GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BƯỚC VÀO NĂM 2000

(Kỳ 4)

Lm Hồng Phúc, C.Ss.R.

II. GIÁO HỘI: CON ÐƯỜNG ÐANG ÐI QUA

Bài 9: Thế Giới Công Giáo Ngày Nay

Theo bản thống kê của Toà Thánh cuối năm 1995, trên thế giới có 945 triệu người Công Giáo. Nếu kể Kytô giáo nói chung trên hoàn vũ thì số người Kytô hữu có khoảng 1 tỷ 8, nghĩa là trong 4 người sống trên mặt đất thì có một người Kytô hữu. Bản tin vừa nói được cơ quan Fides của Thánh bộ Truyền bá Phúc âm đăng tải.

Cũng theo cơ quan Fides, các tôn giáo lớn trên thế giới được kiểm kê như sau:

     Kytô-giáo: 1.8 tỉ
     Công Giáo: 945 triệu
     Tin lành: 400 triệu
     Chánh thống: 200 triệu
     Anh giáo: 70 triệu
     Hồi giáo: 937 triệu
     Ấn độ giáo: 731 triệuj
     Phật giáo: 332 triệu
     Do thái giáo: 14 triệu

Vào cuối thế kỷ này, người Công Giáo có 1 tỷ người, theo sau là anh em Hồi giáo với 937 triệu và anh em Ấn độ giáo với 731 triệu.

Nhìn qua bản đồ thế giới Công Giáo người ta không khỏi không nhìn thấy những khu vực đông đúc người Công Giáo cũng như những vùng thưa thớt, những khu vực mạnh và những khu vực yếu. Phát sinh từ ven biển Ðịa-trung-hải, đạo Công Giáo trong gần 2000 năm qui tụ một đại đa số ở Âu Châu; nhưng rồi qua các cuộc mạo hiểm đi tìm đất mới và những đợt thừa sai đi rao giảng Tin Mừng, địa bàn Công Giáo nghiêng hẳn về phương Nam. Công Giáo như có một cuộc đổi đời, rất mạnh ở chỗ này thì lại rất yếu ở chỗ khác, nhiều vấn đề mới được đặt ra, nhiều thích nghi cần thiết theo văn hoá, nhưng phải giữ vững cá tính của mình, phải chia sẻ quyền bính cho địa phương đồng thời giữ vững liên lạc với trung ương.

Nếu ở Âu Châu, điều được gọi là Ðại Kytô giáo (Chrétienté) không còn sức mạnh như xưa, sau những cuộc cải cách của thế kỷ XVI, những cuộc chia ly của Tin lành, thì Giáo hội còn phải đương đầu với những cuộc cách mạng như cuộc cách mạng Pháp (1789), cuộc cách mạng đỏ của Ðảng Cộng sản Nga năm 1917.

Nếu Giáo hội theo ý thức Tây phương qua nghi lễ Latinh và sự tập trung quyền bính ở Lamã còn giữ được tính cách Công Giáo hoàn vũ thì việc giảm thiểu số người hành đạo nhất là ở Âu Châu là một mối lo ngại.

Bù vào đó, từ các năm 1950, các giáo hội địa phương ở Phi Châu và Á Châu, với việc thiết lập hàng giáo sĩ nội tại, là một sức sống lớn vươn lên, nhất là thời Hậu Công đồng (1962-1965). Một ví dụ cụ thể: Hội đồng Hồng y, cơ quan bầu Giáo hoàng mới đã được quốc tế hoá từ đời Ðức Piô XII (1939-1958). Trong mật nghị 1958 bầu Ðức Gioan XXIII, chỉ có đại diện 20 nước tham dự, ngày nay con số ấy lên trên 60 và các Hồng y Âu Châu trở thành thiểu số.

Một dữ kiện cụ thể nữa là Giáo hội Công Giáo như chuyển hướng từ Bắc đến Nam. Nhiều giáo hội địa phương ở Phi Châu, Á Châu và Úc Châu trở nên phồn thịnh mang lại cho Giáo hội rất nhiều nhân lực trong ơn gọi linh mục và tu sĩ nam nữ. Giáo hội đi vào các văn hoá địa phương, việc rao giảng Tin Mừng được cập nhật hoá theo đòi hỏi mỗi nơi mà cao điểm là những Ðại Hội đồng Giám mục dành cho mỗi châu.

