THIÊN CHÚA CHA, ÐẤNG PHÁN HỨA Lm. Trịnh Ðức Hòa, C.Ss.R. Qua trình thuật tạo dựng vũ trụ, tác giả sách Khởi Nguyên từng cho thấy lời Thiên Chúa phán là lời đầy quyền phép và hữu hiệu: "Thiên Chúa phán . . . . Và đã xảy ra như vậy". Riêng đối với con người vốn được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và hành xử như những chủ thể tự do, lời Thiên Chúa phán không chỉ đơn thuần là lời truyền khiến hay mệnh lệnh, nhưng còn được tiếp nối và củng cố bằng lời đoan hứa. Thực vậy, đoan hứa luôn là tác động của kính trọng, của yêu thương. Có yêu nhau mới dám đoan hứa, thề nguyền. Thề hứa trung tín yêu nhau là khẳng định một chọn lựa duy nhất cho cả đời, bất chấp mọi biến thiên cay nghiệt của cuộc sống. Cũng thế, trước sự mỏng manh của thế giới vật chất hay bất nhất của lòng người, điều gì sẽ là nền tảng vững bền bất biến, giúp bảo đảm cho chương trình sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa được hoàn thành viên mãn? Ðể trả lời câu hỏi này, Kinh Thánh tiếp tục giới thiệu cho chúng ta chân dung Thiên Chúa Ðấng Tạo Thành còn là Ðấng ban lời hứa với Dân Người như một bảo đảm chắc nịch cho mọi khát vọng khôn nguôi về hạnh phúc và cứu rỗi nơi con người. Bài suy tư này sẽ giúp duyệt qua những lời Thiên Chúa đoan hứa với Dân Người qua dòng thăng trầm lịch sử.
Lời Hứa Cho Các Tổ Phụ Một trong những chứng chỉ cổ xưa nhất của Cựu Ước còn lưu tồn là lời thề ước hùng hồn của Thiên Chúa Giavê với Abraham: "Ta lấy mình Ta, Ta thề . . . Lời hứa này thực ra chỉ quảng diễn thêm và và khẳng định lại lời Giavê đã nói với Abraham lúc kêu gọi ông từ bỏ quên cha đất tổ: "Hãy đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán
ngươi, Ba lời kêu gọi từ bỏ: xứ sở, quê quán và nhà cha tương ứng với ba lời đoan hứa về đất đai, dân lớn, và chúc lành. Giavê không hề ra lệnh độc đoán lạnh lùng mà không kèm theo một cam kết sẽ bồi hoàn và tưởng thưởng trọng hậu! Lời hứa về dòng giống và đất đai cho Abraham không đòi hỏi một điều kiện tiên thiên nơi ông, song đơn thuần bắt nguồn từ sáng kiến của Giavê muốn trao ban nhưng không. Từ đây, nhiều truyền thống Do-Thái hậu thời khác sẽ luôn trở về khởi điểm linh thiêng này để tìm lại sinh khí và cảm hứng tinh khôi: ". . . ngõ hầu phúc đến cho ngươi "Người đã kéo chúng ta ra khỏi đó, Dòng lịch sử đã minh chứng rằng chính xác tín mạnh mẽ này đã làm Do-Thái nên một dân tộc kiên cường bất khuất trước mọi chướng ngại và vũ lực để luôn dõng dạc đi tới. Ðã hẳn, sức mạnh này không xuất tự đường gươm mũi giáo, nhưng đến tự chính lời Giavê phán hứa. Lời hứa của Thiên Chúa không thể phù phiếm như lời người phàm, trái lại luôn đầy thần lực và đáng cậy tin để thực hiện cho kỳ được ý muốn đem lại sự sống và phúc lợi cho Dân Chúa cùng muôn loài, dẫu đang phải đối đầu cảnh ngộ bi thương cùng khốn. Ðiển hình cho việc Thiên Chúa trung tín với lời đoan hứa là sự kiện Giavê (hay ba người khách lạ) đã đến thăm Abraham và Sara khi đã ông bà đã cao niên mà vẫn chưa được mụn con nào (Kn 18:1-15). Làm sao lời Giavê phán hứa còn đứng vững khi hai ông bà không con, không người nối dõi và không còn hy vọng thụ thai được nữa? Không con đồng nghĩa với không tương lai, không đất hứa. Phải chăng Giavê đã quên lời hứa khi xưa? Hay Ngài thất tín? Chỉ biết một điều là hai ông bà đang phải cảnh chờ trông vô vọng. Cho đến bao giờ? Chính trong buổi hoàng hôn