CHÚA NHẬT II PHỤC SINH 11-04-1999 Acts 2:42-47; 1 Pet 1:3-9; Jn 20:19-31 KHI VẾT THƯƠNG TRỞ THÀNH CHIẾN TÍCH "Nếu nơi tay Ngài, tôi không thấy các dấu đinh, và tra tay tôi vào lỗ đinh, cùng tra bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, tôi sẽ không tin!" Tin Mừng hôm nay thuật lại hai lần Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ sau khi Người sống lại. Lần thứ nhất Chúa hiện ra với các môn đệ vào xế chiều "ngày thứ nhất trong tuần", tức là chiều Chúa Nhật Phục Sinh đầu tiên. Lần ấy Thôma vắng mặt. Tám ngày sau Chúa hiện ra với họ lần thứ hai. Lần này Tôma có mặt và đã tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu Phục sinh. Thời gian nối kết hai lần hiện ra này làm thành Tuần Bát Nhật Phục Sinh đầu tiên trong lịch sử Kitô giáo. Một điểm đáng chú ý trong cả hai lần hiện ra này của Chúa Giêsu là các dấu đinh trên đôi tay và vết thương do lưỡi đòng đâm thâu nơi cạnh sườn Người đã được dùng như một chứng cớ để xác định căn tính của chính Người, để đem lại niềm vui và bình an cho các môn đệ, và nhất là để củng cố niềm tin cho Tôma, đại diện của những người bi quan và cứng lòng hơn cả. Thực vậy, khi Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ vào lúc xế chiều ngày Phục Sinh, sau khi chúc bình an cho họ Chúa Giêsu đã "cho họ thấy tay và cạnh sườn Ngài" (Jn 20:20). Và "các môn đồ mừng rỡ, vì được thấy Chúa" (Jn 20:20). Rồi "một lần nữa Ngài nói với họ: Bình an cho các ngươi" (Jn 20:21). Khi chỉ cho các môn đệ thấy tay và cạnh sườn Người, Chúa Giêsu muốn cho họ biết rằng Ðấng Phục Sinh cũng chính là Ðấng vì yêu thương đã chịu đóng đinh trên thập giá, chịu chết và chịu lưỡi đòng đâm thâu qua để cứu chuộc họ và toàn thể nhân loại. Các môn đệ vui mừng cũng vì cùng một lý do: Người đang hiện diện trước mặt họ và vừa chúc bình an cho họ chính là Thày yêu dấu của họ, là Người đã từng chung sống với họ, là Người đã từng nói trước với họ về việc Người sẽ chịu bắt bớ, chịu lên án, chịu đau khổ, chịu chết trên thập giá và ngày thứ ba sẽ sống lại. Với lời chúc bình an cho các môn đệ lần thứ hai, Chúa Giêsu đã xác định sự an bình và niềm vui mà họ đang cảm nhận và một sự an vui đích thực, vững chắc và không thể sai lầm. Vì chưa được gặp gỡ Chúa Phục sinh, Tôma đã đặt điều kiện cho niềm tin của ông vào Tin Mừng Phục sinh như sau: "Nếu nơi tay Ngài tôi không thấy các dấu đinh, và tra tay tôi vào lỗ đinh, và tra bàn tay tôi vào cạnh sườn Ngài, tôi sẽ không tin" (Jn 19:25). Như thế, các dấu đinh nơi đôi tay Chúa Giêsu và vết thương cạnh sườn Ngài phải là chứng cớ để bảo đảm cho niềm tin nơi Tôma. Chúa Giêsu đã hiểu rõ tâm trạng của Tôma và chấp nhận điều kiện của ông. Khi hiện ra với các môn đệ lần thứ hai với sự có mặt của Tôma, Người đã mời gọi ông: "Hãy đem ngón tay ngươi đặt đây, này tay Ta; hãy đem tay ngươi tra vào cạnh sườn Ta và đừng ở như người cứng tin, mà là như người thành tín" (Jn 19:27). Khi thấy Chúa Giêsu đã hiểu thấu và cảm thông cũng như đã làm thỏa mãn các điều kiện của mình, Tôma đã tuyên xưng niềm tin: "Lạy Chúa tôi và là Thiên Chúa của tôi" (Jn 19:28). Tôma là người sau cùng trong nhóm Mười Hai tin nhận Chúa Phục sinh, nhưng niềm tin của ông lại là một niềm tin đầy đủ nhất: Chúa Giêsu chẳng những là Thày ông, là Ðấng đã chịu chết và sống lại, mà còn là chính Thiên Chúa của ông. Sau khi nhận lời tuyên tín đó của Tôma, Chúa Giêsu đã chúc phúc cho tất cả những ai sẽ chia xẻ niềm tin đó của ông qua mọi thời đại: "Bởi thấy Ta, ngươi đã tin. Phúc cho những ai không thấy mà tin" (Jn 20:29). Là những Kitô hữu, qua lời rao giảng của Hội Thánh chúng ta tin nhận Chúa Giêsu là Ðấng Phục sinh từ cõi chết để cứu chuộc chúng ta dù chúng ta không thấy Người như Tôma. Vì thế, chúng ta được hưởng trọn lời chúc phúc này của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu mà chúng ta tin nhận mãi mãi vẫn là Chúa Giêsu Phục sinh với những dấu đinh nơi đôi tay và vết thương nơi cạnh sườn còn rõ nét. Trong ánh sáng phục sinh vinh hiển, các dấu đinh và vết thương của Chúa Giêsu, kỷ niệm tình yêu tận tuyệt của Ngài dành cho mỗi người chúng ta qua cuộc thương khó và tử nạn của Ngài, đã