Tuy nhiên, các Giáo hội Nam bán cầu là những Giáo hội nghèo về vật chất, nhiều nơi bị đè nặng bởi những tổ chức xã hội và chính trị. Nhiều Hội đồng Giám mục có thái độ bảo thủ phải đương đầu với các phong trào đòi đổi mới như phong trào thần học giải phóng gần với chủ thuyết Cộng sản. Ðó là chưa nói đến khối khổng lồ các tôn giáo khác, như Hồi giáo, Ấn độ giáo, Phật giáo và các môn phái nhỏ (sectes) khác đang lấn dần và tiêu mòn sức sống Giáo hội Công Giáo. Một vị Giám mục Nam Mỹ cho biết hàng tháng, Giáo hội mất vài trăm tín hữu ngã hẳn về phía nhóm Hiện xuống (Pentecôtisme) lấy tiền bạc để dụ dỗ đám dân nghèo.

Nhìn qua bản đồ thế giới, người ta thấy Giáo hội Công Giáo nghiêng hẳn về phía Nam bán cầu. Cứ trong số 100 tín đồ Công Giáo hiện nay, có 43 người Nam Mỹ, 9 người Bắc Mỹ (trong số đó có 2 người gốc Mỹ Latinh), 29 người Âu Châu, 10 người Phi Châu, 8 người Á Châu, và 1 người Úc Châu.

Ðể phân ranh những miền mà đạo Công Giáo là đa số hay thiểu số, là sức mạnh hhay nhược điểm, chúng ta thử phỏng một cái nhìn vào thực trạng của Giáo hội ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ, ở Á Châu và Phi Châu, ở Âu Châu và Trung Ðông. Mục đích không phải là làm một cuộc nghiên cứu kỹ càng cho bằng để nhận thức sự cổ kính và sức mạnh, cũng như sự bấp bênh nào đó của sự hiện diện của Giáo hội Công Giáo trên thế giới ngày nay. Giáo hội không cần sự tự đắc chiến thắng cho bằng cần hiểu biết sự thật, để hành xử, để hướng nỗ lực vào những nơi cần hơn cả.

Trước hết, chúng ta thử nhìn vào Mỹ Châu, Bắc cũng như Nam.

Ðạo Công Giáo nhập vào Mỹ Châu năm 1492, khi cây Thánh giá được dựng lên trên miền đất mới.

Mùa Hè năm 1492, Christophe Columbus đến trình diện hoàng gia Tây ban nha, xin bảo trợ dự án tìm một con đường hàng hải mới đi về Ấn độ.

Ngày 3 tháng 8 năm 1492, khi trời vừa sáng, Columbus dẫn ba thương thuyền tiến ra khơi. Lênh đênh trên mặt biển hơn hai tháng, Columbus nhìn thấy đất liền.Ông tưởng rằng mình đã đến vương quốc đại đế Khan mà trước đây nhà thám hiểm người Ý Marco Polo đã mô tả như một nước đầy vàng đầy bạc.

Ông vừa đặt chân đến đảo Cuba mà ông đặt tên là Juana, để kính dâng Hoàng tử Juan, con trai của Vua Tây ban nha, mệnh danh là nhà vua Công Giáo (1492).

Yunque de Baracoa là nơi đất hiện ra đầu tiên trong cuộc hải trình. Một rặng núi có hình một dụng cụ thợ rèn là phần đất đầu tiên, ló hiện ra dưới tầm mắt của nhà mạo hiểm và sau này được coi như hướng chỉ nam của các cuộc hải trình.

Quang cảnh của vịnh, rồi đồi núi trùng điệp với giòng nước trong veo, đã làm cho Columbus say mê xúc động. Nhà sử học Hartman viết – "Baracoa làm cho nhà thám hiểm sau mê như bị một tiếng sét. Ông dừng lại đây lâu hơn cả trong cuộc hải trình đầu tiên. Và ở đây, ông quyết định để lại cây Thánh Giá bằng gỗ mà ông đã đem theo khi xuất hành."