vô vọng mà người khách lạ xuất hiện để tuyên bố một điều dị thường: "Sara sẽ có con trai" (Kn 18:14). Thường tình, những lời lẽ bất ngờ như thế chỉ gây ngạc nhiên đến khó tin hay khôi hài pha diễu cợt. Thế mà lời hứa ấy đã thành tựu và cảnh ngộ hầu như vô vọng kia được khắc phục bởi lòng tín trung đáng tin cậy của Giavê. Ðiều đã không có thể đối với con ngườių nay trở thành điều có thể với Thiên Chúa: "Sara đã có thai và sinh con trai cho Abraham vào lúc tuổi già, vào thời Thiên Chúa đã nói" (Kn 21:2). Qua việc thực hiện lời đã hứa, Giavê đồng thời như muốn biểu dương niềm tin son sắt của Abraham đã từng được tôi luyện không ngừng, để nên xứng đáng với lời Thiên Chúa hứa về ông "sẽ là cha nhiều dân tộc: (Kn 17:5). Chính vì niềm tín thác không lay chuyển vào lời Chúa hứa mà Phaolô đã nhận Abraham là tổ phụ của những người tin: "Tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông, ông đã tin là ông sẽ là cha nhiều dân tộc, theo lời đã phán: Dòng giống ngươi sẽ như thế . . . . Ðối với lời hứa của Thiên Chúa, ông đã không cứng tin mà hoài nghi; trái lại, ông đã nên cường tráng trong lòng tin, mà tôn vinh Thiên Chúa, chắc chắn rằng điều Người đã hứa, Người cũng có quyền năng để thi hành" (Rm 5:18, 20-21). Cứ thế, lời Thiên Chúa phán hứa lại được tiếp tục truyền lại cho thế hệ kế tiếp là Isaac: "Ta sẽ ở với ngươi, Ta sẽ chúc lành cho
ngươi, Ta sẽ ban cho dòng giống ngươi tất cả các xứ này.
Một lần nữa, ba lời hứa cho tổ phụ về dòng giống, đất đai và chúc phúc được nhắc lại để xác quyết rằng Giavê là Ðấng trung tín, hằng ghi nhớ lời hứa và sẽ hoàn thành lời hứa ấy. Như thế, đồng một lúc Giavê vừa thực thi lời Người phán hứa, vừa tiếp tục trao ban lời hứa cho hậu duệ Abraham. Và khi lời hứa một lần nữa bị thử thách trong trường hợp bà Rebecca, vợ Isaac, lâm cảnh hiếm muộn như bà Sara trước kia, chỉ nhờ hồng ân Thiên Chúa mà bà đã hạ sinh Êsau và Giacob. Ðiều lạ là Giavê đã chọn Giacob, người em, để làm kẻ thừa tự những lời hứa lời hứa về dòng giống, đất đai và chúc phúc: "Ta là Giavê, Thiên Chúa của Abraham cha ngươi, Một chuỗi những lời hứa nối tiếp trong các thế hệ đã đem lại cho Dân Chúa một bản sắc tinh thần độc đáo, đó là một dân sống nhờ vào lời hứa của Thiên Chúa để sinh tồn và tăng trưởng ngay giữa những tình thế mong manh nguy khốn. Có thể nói, không có lời hứa của Giavê, tất không có khả năng tồn tại, khác chi "con không cha như nhà không nóc". Bởi ẩn tàng trong từng lời phán hứa là hai tác động song đôi then chốt này: chúc phúc và ban tặng. Chúc phúc là nói đến quyền năng Thiên Chúa làm cho sống. Vì Thiên Chúa là chủ sự sống, việc truyền sinh và lưu tồn dòng giống là thuộc thẩm quyền Thiên Chúa. Có ý thức về giới hạn của con người, hầu đặt trọn niềm cậy trông vào Ðấng ban sự sống, là bước thứ nhất cần thiết để lãnh nhận lời chúc phúc của Thiên Chúa. Thứ đến, chúc lành truyền sinh và năng lực triển nở, cả hai là dấu chỉ của sự ban tặng nhưng không, mà quà tặng cụ thể nhất của Giavê là ban đất hứa làm cơ nghiệp. Ðối với đoàn dân du mục sống kiếp lang thang vô định, được một mảnh đất "chảy sữa và mật" để an cư lạc nghiệp và bảo tồn nòi dống hẳn là một ước mơ mòn mỏi một đời. Ðất vì thế là điều kiện không thể thiếu cho đời sống. Từ đây, lời hứa ban đất sống không chỉ dành riêng cho một cá nhân hay một tổ phụ, nhưng dần dà bao gồm cả dân tộc Do-Thái.