trở thành những chiến tích anh dũng chứng thực Ngài đã chiến thắng tội lỗi, sự chết, thế gian và ma quỷ. Ðó cũng là những chiến tích Chúa Kitô muốn gặp thấy nơi những người môn đệ đích thực của Người, những chiến tích giúp họ được trở nên "đồng hình đồng dạng" (Rom 8:29) với Người trong cuộc tử nạn để cũng được chia xẻ vinh quang với Người trong ánh sáng phục sinh. Ðiều này đã được Thánh Phaolô xác quyết như sau: "Mọi thời và khắp nơi, chúng tôi mang trong thân mình chúng tôi cuộc tử nạn của Ðức Yêsu, ngõ hầu sự sống của Ðức Yêsu cũng được hiện tỏ nơi cái xác chết dở của chúng tôi" (2Cor 5:11). Hiểu như thế nên một linh mục thánh thiện đã nhận xét một cách thật ý vị: "Chúa Giêsu dịu dàng yêu mến những kẻ đóng đinh Người, và Người dịu dàng đóng đinh những ai yêu mến Người". Thực vậy, cuộc đời các thánh tông đồ và các thánh tử đạo cũng như của tất cả những ai muốn sống triệt để theo các đòi hỏi của Tin Mừng Chúa Kitô đều được ghi dấu thập tự với biết bao khó khăn, đau khổ, tủi nhục, thử thách, gian truân đủ loại. Ðó là những thương tích họ phải chịu "trong cuộc chiến chính nghĩa đức tin" (1 Tim 6:12). Ðó cũng chính là những chiến tích đem lại vinh quang bất diệt cho họ trên thiên quốc. Chính vì thế trong Phụng vụ hôm nay thánh Phêrô đã tha thiết kêu gọi các tín hữu tiên khởi cũng như tất cả chúng ta ngày nay hãy vui lòng đón nhận mọi khó khăn đau khổ trong cuộc sống như những cơ hội để thanh luyện đức tin và chứng thực lòng mến dành cho Chúa Kitô, để đạt được phần phúc lớn lao của những người "không thấy mà tin" như chính Người đã hứa. Ngài viết: "...dẫu nay còn phải ưu phiền ít lâu, như đương nhiên phải thế, giữa trăm chiều thử thách, ngõ hầu đức tin luyện của anh em, quí hơn vàng, vật sẽ hư đi mà còn phải luyện lửa lò, được trở nên lời ngợi khen, vinh dự huy hoàng, vào thời mạc khải của Ðức Yêsu Kitô: Ðấng anh em không thấy mà yêu, và hiện không giáp mặt mà tin, mà hớn hở vui mừng, cái vui khôn tả và rạng rỡ vinh quang, bởi được lãnh lấy thành quả đức tin, là sự cứu thoát linh hồn" (1 Pet 1: 6-9). Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy chúng con biết vui lòng và ao ước để Chúa Giêsu in những thương tích của Người vào lòng chúng con, để chúng con được trở nên giống Chúa và yêu Chúa cách trọn hảo, qua việc vui tươi đón nhận và thánh hóa mọi khó khăn đau khổ và thử thách trong cuộc sống. Amen. CHÚA NHẬT III PHỤC SINH 18-04-1999 Acts 2:14, 22-28; 1 Pet 1:17-21; Lk 24:13-35 ÐÔI TAY BẺ BÁNH "Và xảy ra là khi vào bàn với họ, Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra Ngài trao cho họ, thì mắt họ mở ra, và họ nhận biết Ngài..." Tôi đã được nghe nhiều bài giảng trong Thánh Lễ. Nhưng có một bài giảng mà tôi nhớ hơn cả. Ðó là bài giảng của cha Gioakim Ðoàn Sĩ Thục ở Trại tị nạn Galang tại Indonesia năm 1982. Bài giảng của ngài dựa trên đoạn Phúc âm của Chúa Nhật tuần này, thuật về việc Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường đi Emmau và các ông đã nhận biết Chúa lúc Người bẻ bánh. Nội dung bài giảng ấy có thể được tóm lại như sau: "Mỗi người đều có một hay vài nét đặc biệt để nhờ đó người ta nhận biết người ấy. Ví dụ như lãnh tụ phát xít Ðức Hitler với bộ râu cá chốt hay thủ tướng Anh hồi đệ nhị thế chiến Wilton Churchill với ống điếu xì-gà của ông chẳng hạn. Vậy đâu là nét đặc biệt của Chúa Giêsu? Nhiều họa sĩ đã gắng phác họa chân dung Chúa Giêsu với mái tóc dài, đôi mắt tinh anh, hàm râu quai nón, chiếc cằm chẻ, v.v... Nhưng những bức họa chân dung ấy dù xinh đẹp đến đâu hầu hết chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng và ước đoán của các họa sĩ. "Chúng ta sẽ nhận biết nét đặc biệt không thể nhầm lẫn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay. Dù Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra và đồng hành nói chuyện với hai môn đệ trên đường Emmau một hồi lâu, các ông vẫn không nhận ra Người. Nhưng họ đã mau mắn nhận biết Chúa Giêsu phục sinh khi Người bẻ bánh. "Vậy đôi tay bẻ bánh chính là nét đặc biệt của Chúa Giêsu. Ðôi tay ấy cũng là đôi tay đã từng đụng đến bao bệnh nhân để chữa lành họ; đôi tay từng bẻ năm chiếc bánh và hai con cá cho năm ngàn người ăn; đôi tay đã từng rửa chân cho các môn đệ và đã hiến trao chính Mình Máu Người cho họ trong bữa tiệc ly. Ðôi tay bẻ bánh chính là biểu tượng của tinh thần xả kỷ vị tha và yêu thương phục vụ của Chúa Kitô. Ðó cũng phải là nét đặc biệt phải thể hiện nơi những người Kitô hữu". Gần 20 năm qua bài giảng trên vẫn còn văng vẳng bên tai tôi và đã có một ảnh hưởng sâu đậm trong đời tôi. Không một lần nào đọc đến đoạn Tin Mừng hôm nay mà tôi lại không nhớ đến bài giảng này. Và càng ngày tôi càng xác tín rằng vì đôi tay bẻ bánh hay tinh thần xả kỷ vị tha và yêu thương phục vụ chính là nét đặc biệt của Chúa Giêsu, nên tất cả nỗ lực sống đạo của mỗi tín hữu Chúa Kitô phải nhắm đến việc biến đôi tay của mình nên giống đôi tay phục vụ của Chúa, biến con tim mình nên giống con tim yêu thương của Chúa, và biến con người và cuộc đời của mình nên giống con người và cuộc đời của chính Chúa Giêsu Kitô. Hai môn đệ trên đường đi Emmau đã không nhận ra Chúa Giêsu Phục sinh dù Người đã đồng hành, truyện trò và giảng giải Thánh Kinh cho họ hồi lâu và chỉ nhận biết Chúa khi Người vào bàn với họ và bẻ bánh trao ban cho họ. Cũng vậy, người ta sẽ không nhận biết và tin nhận chúng ta là môn đệ đích thực của Chúa Giêsu dù chúng ta có thuyết phục họ với những lý lẽ hùng hồn đến đâu đi nữa, nếu chúng ta không thực sự dấn thân chia xẻ cuộc sống của chính họ và bẻ bánh sự sống của chính chúng ta trao ban cho họ trong yêu thương phục vụ. Nhưng việc Chúa Giêsu đã hiện đến đồng hành, truyện trò và giảng giải Thánh Kinh cho hai môn đệ trước khi tỏ mình ra cho họ qua việc bẻ bánh không phải là vô ích. Việc Người đồng hành với họ, truyện trò và giảng giải Thánh Kinh cho họ đã khiến lòng họ "cháy bừng bừng" (Jn 24:32) và chuẩn bị cho mắt họ mở ra và nhận biết Người khi Người bẻ bánh. Cũng vậy, chúng ta không thể nhận biết sự Hiện Diện Ðích Thực của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể nếu chúng ta không biết lắng nghe và đón nhận chính Người trong Thánh Kinh. Chúng ta cũng không thể có được đôi tay bẻ bánh của Chúa Giêsu để tìm đến phục vụ Người nơi những người xung quanh nếu con tim của chúng ta không rạo rực trước sứ điệp yêu thương của Lời Người. Như đã hiện ra đồng hành với hai môn đệ trên đường đi Emmau, giảng giải Thánh kinh rồi bẻ bánh trao cho họ năm xưa, Chúa Giêsu hôm nay vẫn tiếp tục đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường đời để soi sáng cho chúng ta bằng Lời Chúa và củng cố chúng ta bằng Thánh Thể Người. Cả Lời Chúa và Thánh Thể đều được trao ban cho ta trong mỗi thánh lễ. Như thế, thánh lễ với hai phần phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể liên kết mật thiết với nhau để làm thành một động tác thờ lạy Thiên Chúa của Chúa Kitô hiệp nhất với toàn thể Hội thánh phải là trung tâm và tột điểm của đời sống mỗi người tín hữu chúng ta. Nhờ sức mạnh của ơn thánh Chúa ban cho chúng ta qua việc tham dự và sống mầu nhiệm thánh lễ, chúng ta sẽ nhận biết, yêu mến và kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu và được Người biến đổi để trở nên giống Người. Mẹ Têrêsa Culcutta--"vị thánh của những người cùng khổ"--hiểu rõ điều này nên đã không cho phép các nữ tu của mẹ ra ngoài hoạt động tông đồ trừ phi họ đã làm một giờ thánh trước Thánh Thể mỗi ngày. Mẹ nói rằng những người nghèo cần nhìn thấy khuôn mặt Chúa Kitô nơi các nữ tu của mẹ. Và người ta sẽ không thể gặp được khuôn mặt vui tươi của Chúa Kitô nơi các nữ tu nếu chính những nữ tu này không biết kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu Thánh Thể. Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ chuyển cầu cùng Chúa cho con ơn luôn nhận biết sự hiện diện của Chúa trên mọi nẻo đường đời. Xin giúp con biết siêng năng tham dự thánh lễ và đặt Chúa Giêsu Thánh Thể làm trung tâm của cuộc đời. Nhờ vậy, con sẽ được biến đổi nên giống Chúa với đôi tay bẻ bánh phục vụ và trái tim mở rộng yêu thương. Amen. CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH 25-04-1999 Acts 2:14, 36-41; 1 Pet 2:20-25; Jn 10:1-10 CỬA VÀO SỰ SỐNG "Cửa vào, chính là Ta! Ai ngang qua Ta mà vào thì sẽ được cứu; nó sẽ vào, sẽ ra, và sẽ gặp được lương thực... Ta đã đến, là để chúng được có sự sống, và có một cách dồi dào" Trong Tuần Thánh năm 1997 cả nước Mỹ xôn xao về việc mấy chục người trong giáo phái mang tên "Cổng Thiên Ðàng" (Heaven Gate) đã tự tử tập thể tại San Diego với hy vọng được giải thoát khỏi cuộc đời này và đi vào thế giới mới. Hầu hết những người nghe biết việc này đã gọi những người tự tử ấy là cuồng tín hay dại dột. Một số người còn cho rằng giáo phái này phải đổi tên là "Cổng Ðịa Ngục" hay "Cửa Âm Ty"mới đúng. Vì niềm tin của họ không dẫn đến sự sống mà dẫn đến sự chết. Việc tự tử của những người thuộc giáo phái "Cổng Thiên Ðàng" là một hành động sai lạc hay rồ dại. Nhưng chúng ta phải nhìn nhận rằng khát vọng tìm kiếm thiên đàng và một cuộc sống sung mãn vô biên nơi họ vẫn là một khát vọng chính đáng. Vì đó cũng là một khát vọng sâu thẳm nhất nơi tâm hồn mỗi người chúng ta. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã trả lời cho khát vọng tìm kiếm thiên đàng và cuộc sống sung mãn vô biên nơi tâm hồn mỗi người chúng ta khi Người tuyên bố: "Cửa vào, chính là Ta! Ai ngang qua Ta mà vào sẽ được cứu; nó sẽ vào, sẽ ra, và sẽ gặp được lương thực. Trộm có đến thì chỉ để đánh cắp, sát hại và hủy diệt. Ta đã đến, là để chúng được có sự sống, và có một cách dồi dào" (Jn 10:9-10). Chúa Giêsu Kitô--Thiên Chúa làm Người, sống giữa chúng ta, chết và sống lại vì yêu thương chúng ta--chính là Cổng Thiên Ðàng và Cửa Vào Sự Sống Ðích Thực và Duy Nhất mà chúng ta phải tìm đến và bước vào để được cứu rỗi, nghĩa là được sống một cuộc sống đầy ý nghĩa ở đời này và hạnh phúc vĩnh cửu đời sau. Ðó chính là niềm xác tín của Phêrô và các môn đệ tiên khởi, khi Phêrô kêu gọi những người đã nghe người giảng về Chúa Kitô tử nạn và phục sinh trong ngày lễ Ngũ Tuần đón nhận Chúa Kitô qua việc chịu phép rửa để được ơn cứu độ, như được thuật lại trong phụng vụ hôm nay. Ông nói với họ:"Hãy hối cải, và mỗi người hãy chịu phép thanh tẩy nhân Danh Ðức Kitô Yêsu để được tha thứ tội lỗi, và các ngươi sẽ được lĩnh ơn Thánh Thần. Vì lời hứa được ban cho các người, và con cái các người, cùng mọi kẻ xa gần, hết mọi người, Chúa, Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi" (Acts 2: 38-39). Nhưng chúng ta phải lưu ý và ghi lòng tạc dạ điều này: Chúa Giêsu Kitô là Cổng Thiên Ðàng và Cửa Vào Sự Sống Ðích Thực và Duy Nhất, nhưng Người còn là Cổng Hẹp, một cổng ít người muốn bước vào, như chính Người từng nói: "Hãy vào cổng hẹp. Vì rộng rãi thênh thang là con đường dẫn đến hư vong; và lắm kẻ đi ngang qua đó. Còn cổng hẹp và đường chật, thì dẫn đến sự sống, và ít kẻ gặp được nó" (Mt 7:13-14). Người ta phải loại bỏ những vật dụng cồng kềnh mang theo mình hay áo quần dày cộm để có thể lọt qua cổng hẹp. Hơn nữa, cổng hẹp sẽ khiến người đi ngang qua nó phải bị cọ xát với thành cổng. Nếu là cổng mới sơn, vết sơn sẽ dính vào quần áo hay thân mình người đi ngang. Và nếu là cổng làm bằng gỗ thô, người đi ngang sẽ có thể bị những chiếc dằm nơi thành cổng đâm vào thân mình và cào sướt da thịt. Người ta sẽ phải mang dấu khi đi ngang qua cổng hẹp. Cũng vậy, khi chấp nhận đi ngang qua Chúa Giêsu là Cổng Hẹp dẫn vào sự sống thực, chúng ta sẽ phải từ bỏ mọi sự và phải đụng chạm, cọ xát, trăn trở và vật lộn với chính mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Người trong cuộc đời chúng ta. Những vết máu còn tươi nơi thương tích của Người sẽ dính vào thân mình chúng ta, và những vết thương của Người sẽ in dấu trên ta. Những chiếc dằm nơi thập giá Chúa Kitô sẽ đâm vào và cào sướt da thịt ta. Và ta sẽ mang dấu thập tự đau thương của Chúa Kitô khi đi ngang qua Người để vào cõi sống thực. Ðây là sự thực về các đòi hỏi của tin mừng mà các tiên tri giả hay các ngụy ngôn sứ không muốn nói đến trong lời rao giảng của họ. Thủ lãnh của giáo phái "Cổng Thiên Ðàng" có thể được coi là điển hình của những tiên tri giả, những kẻ hứa hẹn một thiên đường hay một cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu với giá rẻ mạt của một liều độc dược! Và đây cũng là điều mà các môn đệ chân chính của Chúa Kitô qua mọi thời đại hằng nhắc nhở nhau phải ghi nhớ để can trường bước vào cổng hẹp, nghĩa là phải sống theo gương Chúa Kitô và kết hợp mật thiết với Người trong tin yêu, hầu đạt đến ơn cứu độ là sự sống đời đời đã được ban tặng cho họ bằng giá máu của chính Người. Chính Hội thánh cũng nhắc nhở chúng ta điều này qua thư thứ nhất của Thánh Phêrô gửi cho các tín hữu tiên khởi được đọc trong phụng vụ hôm nay: "Nhưng nếu anh em làm lành, mà phải khổ, và anh em đành chịu, điều ấy là một ân sủng trước mặt Thiên Chúa. Quả chính vì thế mà anh em được kêu gọi, bởi chưng chính Ðức Kitô cũng đã chịu nạn chịu chết vì anh em, trối lại cho anh em một gương mẫu, ngõ hầu anh em dõi theo vết chân Ngài. Bị nguyền rủa, Ngài không nguyền rủa đáp lại, chịu nạn chịu chết, Ngài không đe loi, nhưng Ngài đã phó thác cho Ðấng xét xử công minh. Ngài đã mang lấy tội lỗi ta Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng con biết sống như những con chiên đích thực của Chúa Chiên Lành là Giêsu Con Mẹ. Xin dạy chúng con biết lắng nghe lời cứu rỗi chân thực của Chúa Kitô qua lời giảng dạy của Mẹ Hội thánh và các vị Ðại Diện Người, để biết can đảm bền chí bước theo Chúa Giêsu trên con đường tình yêu thập giá, con đường duy nhất đem lại sự sống thực và dẫn đến thiên đàng. Amen. CHÚA NHẬT V PHỤC SINH 02-05-1999 Acts 6:1-7; 1 Pet 2:4-9; Jn 14:1-12 CON ÐƯỜNG DUY NHẤT "Ðàng và sự thật, sự sống, chính là Ta! Không ai đến với Cha mà lại không nhờ Ta" Trong một thông cáo của Tòa Thánh đề ngày 24-06-1998, Ðức Hồng Y Joseph Ratzinger, Bộ Trưởng Bộ Tín Lý & Ðức Tin, với sự chấp thuận của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã khuyến cáo các tín hữu về nguy hiểm của những quan điểm lầm lạc chứa đựng trong hầu hết các tác phẩm của linh mục người Ấn Ðộ Anthony de Mello, SJ (1931-1987), một tác giả được nhiều người biết đến. Một trong những quan điểm lầm lạc được tìm thấy trong các tác phẩm của linh mục Anthony là ông chỉ coi Chúa Giêsu như một tôn sư ngang hàng với các bậc tôn sư khác, dù ông tự nhận mình là một môn đệ của Chúa Giêsu. Theo ông, điểm duy nhất làm Chúa Giêsu khác biệt người khác là Người "tỉnh thức" và hoàn toàn tự do. Ngài không được nhìn nhận là Con Thiên Chúa nhưng chỉ là một người dạy chúng ta mọi người đều là con Thiên Chúa (LOsservatore Romano 26/8/1998). Với quan điểm lầm lạc trên đây linh mục Anthony de Mello đã đánh mất căn bản của Ðức tin Công giáo khi không nhìn nhận tính cách độc đáo của Kitô giáo, một tôn giáo duy nhất có Ðấng Sáng Lập tự nhận không những là Con Ðường Duy Nhất dẫn đến Thiên Chúa mà còn là chính Thiên Chúa, là chính Chân-Thiện-Mỹ và Cứu Cánh của mọi người. Ðiều này đã được ghi lại trong tin mừng hôm nay khi Chúa Giêsu nói cùng Tôma: "Ðàng và sự thật, sự sống, chính là Ta! Không ai đến với Cha mà lại không nhờ Cha" (Jn 14:6). Ðây là điều khiến Chúa Giêsu khác hẳn tất cả các tổ phụ các tôn giáo khác hay các bậc đại nhân trong lịch sử nhân loại, những người biết tự nhận mình chỉ là những ngôn sứ của Thiên Chúa hay những người đã khám phá ra chân lý và muốn giúp tha nhân cùng nhận biết chân lý như họ. Và như vậy, qua mọi thời đại Chúa Kitô đã đặt mỗi người chúng ta trước một sự chọn lựa kinh hoàng: tin hay không tin, chấp nhận hay từ chối Lời Người, vâng phục hay chống lại chính Người. Tin và chấp nhận Chúa Kitô có nghĩa là nhìn nhận Lời Người là sự thật, là nhìn nhận Người chính là Thiên Chúa Nhập Thể, là mở lòng để đón nhận tin mừng cứu độ, một tin mừng thắng vượt mọi tin mừng, một niềm vui vượt trỗi mọi niềm vui: "Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế (đó), đến đỗi đã thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời" (Jn 3:16). Hơn nữa, tin và chấp nhận Chúa Kitô còn là chấp nhận sống theo gương Người, là tuân giữ giới luật yêu thương trọn hảo của Người, là kết hợp làm một với Người và trở nên chi thể sống động của Nhiệm Thân Người là Hội thánh. Theo Thánh Phêrô, các tín hữu Chúa Kitô là những người được chọn để trở nên "những viên đá sống...làm toà nhà thiêng liêng, cho tế vụ thánh, để dâng lên lễ tế thiêng liêng, rất đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ đức Yêsu Kitô" (1 Pet 2:5) và làm thành một "dòng giống được lựa chọn, hàng tư tế hoàng vương, nước thánh thiện, dân được chọn làm sở hữu" (1 Pet 2:9). Với những ai tin, Chúa Kitô trở thành đá tảng làm căn bản của cuộc đời của họ và là niềm vinh dự, là lẽ sống và nguồn vui cho cuộc đời họ. Ngược lại, nếu thực sự không tin Chúa Kitô và không nhìn nhận Lời Người là Sự Thật, nghĩa là không nhìn nhận Chúa Kitô là Thiên Chúa làm Người, người ta không thể chỉ đơn giản nhìn nhận Chúa Kitô là một con người tốt lành hay vĩ đại như các vị tôn sư khác trong nhân loại. Nhưng lúc ấy, người ta sẽ phải chống lại Người, phải coi Người là một kẻ phạm thượng, một kẻ nói láo, vì cho rằng Người chỉ là phàm nhân mà dám tự nhận là Con Thiên Chúa, là Người cùng một bản tính với Thiên Chúa và đòi hỏi mọi người phải suy phục tôn thờ. Ðây chính là điều những người biệt phái và luật sĩ Do thái ngày trước đã làm cho Ðức Kitô: họ coi Người là một kẻ phạm thượng nên đã tìm mọi cách để khiến Người cuối cùng phải bị hành hạ, sỉ nhục, vác thập giá và chết đau thương tất tưởi trên đó. Dù đã được lắng nghe những giáo huấn tốt lành và siêu việt của Chúa Kitô, nhận biết các lời tiên tri đã được thực hiện nơi Người và chứng kiến bao phép lạ Người đã thực hiện, những người biệt phái và luật sĩ Do thái vẫn không tin Chúa Kitô và không nhìn nhận Người là Con Thiên Chúa. Tại sao thế? Thưa vì họ đã không tin quyền năng và tình yêu Thiên Chúa đã được thể hiện nơi bản tính nhân loại khiêm hạ của Chúa Kitô và vì Người đã tỏ ra như bất lực không phản kháng khi chịu đau khổ sỉ nhục và chịu chết. Họ cũng không chấp nhận Chúa Kitô vì các giáo huấn chân thực của Người đòi hỏi họ phải từ bỏ lối sống tự mãn dựa trên việc giữ luật bề ngoài để thực hiện đức ái trọn hảo. Cũng vậy, ngày nay nhiều người tiếp tục không tin Lời Chúa, tiếp tục lên án và bách hại Chúa Kitô nơi Nhiệm Thể của Người là Hội Thánh, dù họ đã thấy tỏ tường sự vững mạnh và phát triển lạ lùng của Hội Thánh qua các thời đại, dù họ đã thấy biết bao người đã chấp nhận bị bắt bớ, tù đày, tra tấn, sỉ nhục và xử tử để làm chứng cho niềm tin vào Chúa Kitô, dù họ đã thấy những công cuộc từ thiện bác ái lớn lao Hội Thánh đã thực hiện cho nhân loại nơi những tấm gương hy sinh xả kỷ tuyệt vời của các thánh là những người con ưu tú của Hội Thánh, dù họ đã nhận ra sự cao cả và chân thực tuyệt vời của các giáo huấn của Hội Thánh. Tại sao thế? Thưa vì những người không tin nhận và chống đối Hội Thánh không nhận biết "kho tàng chứa trong lọ đất" (2 Cor 5:7), nghĩa là họ không muốn chấp nhận quyền năng và tình yêu Thiên Chúa tiếp tục được thể hiện nơi Hội thánh là Nhiệm Thể của Chúa Kitô, nơi bao gồm những Kitô hữu, những con người dù đã tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô nhưng vẫn mang bản tính nhân loại mỏng dòn yếu đuối và còn có thể sa ngã phạm tội như bất cứ ai. Sự bất toàn của các tín hữu Chúa Kitô, những người làm thành gia đình Chúa, được nhìn thấy ngay trong cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi khi "đã xảy ra việc các người Hi hóa kêu ca, trách các người Hipri, vì trong việc phục vụ thường nhật, những người góa bụa trong nhóm họ đã bị bỏ quên" (Acts 6:1), như được trình bày trong phụng vụ hôm nay. Nhiều người ngày nay vịn vào sự yếu đuối tội lỗi của một số tín hữu Chúa Kitô để khước từ niềm tin vào chính Người. Những người này đang noi gương những người Do thái ngày xưa, những người đã vịn vào sự bình dị của bản tính nhân loại nơi Chúa Kitô để từ khước đặt niềm tin vào Người. Nhiều người còn phản kháng Kitô giáo vì thấy các Kitô hữu có vẻ độc tôn kiêu ngạo khi các Kitô hữu không chấp nhận lý luận "đạo nào cũng như đạo nào" hay "đạo nào cũng tốt như nhau" và luôn mạnh mẽ tuyên xưng "không có ơn cứu độ ngoài Hội Thánh", nghĩa là không có ơn cứu độ ngoài Chúa Kitô theo ý nghĩa Hội Thánh là Nhiệm Thể Chúa Kitô, "Vì dưới gầm trời này, không có một Danh nào khác đã được ban xuống cho nhân loại để phải nhờ đó mà chúng ta trông được cứu thoát" (Acts 4:12). Nhưng nếu không nhìn nhận tính cách độc nhất này của Chúa Kitô, người ta không còn là Kitô hữu đích thực nữa. Một lý do nữa khiến nhiều người hôm nay chẳng những không tin nhận mà còn có thái độ thù ghét Hội Thánh là vì Giáo huấn của Hội Thánh khiến họ nhận ra sự hèn kém xấu xa tội lỗi của lối sống đi ngược lại phẩm giá đích thực của con người nơi họ và đòi hỏi họ phải nỗ lực hối cải ăn năn. "Bởi chưng ai làm sự dữ thì ghét sự sáng, kẻo bị bắt lỗi về các việc của mình" (Jn 3:20). Ðó chính là lý do tại sao ngày nay những người chủ trương duy trì và mở rộng án tử hình, cổ võ hôn nhân đồng tính, tự do luyến ái, tự do ly dị, tự do ngừa thai nhân tạo và tự do phá thai căm ghét và phỉ báng giáo huấn về luân lý của Hội Thánh Công giáo, một giáo huấn đặt nền tảng nơi chính Chúa Kitô là Nguồn Chân-Thiện-Mỹ. Theo Thánh Phêrô, với những người khước từ niềm tin vào Chúa Kitô và Hội thánh Người, Chúa Kitô đã trở thành "Ðá vấp ngã, và khối thạch chướng ngại. Bởi không vâng nghe Lời, thì họ vấp ngã, và số phận họ là thế" (Acts 2:8). Vì thế, quan điểm coi Chúa Kitô chỉ là một trong nhiều bậc tôn sư trong nhân loại, như được gặp thấy trong các tác phẩm của linh mục Anthony de Mello, là quan điểm phản Kitô vì nó không nhìn nhận Chúa Kitô là Con Ðường Duy Nhất đem lại ơn cứu độ cho nhân loại như Hội thánh và mọi Kitô hữu chân chính hằng tuyên xưng, như Thánh Gioan Tông Ðồ đã từng cảnh giác: "... phàm thần khí nào không tuyên xưng Ðức Yêsu, thì nó không thuộc về Thiên Chúa. Ðó là thần khí của Phản Kitô" (1 Jn 4:3). Quan điểm lầm lạc này sẽ dẫn đến thái độ tương đối hóa tất cả các lề luật luân lý Kitô giáo và làm kiệt quệ tinh thần truyền giáo nơi các tín hữu. Nó còn cướp mất sự chọn lựa căn bản mà Thiên Chúa đặt trước mặt mỗi người nơi Chúa Kitô như đã được trình bày trên đây. Lạy Mẹ Maria là gương mẫu của các Kitô hữu chân chính qua mọi thời đại, xin Mẹ cầu cùng Chúa Giêsu Con Mẹ cho con và mọi Kitô hữu có được niềm tin của Mẹ năm xưa. Xin Mẹ giúp con biết noi gương Mẹ Têrêsa Calcutta luôn xác tín rằng Chúa Kitô chính là "Sự Thật phải được tỏ bày, là Con Ðường để bước đi, là Ánh Sáng để chiếu soi, là Sự Sống cho cuộc đời, là Tình yêu để mến thương, là Niềm Vui để san sẻ, là An Bình để gieo rắc...là Tất Cả trong Mọi Sự" của con. Amen. CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH 09-05-1999 Acts 8:5-8,14-17; 1 Pet 3:15-18; Jn 14:15-21 YÊU CHÚA "Nếu các ngươi yêu mến Ta, các ngươi sẽ giữ các lịnh truyền của Ta, và Ta sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các ngươi một Ðấng Bầu Chữa khác, để Người ở với các ngươi luôn mãi" Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô điều kiện. Ðó là điều được nhiều nhà giảng thuyết ngày nay thường nhấn mạnh và lập đi lập lại nhiều lần. Ðó cũng là điều đã được diễn tả trong nhiều bài thánh ca rất cảm động với những câu như "Chúa yêu con đâu phải vì con, nhưng vì tình yêu Chúa...", "Ðâu phải ta ngoan mà Thiên Chúa mến thương ta...nhưng do nơi lòng hay thương xót của Người..." Ðây là một sự kiện đáng vui mừng vì "Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô điều kiện" là một chân lý cần được xác tín, cảm nhận và đặt làm nền tảng cho cuộc đời của mỗi người chúng ta. Tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta nơi Chúa Kitô là một món quàNgười ban tặng một cách nhưng không. Thiên Chúa không đặt điều kiện chúng ta phải là người như thế nào, hay phải sống làm sao để được Người yêu thương chúng ta. Người yêu thương chúng ta chỉ vì Người là chính Tình Yêu, là chính Ðấng Tạo Thành vạn vật và là Ðấng Cứu Chuộc nhân thế, Ðấng "cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, và làm mưa trên người ngay và kẻ ác" (Mt 5:45) và là Ðấng "đã yêu mến thế gian như thế (đó), đến đỗi đã thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời" (Jn 3:16). Nhưng có một điều rất quan trọng mà nhiều người ngày nay ít lưu tâm đến là vấn đề: Chúng ta có yêu mến Chúa không? Nói khác đi, chúng ta có chấp nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta không? Và chúng ta phải làm gì để yêu mến Chúa, để chấp nhận tình yêu của Người? Ðây là một vấn đề hết sức căn bản và then chốt trong việc sống niềm tin Kitô giáo. Thực vậy, chính việc đón nhận hay khước từ tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta nơi Chúa Kitô sẽ xác định chúng ta là những người sẽ được cứu rỗi hay sẽ phải hư mất đời đời. Chính việc chúng ta có yêu mến Chúa Kitô hay không sẽ xác định chúng ta là người lành hay kẻ dữ, như thánh Phaolô đã xác định: "Nếu ai không yêu mến Chúa, thì hãy là đồ chúc dữ!" (1Cor 16:22). Và vấn đề làm thế nào để chúng ta được trở thành những người thực sự yêu mến Chúa là điều mà chính Chúa Kitô muốn dạy chúng ta trong tin mừng hôm nay khi Người nói: "Nếu các ngươi yêu mến Ta, các ngươi sẽ giữ các lịnh truyền của Ta, và Ta sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các ngươi một Ðấng Bầu Chữa khác, để Ngài ở với các ngươi luôn mãi" (Jn 14:15-16). Người còn nói thêm: "Ai có các lịnh truyền của Ta và giữ lấy, người ấy mới là kẻ yêu mến Ta, mà ai yêu mến Ta, thì được Cha Ta yêu mến, và Ta sẽ yêu mến nó và sẽ tỏ mình ra cho nó" (Jn 14:21). Và "Ai mến Ta, thì sẽ giữ lời Ta, và Cha Ta sẽ yêu mến nó, và Chúng Ta sẽ đến với nó, và sẽ đặt chỗ ở nơi mình nó. Ai không mến Ta, thì không giữ các lời Ta. Mà lời các ngươi nghe đây không phải là của Ta, nhưng là của Cha, Ðấng đã sai Ta" (Jn 14:23-24). Lời dạy này của Chúa Kitô thật đơn giản, rõ ràng và dứt khoát: Yêu mến Chúa là phải giữ lệnh truyền hay lề luật của Chúa. Chỉ khi chúng ta thực sự yêu mến Chúa qua việc nỗ lực sống theo giới luật yêu thương của Người, chúng ta mới được lãnh nhận Thần Linh Thánh Ái của Người, được thực sự hiểu biết Chúa và được sống hiệp thông với Chúa Ba Ngôi. Thánh Gioan Tông Ðồ còn viết: "Ai không yêu mến Chúa thì đã không biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa là lòng mến" (1Jn 4:8). "Và nơi điều này ta biết được là ta đã biết Người: là nếu ta giữ lịnh truyền của Người. Kẻ nói: Tôi đã biết Người, mà không giữ lịnh truyền của Người, thì nó là đứa nói láo, và trong nó không có sự thật. Còn ai giữ lời Người, thì hẳn thật trong kẻ ấy lòng mến của Thiên Chúa đã nên trọn. Nơi điều này, ta biết được là ta ở trong Người" (1 Jn 2:3-5). Nhưng thánh nhân vẫn nhấn mạnh việc chúng ta yêu mến Chúa chẳng qua chỉ là hệ quả của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Và chúng ta không thể yêu mến Chúa nếu chúng ta không cảm nhận được Chúa yêu thương ta trước: "Nơi điều này mà thực là lòng mến: là không phải vì ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu mến ta, và sai Con của Người đến làm hi sinh đền tạ tội lỗi ta" (1 Jn 4:10). Vì vậy, tất cả nỗ lực trong việc sống niềm tin của người tín hữu Chúa Kitô phải nhắm đến việc cảm biết tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta và tận tình đáp mến Người bằng việc thực thi thánh ý Chúa và tuân giữ các giới răn của Người bằng mọi giá. Ðó chính là cốt tủy của linh đạo Thánh Anphong Ligôri, Tổ Phụ Dòng Chúa Cứu Thế, như được trình bày trong cuốn Dẫn Ðường Mến Chúa, một tác phẩm bất hủ của ngài. Ðó cũng là lý do cha A. Desurmont, C.Ss.R., trong kinh kính Thánh Tổ phụ Anphong do ngài biên soạn đã nài xin thánh nhân cho được ơn "đừng để con khinh thường việc giữ lề luật". Tóm lại, quả thực Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô điều kiện. Nhưng chúng ta có sẵn sàng chấp nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta và tận tình đáp mến Người qua việc nỗ lực tuân giữ các giới răn của Người hay không? Ðó là câu hỏi mà mỗi người chúng ta phải luôn sẵn sàng trả lời trước mặt Chúa trong từng giây phút của cuộc đời chúng ta. Chính câu trả lời cho câu hỏi ấy sẽ định đoạt số phận đời đời của mỗi người chúng ta. "Lạy Ðức Chúa Giêsu rất yêu dấu, con yêu mến Chúa. Con yêu mến Chúa hơn mình con. Và bởi yêu mến Chúa, thì con hết lòng đau đớn ăn năn vì đã làm mất lòng Chúa. Xin Chúa chớ để con lìa xa Chúa. Xin hãy làm cho con yêu mến Chúa luôn. Xin hãy phân định về con tùy thánh ý Chúa" (Thánh Anphong Ligôri). Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy con và giúp con yêu mến Chúa Giêsu Con Mẹ. Xin cho con được yêu mến Chúa như Mẹ đã yêu Chúa qua việc luôn vâng phục thánh ý Chúa và thực thi các giới răn Chúa trong mọi giây phút của đời con. Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao E-mail : ducme@cuuthe.com |