Ðây là một vinh dự cho Cuba và cho cả Châu Mỹ.

Ðây là kỷ niệm quí giá còn được lưu giữ từ thời xa xưa ấy. Những thí nghiệm khoa học đã minh chúng cách chắc chắn cây Thánh giá thất của Columbus để lại.

Và ngày nay Thập Tự giá được lưu giữ tại Thánh đường Baracoa.

Hơn nữa, nhà thám hiểm đã để lại nhiều sử tích về người thổ, dân bản xứ, cách ăn mặc, lối sinh sống, di chuyển...

Tại đây, năm 1511, thành phố đầu tiên được thiết lập mang tên là Nuastra Senõra de la Asunción ("Ðức Mẹ Mông Triệu").

Năm 1510, một năm sau khi họ thấy rằng Cuba là một hòn đảo, Diego Velasquez được lệnh chiếm giữ toàn đảo. Thổ dân đã chống cự mãnh liệt. Họ lại như bị diệt chủng do sức người da trắng và chỉ còn khoảng trên 100 nhân danh hiện nay sống trên sườn núi cheo leo hiểm trở.

***

Colombus tổ chức những cuộc hải trình, như ông nói: "Vì Thiên Chúa và vì tiền bạc". Ông đặt tên cho các phần đất mới được khám phá bằng những danh xưng như San Salvador Santa Maria, Trinidad … như để "rửa tội" cho nó và truyền bá Ðức Tin. Giáo hội đã trở nên một đại gia đình, mở rộng vòng tay ôm cả thế giới.

Khi Colombus trở về, ông đến trình diện Nữ hoàng Isabella tại Công trường Barcelone và giới thiệu một số thổ dân ông mang theo muốn tòng giáo. Họ được rửa tội tại Vương cung Thánh đường và được Hoàng hậu đỡ đầu.

Một trang sử mới vừa mở ra.

Trong cuộc hải trình lần thứ hai, nhà Vua truyền mang theo một nhóm thừa sai thuộc dòng Biển Ðức, dưới sự điều khiển của Cha Bênađô Boil.

Lễ Hiển linh 1494, Thánh lễ đầu tiên được cử hành ở Tân Thế giới (Châu Mỹ) tại Haiti.

Công cuộc truyền giáo khai mở cách tốt đẹp. Nhưng những tay buôn giang hồ từ chiếng đã làm hoen ố công cuộc ấy, chỉ vì muốn ham lợi . . . ra đi không phải vì Chúa mà vì "vàng".

Dầu sao, công cuộc truyền giáo của các vị Thừa sai thật là đặc biệt. Trong vòng 20 năm, đã có hàng triệu người được Rửa tội. 5 tỉnh Dòng Phanxicô và 3 tỉnh Dòng Ðaminh có mặt tại Nam Mỹ. Và ngày nay hơn nửa dân số Công Giáo hoàn vũ thuộc Mỹ Châu.

Tuy nhiên, sau những kết quả ấy, như vừa nói, ẩn hiện những tệ hại lớn lao. Cuối thế kỷ XVI, các cha Dòng Tên, những người tiên phong trong hoàn cảnh, đã lập ra những "khu tự trị" ở Paraguay. Các ngài ở với thổ dân, học tiếng của họ để dạy dỗ, dịch Thánh Kinh cho họ. Không một người da trắng nào có thể đặt chân đến khu tự trị. Nếu đến bằng vũ lực thì các ngài cùng thổ dân đi vào rừng sâu xa xôi hơn. Cuốn phim Les Missions mô tả lại phần nào tấn bi kịch ấy.

Một giai đoạn bi ai khác tiếp diễn do ý kiến của Giám mục Bartholomê de las Casas (1474-1566) ở Mễ Tây Cơ, người bảo trợ dân bản xứ da đỏ. Nhận thấy người da đỏ hợp thủy thổ, nhưng vóc dáng và sức mạnh yếu kém, người đề nghị dùng người da đen ở Phi Châu thay vào để khai khẩn những đồng bằng bao la. Một cuộc săn ngưòi từ những khu rừng rậm Phi Châu xuất cảng hơn 10 triệu người da đen qua Mỹ Châu làm nô lệ cho người da trắng. Một vết nhơ trong lịch sử truyền giáo do những người thực dân tự nhận là Công Giáo nhưng thật ra chỉ biết có tiền.

Năm 1992, trong cuộc công du đến quần đảo Gorée ở Senegal, Ðức Gioan Phaolô II đã lên tiếng xin lỗi vì những tội phạm người ta đã tiến hành nhân danh Giáo hội Công Giáo, vào dịp mừng kỷ niệm 500 năm truyền giáo ở Châu Mỹ Latinh, một lễ kỷ niệm đã quậy lên nhiều luồng tư tưởng ủng hộ và chống đối.

 

Bài 10: Giáo Hội Nam Mỹ Và Bắc Mỹ

A. Giáo Hội Nam Mỹ

Vùng Nam Mỹ hay Châu Mỹ Latinh có chừng 390 triệu người Công Giáo, nghĩa là 4 trong số 10 người Công Giáo trên thế giới. Xét về nhân số, đây là địa bàn "mạnh" của Giáo hội.

Năm 1992, Nam Mỹ đã mừng kỷ niệm 500 năm truyền giáo do các vị thừa sai đầu tiên đã cùng nhà thám hiểm Christophe Colombus đặt chân đến xứ này. Chiếm tỷ lệ 40 % số dân Công Giáo hoàn vũ, Giáo hội Công Giáo tại Nam Mỹ tuy thế bao gồm ở bên trong nhiều vấn đề phức tạp cũng như nhiều phân tán, cách riêng ở những đô thị lớn còn mang nhiều tính cách và tập tục thổ dân.

Người dân rất sùng đạo, nói được là sùng đạo nhất thế giới. Nhưng lối sùng đạo được pha trộn với những lễ giáo phát xuất từ Phi Châu do phong trào mua bán nô lệ xa xưa gia nhập vào. Như môn phái Voudou ở Trung Mỹ, như giáo phái Condombe và Umbanda ở Brasil, một thứ hỗn hợp kỳ lạ giữa các mê tín sắc tộc và đạo Công Giáo. Người dân vẫn đi nhà thờ nhưng lại giết gà trống lấy máu tế thần (Voudou).

Trong một Giáo hội trước đây được coi là thủ cựu và thừa hưởng di sản của thời thực dân phong kiến, Công đồng Vatican II (1962-1965) đã thổi vào một luồng khí cách mạng còn lớn lao hơn cả ở Âu Châu. Cuộc cách mạng đổi mới ấy được thực hiện bởi Hội đồng các Giám mục Châu Mỹ Latinh, gọi tắt là CELAM nhóm họp lần đầu tiên tại Medelin xứ Colombia năm 1968 và lần thứ hai tại Puebla ở Mễ tây Cơ năm 1979.

Hội đồng đã quyết định hai dữ kiện, lần đầu tiên cách mạng hoá não trạng đương thời và mở đường cho một tưong lai sáng chói. Ðó là "việc dành ưu tiên cho giới nghèo" và "việc theo sát Tin Mừng Phúc âm."

Quyết định tối cao trong hàng ngũ chỉ đạo của Giáo hội vừa có tính cách chính trị và dân chủ, vừa cổ võ công bằng xã hội, đã làm rung chuyển nhiều nhà lãnh đạo quốc gia Trung và Nam Mỹ đương thời, đang chọn con đường bạo động và tham ô, nhất là ở các quốc gia do quân nhân nắm chính quyền.

Với sự lựa chọn ấy, hàng Giám mục tỏ ra cương quyết, không im lặng trước những bạo động xảy ra, tích cực hỗ trợ cho những người thiện chí, những chiến sĩ Công Giáo, nhưng linh mục tu sĩ, những nhà thần học, những giáo dân dấn thân đang tranh đấu, đang tố cáo những bất công, những xâm phạm đấn tự do và quyền lợi con người trong những vụ bắt cóc, thủ tiêu, đày ải. Và nhất là trong vụ tranh đấu đòi hỏi một cuộc cải cách ruộng đất, người giầu làm chủ quá nhiều trong khi dân nghèo không có một khoảng đất cắm dùi, cũng như trong việc buôn bán bạch phiến mà xứ Colombia là nơi khét tiếng.

Vì thế, trong các nước do thám độc tài quân phiệt cai trị, như ở Brasil từ năm 1964 đến 1985, ở Chí lợi từ 1973 đến 1990, ở Argentine từ năm 1976 đến năm 1983, và trong một thời gian ngắn hơn như ở Bolivia, Peru, Panama, Guatemala, Haiti, Giáo hội Châu Mỹ Latinh nổi bật lên như một Giáo hội dấn thân, được sự hỗ trợ của những tổ chức nồng cốt như những "Cộng đoàn cơ bản" (Communauté de base) đó là những cơ cấu nhỏ trong những họ đạo các thành phố lớn hoặc ở miền thôn giả, qui tụ một số dân chúng để sống đạo, để thực thi giáo thuyết xã hội và cả về mặt chính trịn nữa.

Cũng cần phải nói đến những bậc vị vọng cấp tiến như Ðức Cha Helder Camara ở Brésil, Ðức Cha Francesco Larrain, người sáng lập khu Tông toà tương trợ rất danh tiếng ở Santiago (Chile), Ðức Cha Samuel Ruiz, người bênh vực bộ lạc Chiapas da đỏ ở Mễ tây Cơ v.v…

Nhiều chiến sĩ Công Giáo đã hy sinh mạng sống vì đã cả dám tố cáo những bất công và đàn áp, như Ðức Cha Angelleli ở Argentine năm 1976, Ðức Cha Romero, Tổng Giám mục San Salvador năm 1980 và các cha Dòng Tên ở Trường Ðại học Trung Mỹ ở San Salvador năm 1989.

Cũng nên nói đến Phong trào Thần học Giải phóng của các linh mục Gustavo Gutierez ở Peru và của Leonardo Boff ở Brasil. Những nhà thần học cấp tiến này muốn "đọc" lại Phúc Âm theo tiêu chuẩn một giải thích xã hội, danh từ cứu độ được thay thế bằng danh từ giải phóng với những cuộc tranh đấu giai cấp rất gần với quan niệm Mác-xít. Leonardo Boff, thuộc Dòng Phanxicô đã bỏ Dòng và Giáo hội, vì không muốn tuân phục. Ðức Hồng y Tổng trưởng Thánh bộ Ðức Tin Joseph Ratzinger đã công bố hai văn kiện kêu gọi phải chú ý đến ảnh hưởng của Phong trào Thần học Giải phóng khi dùng những tư duy và phương thức Mác-xít và phải giải thích đâu là "giải phóng theo Phúc Âm".

Một tai họa lớn phát sinh và ăn dần tiềm năng phát triển của Giáo hội là sự xuất hiện của nhiều tiểu phái (sectes); những giáo phái này tự coi như là đối thủ chính của Giáo hội Công Giáo Nam Mỹ Latinh. Các giáo phái phát triển mạnh vì nhiều lý do. Một là dân chúng các miền ồ ạt bám vào các thành phố lớn. Hai là dân số quá đông và dần dần thế tục hoá, mất niềm tin. Ba là thế lực tiền bạc của những tổ chức Tin lành ở Bắc Mỹ quá mạnh lôi kéo đám dân nghèo theo. Ðồng thời, dân chúng thích mới lạ, được trợ cấp mà không phải làm gì nặng nhọc, trong khi số những chiến sĩ Công Giáo dấn thân càng ngày càng ít dần không gây lại được kết quả. Theo một bản tin nội bộ Hội đồng Giám mục Brasil, mỗi năm có gần 600.000 người Công Giáo ngã qua Tin lành (Nguyệt san Ste Anne de Beaupré tháng 10/1990). Ðó là lý do của sự sút kém đáng lo ngại của Giáo hội nam Mỹ Latinh hiện nay. Tuy nhiên Giáo hội đang cố gắng vươn lên và đổi mới.

 

B. Giáo hội Bắc Mỹ

Giáo hội Công Giáo Bắc Mỹ phô bày một bộ mặt khác hẳn, Giáo hội Bắc Mỹ gòn hai Giáo hội lớn là Hoa Kỳ và Canada.

Giáo hội Công Giáo Canada trước đây, cách riêng ở Québec, là một Giáo hội rất phồn thịnh. Nhưng rồi, như lời của Ðức Cha Bernard Hubert, Giám mục Saint Laurent, "đã có một trận động đất" khiến cho Giáo hội Canada bị chao động mạnh. Một thế hệ đã thay đổi. Việc ly dị đã tăng vọt trong 20 năm nay, lên đến 4 lần, cứ 5 cuộc hôn nhân thì có 3 cuộc đổ vỡ. Số các linh mục giảm đi gần một nửa. Việc xem lễ Chúa nhật bới đi 20%. Montreal, một đô thị lớn với 5 triệu dân thì nay chỉ có 1 triệu Công Giáo và hơn 300 giáo phái (sectes) nhỏ.

Tuy nhiên, Giáo hội Canada là một giáo hội năng động, nhất là trong lãnh vực truyền giáo. Hiện có 11 giám mục, 1.375 nam thừa sai và 2.072 nữ tu thừa sai đi truyền giáo hải ngoại.

Canada có dân số trên 23 triệu trong đó có 11 triệu người Công Giáo trên một lãnh thổ 10 triệu cây số vuông rộng mênh mông sau Nga sô. Người nói tiếng Pháp chiếm 30% và người gốc Anh chiếm 40%. Ngoài 600.000 ngưòi Amerindien (thổ dân) còn có 60 thành phần di cư từ các nơi trong đó có người Việt Nam.

 

Giáo hội Công Giáo Hoa Kyø là một Giáo hội lớn về mọi mặt. Người Công Giáo chiếm 21,72% nghĩa là có 56.613.000 trong tổng số dân cư 260.650.000. Anh em Tin lành đủ mọi hệ phái chiếm khoảng 50%. Hệ phái Baptistes có 15 triệu và là hệ phái quan trọng nhất ở miền nam.

Giáo phận Baltimore là giáo phận đầu tiên của Giáo hội Hoa Kỳ được thiết lập năm 1784 với 25.000 giáo dân. Nhưng vào những năm 1819-1830, làn sóng di cư Công Giáo ồ ạt đến khiến cho những người "tiền phong" Tin lành hoảng sợ phát sinh các phong trào chống đối như Ku Klux Klan (1866) và "Những người bảo vệ tự do" (1881). Nhưng Giáo hội tiến mạnh về số và lượng, có 7 Công đồng Baltimore đặt căn bản cho đời sống Công Giáo Hoa Kỳ. Vấn đề giải phóng nô lệ da đen đem lại cho các giáo xứ Công Giáo, nhất là ở miền nam, nhiều tím đồ như ở Lousiana, Maryland. Ðức Hồng Y James Gibbons (1834-1926) của Baltimore là người nổi danh vì bênh vực giới thợ thuyền. Ngài đích thân đi Lamã gặp Ðức Lêô XIII, Thông điệp Rerum Novarum sở dĩ có là do ảnh hưởng của ngài. Nhưng Ðức Lêô XIII lại lên án thuyết Americanisme đặt trọng tâm duy nhất vào việc hoạt động và coi nhẹ đời sống chiêm nghiệm và cầu nguyện.

Tuy nhiên, vấn đề kỳ thị chủng tộc vẫn là cái gai của xã hội Hoa kỳ. Giữa năm 1995, có 43 nhà thờ người da đen ở miền nam Hoa Kỳ bị đốt cháy. Các giám mục lên án "những hành động kỳ thị da màu." Nước Mỹ đã ghi vào hiến pháp lên án mọi kỳ thị, mọi phủ quyết vì da màu, chủng tộc, tôn giáo nhưng người dân vẫn không gạt bỏ được tệ đoan ấy.

Người Công Giáo gốc Mỹ Latinh chiếm gần một nửa tổng số người Công Giáo Hoa kỳ, nghĩa là trên 20 triệu. Họ mang đến cho Giáo hội một bộ mặt bình dân, vui tươi, rất khác biệt với lối sống đạo nghiêm khắc của người Mỹ gốc Ý, Balan, Ái Nhĩ Lan. Ðức Gioan Phaolô II tại Saint Domingue năm 1992 đã kêu gọi sự hợp tác, đề nghị có một Thượng Hội đồng Giám mục của Bắc-Nam bán cầu.

Giáo hội Công Giáo Hoa kỳ là một Giáo hội lớn mạnh vào bậc nhất. Phải trải qua 200 năm Giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ mới được coi là có chân tại chỗ, không còn phải là giáo hội di dân, bên cạnh những Giáo hội Tin lành vốn giàu có, thuộc da trắng và nắm giữ chính quyền. Biểu tượng sự nhìn nhận ấy là việc ông John F. Kennedy được bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ năm 1960, vị tổng thống Công Giáo đầu tiên và duy nhất cho đến nay. Từ đây, người Công Giáo có chân trong thành phần đa số chủ trương bênh vực những giá trị khoan dung và tự do, bảo vệ sự sống, chống phá thai và an tử.

Dĩ nhiên, không phải mọi điều diễn ra tốt đẹp đối với Giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ. Chẳng hạn, theo bản thống kê của Viện Gallup năm 1992 thì 84% người Công Giáo chủ trương theo lương tâm trong vấn đề điều hoà sinh sản. Và, cũng theo Viện Gallup năm 1993, 76% đề nghị cho linh mục lập gia đình và phụ nữ chịu chức linh mục. Rồi Phong trào thăng tiến phụ nữ hoạt động nhiều khi cực đoan gây những ảnh hưởng không tốt trong hàng ngũ Giáo hội Hoa Kỳ.

Nhưng cũng phải công nhận rằng ở Mỹ, 1/4 số phụ nữ Công Giáo đã dấn thân trong mục vụ giáo xứ, lo việc nhà thờ. Cả các trẻ em cũng góp phần xây dựng tình bác ái; trong Mùa Chay, các em các trường Công Giáo nhịn một phần ăn của mình, đủ để nuôi hàng triệu trẻ em khác trên thế giới.

Hàng giám mục Mỹ cũng có nhiều vị chủ chiên thật xuất sắc, như Hồng Y John O’Connor, Tổng Giám mục New York, Hồng Y Bernard Law, Tổng Giám mục Boston, người có mặt trong cuộc biểu tình ngoài đường phố để chống phá thai. Nhất là cố Hồng Y Joseph Bernardin, Tổng Giám mục Chicago. Trước khi từ trần vì bệnh ung thư, ngài đã viết một lá thư cho 9 vị thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa kỳ để xin đừng pháp lý hoá việc trợ tử, vì đó là điều nghịch luân lý. "Và chính ngài đã nêu cao gương sáng chấp nhận mầu nhiệm đau khổ và sự chết". (Thư phân ưu của Ðức Gioan Phaolô II, ngày 14.11.1996). Chính phủ Hoa kỳ đã tặng cho ngài "Huy chương Tự do", huy chương tối cao của quốc gia, để tưởng thưởng công ngài đã dấn thân giúp người nghèo và đem lại sự hoà giải trong các tầng lớp xã hội.

Nói được là hàng Giám mục Hoa kỳ với những cuộc họp thường niên hai lần đã tỏ ra xuất sắc trong việc lãnh đạo Giáo hội với những cuộc tranh đấu vào thập niên 1960 cho nhân quyền, cho sự bình đảng của người da đen. Và sau này, nhiều văn kiện có tiếng vang trong quần chúng và dư luận quốc tế như văn kiện về khí giới nguyên tử, văn kiện về những sai lầm của chế độ tư bản. Một điểm son nữa là việc hành đạo ở Hoa kỳ có phần sốt sắng hơn nhiều nơi khác trên thế giới.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com