỉ có các tay lái đường trường dày dạn là vẫn tỉnh queo, lim dim, bởi kinh nghiệm cho hay không bao giờ thông đường vào lúc trời còn tối, khó kiểm soát.

Lúc 4 giờ 40 sáng ngày 24.11.1998 chúng tôi thực sự được phép lăn bánh. Nước đã rút, nhưng mực nước in hằn trên tường nhà, vượt qua khung cửa sổ cao 2m (khoảng 6 feet rưỡi), gần chạm nóc ngôi Thánh đường cô quạnh giữ đồng không, trên hàng rào của ngôi trường mà biết đến hôm nào mới trở lại sinh hoạt bình thường được. Duy Xuyên, Câu Lâu, Vĩnh Ðiện,… những địa danh mà hôm qua còn chìm trong cơn lũ. Ấy vậy mà chỉ 10 ngày sau, trên đường từ Bắc về Nam, đoạn đường lở lói này đã được tạm thời tu sửa cho xe cộ qua lại, những thửa ruộng hai bên đường đã được cầy bừa, lợi dụng màu mỡ của con lũ, có những mảnh đã xanh rờn mạ non. Lại "chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa" như không hề có chuyện gì đã xảy ra, người nông dân Việt Nam cần cù, chịu đựng trước thiên nhiên vốn dành cho khúc ruột miền Trung này nhiều éo le, vất vả.

Chúng tôi không vào thành phố Ðà Nẵng mà bọc ra Hoà Khánh lên đèo Hải Vân. Nhìn xuống vịnh Liên Chiểu, những con sóng cao nghệu chồm lên hung hãn, khác hẳn với mặt vịnh hiền hoà thường ngày. Không thể nào qua được trại phong Hoà Vân. Hoà Vân ơi! Có được bình yên không trong bão táp vừa qua? Ðỉnh Hải Vân sương mù dày đặc, lại là bức tường che chắn bão táp cho cố đô, cho miền Bắc năm nay may mắn vắng những cơn bão hãi hùng. Huế không có bão, có lất phất mưa, có se se lạnh, Huế vẫn đẹp não nề.

GÐTT đến thăm Cộng đoàn dòng Thánh Phaolô thành Chartres để được các sơ dẫn đi thăm và tặng quà các bệnh nhân phong cùi và sida do các sơ trược tiếp chăm sóc trong tư cách là nhân viên y tế nhà nước. Thành phố Huế có khoảng 100 bệnh nhân phong, hầu hết chữa trị tại nhà, chỉ tới bệnh viện khám và nhận thuốc. Có 8 bệnh nhân hiện đang nằm điều trị tại bệnh viện trong một khu riêng biệt. Trong khuôn viên của bệnh viện chính quyền mới cho xây dựng "Trung Tâm Tư Vấn và Ðiều Trị Nội Ngoại Trú HIV –AIDS Khu Vực Miền Trung" mà hiện nay chỉ có 1 bệnh nhân đang nằm điều trị tại đây. Thành phố Huế có 6 trường hợp mắc bệnh SIDA (AIDS). Các sơ dòng Thánh Phaolô đã tình nguyện phục vụ tại hai trại bệnh đặc biệt này với số lương 280.000đ/người cho một tháng, tương đương với 20 đô Mỹ. Trước tình cảnh nghèo khổ của bệnh nhân và sự tuyệt vọng của họ đối với căn bệnh thế kỷ, các sơ đã dùng toàn bộ số tiền lương ít ỏi để trợ giúp và an ủi những anh chị em xấu số này.

Ðoàn tiếp tục đường ra Bắc, La Vang, Quảng Trị, cầu Hiền Lương, chẳng bao lâu vào đất Quảng Bình và gặp sông Gianh lịch sử. Trên đường về sau này, chúng tôi cho xe chạy chầm chậm trên cây cầu bắt qua sông Gianh mà không nén được xúc động khi nhớ lại quá khứ Ðàng Trong Ðàng Ngoài trong các thế kỷ 17 và 18, chinh chiến khổ đau trăm họ.

Ðến Thanh Hoá, điều làm chúng tôi hài lòng nhất là được thăm trại phong Cẩm Thủy. Trại Cẩm Thủy nằm sâu trong vùng núi đá với phía Tây Thanh Hoá, có xa xôi gì đâu cơ chứ, 75km tính từ thành phố, vậy mà mất cả buổi sáng, lội bộ thêm gần một cây số. Ðường xá hôm nay đã được cải thiện, rồi một mai phà Vạn, phà Kiểu sẽ có cầu để 71 bệnh nhân phong cùng với 12 công nhân viên của Cẩm Thủy không còn bị quá ngăn cách với cộng đồng dân tộc. Cùng với sự khai phá của di dân vào Cẩm Thủy, trại phong cũng dần dần trở thành một làng có khả năng canh tác và cải thiện cuộc sống như mọi người, nhất là được hoà nhập với cuộc sống chung của thôn xóm. Chúng tôi dò từng bước trên đoạn đường mới lát đá lởm chởm, nhưng lòng rộn ràng vui. Chỗ gặp gỡ của GÐTT và bệnh nhân phong là vuông sân lát gạch trước hội trường. Ngoài việc tặng quà, Ðoàn GÐTT vẫn đặt nặng câu chuyện trao đổi giữa các thành viên trong Ðoàn với các bệnh nhân. Ðược chuyện trò, được gửi gắm những tâm sự, cho dù đối với những người mà chỉ gặp gỡ xuân thu nhị kỳ, đó chẳng phải là nhu cầu thầm kín và thiết tha của mỗi người hay sao?

Chúng tôi vô cùng xúc động khi được các bệnh nhân nhận ra giọng nói, khuôn mặt, gợi lại câu chuyện trao đổi lần trước, năm ngoái. Chúng tôi chào tạm biệt bà con bệnh nhân, hứa với bà con và với lòng mình là sẽ trở lại Cẩm Thủy khi có thể được. Người về cảm thấy lòng vui vì cuộc sống ở Cẩm Thủy đang được dần dần cải thiện: đường xá, nước sinh hoạt. Vùng cao của Thanh Hoá, đấu lưng vào với Trường Sơn, với nước Lào láng giềng, còn nhiều việc phải làm để nâng cao mực sống của ngưòi dân. Vậy mà từ thuở xa xăm, những bước chân thừa sai đã qua đây, Nhân Lộ, Phong Ý, Song Mã Châu Lào để lời Chúa được rao giảng nơi rừng sâu nước độc này.

Sáng ngày 28.11.1998, chúng tôi rời Thanh Hoá đi Hà Nội. Vẫn tha thiết được dừøng chân viếng Ðền Bà Triệu, người con gái núi Nưa để nghe văng vẳng đâu đây tiếng của Bà: "Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp con sóng lớn, chém cá kình ở biển Ðông để đem dân ta thoát khỏi ách đô hộ …", để được nghe chị nông dân với cây đàn kìm trong khúc ca dân dã kể sự tích Bà. Ngồi bệt trên chiếc chiếu trước bàn thờ Bà, chị hát say sưa, đôi mắt lim dim như không còn ai bên cạnh chị. Vị nữ anh hùng dân tộc của 17 thế kỷ rưỡi qua (Bà khởi nghĩa thành công năm 248) đã hoàn toàn hớp hồn chị mỗi khi chị cất tiếng hát.

 

TRỞ LẠI MIỀN BẮC

Ngay ngày hôm sau, chúng tôi về trại phong Vân Môn thuộc tỉnh Thái Bình, trại phong lớn nhất miền Bắc, do các cha Thừa sai Paris (MEP) thành lập như một ngôi làng với đê bao quanh, với nhà nguyện 4 phía mà hiện nay còn 2 là nhà nguyện Giáp Ðông và Giáp Tây, nơi lui tới nguyện cầu của 144 giáo dân bệnh nhân. Trại có 600 nhân khẩu nhưng chỉ có 300 bệnh nhân được hưởng trợ cấp: hàng tháng 13ký (gần 29 pounds) gạo và 15.000đ (hơn 1 đô Mỹ), mỗi năm 1 bộ quần áo, cơm được thổi chung và được các chị y tá lãnh đem về từng phòng, cùng với 2 lít nước nóng mỗi ngày cho mỗi người. Bệnh nhân tự lo thức ăn. Chỉ với 15.000đ (hơn 1 đô Mỹ), giá của 1 tô phở ở Saigon, nguời bệnh làm sao có thể trang trải mọi chi phí trong tháng, nếu không được sự trợ giúp của các vị ân nhân xa gần, của linh mục Mai Trần Huynh, chính xứ Trà Vy sớm hôm qua đây, thuộc tên từng người.

Ðối với các khu điều trị phong trại miền Bắc, Ðoàn GÐTT vẫn muốn dành nhiều ưu ái hơn, bởi lẽ xa xôi, một năm một lần mới có dịp gặp gỡ. Nhưng ngược lại các bệnh nhân phong miền bắc thường được hưởng quy chế khá đầy đủ, đến nỗi một số đồng bào sinh sống gần các khu điều trị phong thường bày tỏ nỗi niềm ganh tị khi gặp chúng tôi trên đường vào trại. Chao ôi! Bể dâu trùng điệp, cái khổ mỗi người mỗi vẻ lấy gì bù đắp được những đớn đau thân xác, những ruồng rẫy tinh thần mà các bệnh nhân này đã phải gánh chịu suốt một đời. Ngoài tặng phẩm vật chất, Ðoàn GÐTT muốn tạo sự thông cảm tình người, nguồn vui nhân loại cho các bệnh nhân mà nụ cười vốn héo hắt ít ỏi. Ðã có lần chúng tôi nán lại miền Bắc, những ngày giáp Tết để gói bánh chưng tặng các bệnh nhân và chỉ kịp về Sàigòn trước lúc giao thừa. Có đáng gì đâu tấm bánh, nhưng vui và chưa hề có ai Tết họ bằng tấm bánh dân tộc vào dịp đầu năm.

Về đến Sàigòn, chúng tôi nhận được điện thoại của linh mục Mai Trần Huyên đưa tin sẽ nấu bánh chưng tặng và con trại Vân Môn. Bánh chưng Tết đất Bắc: gạo nếp hoa vàng, nhân dẻ và thơm hơn bánh phương Nam. Chỉ nghĩ đến thôi mà đã thấy thèm. Xin gửi Vân Môn chút đóng góp cho nồi bánh Tết.

Trở lại Hà Nội buộc phải qua phà Tân Ðệ ngăn cách Thái Bình-Nam Ðịnh, biết đến bao giờ có được cây cầu nối liền hai bờ Tân Ðệ, tránh được cảnh lên xuống phà phiền toái mất thời giờ. Nhưng đợi phà cũng có cái thú của đợi chờ. Ngắm nhìn sông nước mênh mông, trên tay là một nắm hạt dẻ vừa béo vừa bùi, hoặc một cặp bánh dày dẻo quẹo, trắng muốt cặp khoanh giò lụa thơm phức, giá chỉ có 3.000 đồng (20 xu Mỹ). Ði dọc dài đất nước, được thưởng thức các món ăn dân dã từng miền, ăn không chỉ bằng miệng và dạ dày mà còn bằng cả ký ức, kỷ niệm, tuổi thơ, niềm thương, nỗi nhớ... Ở phà Tân Ðệ còn có bánh cáy, đặc sản làng Nguyễn, được chế bằng nếp quýt hoa vàng, rang thành hạt bỏng ép theo khuôn, trộn với mỡ heo, vừng, lạc, dừa, đường trắng và một số hương liệu khác.

Hà Nội mùa này không còn cốm. Cốm làng Vòng nếu còn sót lại đâu đó thì đã khô cứng, thường đã được làm bánh rồi. Vốn được sinh ra ở nơi đồng chua nước mặn, tuổi thơ lớn lên trong lũy tre làng, kẻ viết bút ký sục sạo khắp nơi để tìm cho được đĩa rươi xào với vỏ quýt, nhưng đành chịu. Nhưng Hà Nội còn nhiều, rất nhiều hoa sữa. Khách ở xa về đã để cả một buổi tối thơ thẩn dưới những hàng hoa sữa trắng muốt, miệng lẩm bẩm câu hát quen thuộc: "Nhớ phố Quang Trung, đường Nguyễn Du, những đêm hoa sữa thơm nồng". Mà nồng thật! Ở một góc phố vắng Khâm Thiên, cây hoa sữa là đà không cao lắm, người viết đánh bạo bẻ một ôm đem về phòng, tới đêm thì chịu hết nổi, phải đem để ngoài hàng hiên. Ban ngày hoa sữa vô duyên tệ, không đẹp mà cũng chẳng thơm. Cứ tưởng rằng hoa sữa là đặc sản của Hà Nội, nào ngờ khi lên Lạng Sơn, từng phố hoa sữa mới được trồng, về Thanh Hoá hoa sữa đầy đường, lên Kontum lác đác hoa sữa trước cửa nhà những người Hà Nội lên đây lập nghiệp. À, thì ra người Hà Nội đi đến đâu đem hoa sữa đến đó, cho đỡ nhớ! Người ta có quyền ôm ấp những kỷ niệm chứ nhỉ. Ấy vậy mà đã có lần một nhà thơ Hà Nội đi kháng chiến chống Tây, rồi "Ðêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" thế mà suốt đời ông, cả nhà ông lận đận chỉ vì câu thơ ấy!

Ngày 2/12/1998, Ðoàn GÐTT đi Bắc Ninh. Giáo phận Bắc Ninh, một trong những giáo phận kỳ cựu của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, trải dài trên một diện tích rất rộng trong đó có 4 trại điều trị phong là Quả Cảm, Phú Bình, Sóc Sơn, và Ðồng Lệnh. Trại phong Quả Cảm chỉ cách Toà Giám mục 4 km, gồm 200 bệnh nhân được Ðức Giám mục giáo phận quan tâm đặc biệt, cử các sơ thường xuyên có mặt ở đây đảm trách các dịch vụ liên quan đến đời sống bệnh nhân, ngoài những tiêu chuẩn của nhà nước. Nhưng hình như trái tim của Ðức Cha hướng về Ðồng Lệnh hơn cả, tận Cao Bằng, bệnh nhân sống rải rác trong rừng được các sơ qui tụ về, trên 50 người, chưa được hưởng quy chế chính sách nào của nhà nước. Giáo phận Bắc Ninh vui vẻ lãnh nhận (khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan) với sự tiếp tay của các ân nhân xa gần. Ở Quả Cảm, tiếp xúc với sơ phụ trách mới được biết mối bận tâm của chị là chiếc máy khâu giày dép cho bệnh nhân, chiếc máy khâu duy nhất đã không cò sử dụng được nữa. Mùa lạnh này, để có được đôi dép quàng vào đôi bàn chân không còn nguyên vẹn, sơ phải đem ra thị xã Bắc Ninh, vừa tốn công vừa tốn tiền. Nhu cầu đột xuất này đã được GÐTT thoả mãn tức khắc. Chắc quý vị ân nhân cùng thông cảm với những ứng phó đột ngột này, ngay tại hiện trường mà không kịp lên kế hoạch để được phê duyệt. Quả Cảm ơi, GÐTT ra đi mà vẫn còn nặng lòng với chiếc máy bơm nước cho bà con sinh hoạt hàng ngày, hư hỏng hoài, làm sao đây?

Trại phong cuối cùng mà GÐTT đến thăm trong chuyến đi Bắc lần này là trại Xuân Mai thuộc Sở Y Tế Hà Tây gồm 142 bệnh nhân. Về phương diện tinh thần, linh mục giám quản Giáo phận Hưng Hoá Nguyễn Thái Hà thường xuyên thăm viếng và trợ giúp vật chất khi có thể. Về Xuân Mai lần này, chúng tôi thấy cảnh quan như mát mắt hơn, vườn vải thiều do sự trợ giúp của các ân nhân đang hứa hẹn một vụ thu hoạch đầu mùa vào những tháng hè tới. Xuân Mai chỉ có 21 giáo dân trong tổng số 142 bệnh nhân, nhưng trong số giáo dân ít ỏi ấy có anh Giuse Nguyễn Văn Thành, 60 tuổi, bị bệnh phong từ năm 20 tuổi, đã gửi gắm tâm sự vào những vần thơ do anh sáng tác. Còn nhớ năm 1994, lần đầu gặp anh, anh đọc cho nghe đoạn thơ anh vừa viết xong:

"Trong thế gian chúng tôi là quả đắng
Là cung đàn vang vọng bỗng đứt dây
Là hoa tàn, trăng khuyết phủ đầy mây
Ðời ngao ngán trong tháng ngày hiu quạnh
Nhưng có Chúa chúng tôi không ớn lạnh
Vẫn nhịp nhàng máu nóng chảy về tim
Vẫn yêu người kính Chúa vững niềm tin
Ngày cuối hết sẽ là ngày công phúc".

Như vậy, ra đi cùng với khúc dạo đầu của cơn bão số 5 Ðoàn GÐTT sống chung với lũ trên Quốc lộ thuộc địa phận các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, chương trình hoạch định cho chuyến về thăm miền Bắc kỳ này đã bị thả nổi. GÐTT chỉ có thể tiếp xúc và tặng quà trực tiếp cho các bệnh nhân phong tại các khu điều trị Suối Tân ở Nha Trang, Bệnh viện Huế, Cẩm Thủy ở Thanh Hoá, Vân Môn ở Thái Bình, Quả Cảm ở Bắc Ninh và Xuân Mai ở Hà Tây. Ðoàn đành phải gởi quà cho Ðồng Lệnh qua sơ Tình ở Toà Giám Mục Bắc Ninh, cho Sóc Sơn qua linh mục Trịnh Ngọc Hiên, bề trên cộng đoàn DCCT Hà Nội và cho Chí Linh qua linh mục Trần Hữu Thanh DCCT, chính xứ Trần Nội thuộc Giáo phận Hải Phòng.

Về đến Sài gòn, bật máy truyền hình, xướng ngôn viên loan báo tin cơn bão số 7 và tiếp theo là số 8 đang đổ vào Nam phần. Thế đó. Ðất nước với những ưu ái và cả những khắc nghiệt của thiên nhiên. Ðồng bào vùng sâu vùng xa còn nhiều gian truân, các bệnh nhân còn nhiều cơ cực, khi mà năm 2000 gần kề, thời điểm để xoá sạch bệnh phong tại quê nhà. GÐTT chẳng dám lạc quan, chỉ biết cố gắng, cố gắng từng ngày để cái khổ cực mỗi ngày phải bị đẩy lùi.

(còn 1 kỳ nữa)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com