Lời Hứa Cho Nhà Ðavít và Các Ngôn Sứ Qua thời các tổ phụ đến thời các vua, Giavê tiếp tục ban những lời hứa mới nhuốm màu sắc triều đại Mêsia. Từ môi miệng ngôn sứ Nathan, lời hứa về một triều đại vĩnh cửu được tiên báo: "Lòng nhân nghĩa của Ta sẽ không rời xa nó, Cung giọng trang trọng của lời hứa này ngân vang lời nguyền dành cho các tổ phụ ngày nào: "Một lần Ta đã lấy thánh đức của Ta mà
thề, Tiếp nối lời hứa cho nhà Ðavít, văn chương sứ ngôn đầy ắp những lời hứa nồng nhiệt của Giavê cho đoàn dân đang phải nhiễu nhương lầm than. Vô vàn những hình ảnh tươi mát hứa hẹn một tương lai xán lạn theo nhau xuất hiện: như cảnh thịnh vượng sẽ về lại Giêrusalem, thành đô của thánh luật Torah (Isa 2;2-4; Mic 4:1-5); một tân vương sẽ thực thi công lý (Isa 11:1-5), người sẽ phục hồi thế giới vốn đầy thù hận (Isa 11:6-9); một miền đất mới sẽ được phục hồi để đem lại phong nhiêu phú túc (Amos 9:11-15); và sức mạnh cùng phúc lợi sẽ được phục hồi (Hab 3:18-19). Ý nghĩa nhất vẫn là việc cải tạo chính tâm lòng con người, được ngôn sứ Êzêkiel nói đến trong một áng văn tươi sáng của Kinh Thánh: "Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân. Bàng bạc trong lời triệu hồi dân lưu đầy về quê cha đất tổ là lời hứa ban đất đai cho các tổ phụ xưa kia. Ðiều này chứng tỏ Giavê luôn là Ðấng tín trung với những lời cam kết Người đã ban cho các tổ phụ. Ðáng lưu ý là nay đất hứa đã nên cơ sở vật chất cụ thể cho một thực tại tinh thần linh thiêng và cao quý hơn, đó là nhận biết Giavê là Thiên Chúa độc nhất đáng tôn thờ: "Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi" (Êzêk 36:28; cf. Jer 11:4; 24:7; 30:22; 32:28; Ezêk 11:20; 14:11; 37:23, 27; Hos 2:23).
Lời Kết Ðoan hứa là ngôn ngữ của yêu thương. Giavê Thiên Chúa, vì tình thương vô điều kiện đối với các tổ phụ cùng hậu duệ Abraham, đã liên tục trao ban lời hứa bao vệ Dân Người trong mọi tình huống lịch sử như dấu chứng một lòng ưu ái đặc biệt đến muôn đời. Lời hứa được trao ban một trật vừa là lời cam kết, vừa là lời chúc phúc và ban tặng. Cơ sở vững chắc của lời Giavê hứa không gì khác ngoài chính Danh Giavê chí thánh và quyền năng; Giavê lấy chính mạng mình mà thề! Một thái độ nồng nhiệt lạ lùng như thế cốt để làm phát sinh nơi Dân Chúa một niềm trông cậy phơi phới, một cõi hy vọng sắt son, vốn vô cùng cần thiết cho con người đang trôi nổi giữa một thế giới nhiều biến thiên bất định. Con người sẽ ra sao nếu sống không hy vọng? Nhưng ai nào dám hy vọng nếu không nhận được lời hứa? Mà ai dám nhận lời hứa nếu không tin yêu người hứa? Thì ra, lời hứa và người hứa tuy hai mà một; nhất là người ấy lại là Giavê Thiên Chúa, Ðấng hằng trung tín. Lịch sử cứu độ được đan dệt bằng chuỗi lời hứa kèm theo những ứng nghiệm rỡ ràng. Bằng những đoan hứa chắc nịch, Thiên Chúa như người thủy thủ cầm lái, dẫn đưa lịch sử vượt qua cả những thác ghềnh nghiệt ngã, đến bến bờ cứu rỗi. Thật vậy, những gì Giavê Thiên Chúa đã đoan hứa và thực hiện trong quá khứ đã nên chứng từ hùng hồn cho những dự phóng cứu độ lạ lùng được Chúa Cha viên thành trong Con Một là Ðức Giêsu Kitô. Lời chúc vinh hân hoan của Zacaria đã bày tỏ niềm xác tín này: "Chúc tụng Ðức Chúa là Thiên Chúa Israel, Còn bạn, bạn có dám tin vào lời hứa của Chúa Cha đã dành cho bạn trong Chúa Kitô Cứu Thế không? Phúc cho bạn "không thấy mà tin"! Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |