|
Nghi lễ tiễn đưa chấm dứt. Chúng tôi di chuyển quan tài ra khỏi nguyện đường. Sáu anh em chúng tôi khiêng quan tài ra xe. Xe rời đi. Tôi đứng giữa sân đậu xe, chết lặng, giữa cơn mưa lất phất. Một người nào đó chạy ra che dù cho tôi. Từ giã Cha Hồng Phúc! Từ giã người anh em của tôi! Từ khi tôi vào Dòng đến nay, tôi có dịp tiễn đưa nhiều anh em về cõi vô biên. Một anh cùng lớp, anh Phước, chết đuối ở Lái Thiêu khi còn là một chú đệ tử. Cha Nguyễn Hữu Ðĩnh, tuyên úy trường Võ Bị Ðà Lạt, qua đời do lựu đạn "phe ta" gài ở kẽm gai chắn đường. Cha Thọ, Giám Ðốc Liên Minh Thánh Tâm, Cha Cân, Cha Sơn, Giám đốc Ðệ tử Viện khi tôi học những năm cuối tại Vũng Tàu, Thầy Benoit Cẩn chết tại San Francisco... Họ là những người anh em của tôi trong Dòng. Họ đã sống và đã chết trong Dòng. Từng lớp người qua đi để lại gì cho đàn em đây? Tiền bạc? Danh tiếng? Gia tài sự nghiệp? Tiếc thương? Cũng có, nhưng những điều đó không phải là chính yếu với cả một cuộc đời sống và chết trong Dòng. Trước khi vào bệnh viện, để rồi không còn sống mà trở ra nữa, Cha Hồng Phúc đã mời tôi xuống nhà. Sau khi đã xưng tội và chịu lễ sốt sắng, ngài đã trối lại cho tôi rất nhiều điều. Ngoài những điều liên quan đến cá nhân người tu sĩ, ngài đã cho tôi thấy những ước vọng của ngài về Phụ Tỉnh. Những ưu tư của một anh em đi trước, người đã tận tình làm hết sức mình cho sứ mạng truyền giáo của Dòng, cho thấy đồng lúa mênh mông bát ngát đang cần nhiều bàn tay nhiệt tình để xúc tiến công việc Nước Trời. Ngài nói với tôi: "Phụ Tỉnh phải phát triển." Khi ngài nói "phát triển", là ngài muốn nói đến một hoạt động đầy sáng kiến không ngừng, để làm cho công việc truyền giáo được mở mang về mọi mặt. Thực ra, sứ mạng truyền giáo của Dòng không chỉ giới hạn vào những công việc tông đồ như giảng đại phúc, tĩnh tâm, làm báo chí, mà còn bao gồm cả chứng tá của đời sống người thừa sai nữa. Một cuộc sống cầu nguyện và thường xuyên tiếp xúc với Lời Chúa là cội nguồn của sức sống tông đồ, đồng thờių còn là ngọn đèn sáng để trên giá đèn. Những lời Cha Hồng Phúc tâm sự với tôi, làm tôi suy nghĩ miên man nhiều ngày. Ðã đành, cuộc đời của nhà truyền giáo là phải cho đi, cho đến hơi thở cuối cùng, không giữ lại gì cho mình, không tích trữ gì cho riêng mình, không màng đến những gì bảo đảm cho tuổi già của mình. Tuy thế, ngọn đèn phải châm thêm dầu luôn để đợi chàng rễ đến, phải tiếp thêm rượu mới cho bình mới, rượu ngon cho đôi tân hôn; không thể nào như chiếc xe, mới chạy được vài đoạn đường đã hết xăng, như lực sĩ chạy đua, mới chạy được vài chục thước đã hết hơi đuối sức. Những hôm Cha Hồng Phúc nằm bệnh viện là những hôm mà toàn Phụ Tỉnh chúng tôi đang tiến hành bỏ phiếu bầu lại Bề trên Phụ Tỉnh. Giữa những cơn tỉnh mê, mê tỉnh, khi ngài thấy các y tá đang họp ở ngoài, ngài bắt hai cháu đỡ ngài dậy: "Hãy đỡ cậu dậy để cậu đi ra họp với các cha mà bỏ phiếu." Cái gì đã làm cho Cha cứ bị ám ảnh trong đầu những công việc chung của Phụ Tỉnh, của Giáo Hội? Tại sao cho đến giờ chết mà Cha vẫn mang "nỗi bứt rứt thường nhật, mối lo canh cánh về các Hội thánh" (2 Cor 11:28) như Thánh Phaolô? Phải thật lòng mình mà nói, khi mới qua Mỹ, tôi cảm thấy áy náy và không mấy vui khi thấy những anh em của mình như Cha Hồng Phúc vì công việc mục vụ mà phải lo toan một mình ở xa cộng đoàn. Nhiều lần tôi đã mời ngài về ở với chúng tôi, ít nhất để tránh những mùa mưa lạnh ở Portland. Nhiều lần, ngài cũng đã hứa với tôi, nhưng chưa lần nào đã thực hiện được. Chỉ sau nầy tôi mới khám phá ra, tuy sống xa cộng đoàn Nhà Dòng như thế, mà lòng ngài vẫn lo lắng đến sự tồn vong của Dòng, của Phụ Tỉnh. Vài năm trước khi ngài nhắm mắt, tôi được ngài gọi điện thoại bàn hỏi nhiều điều, dẫu tôi chưa đáng là học trò của ngài. Tôi cũng được biết ngài cũng hay gọi điện thoại hỏi thăm nhiều anh em khác, nhất là thầy Già Edmond Hà, cha Già Nghiễm, cha Nguyễn Thanh Sơn. Tôi có thể giải thích mối "lo canh cánh" của ngài đối với Nhà Dòng là ở chỗ ngài giữ được mối tình thắm thiết với Dòng, với anh em trong Dòng. Không có mối tình nầy, cuộc sống cộng đoàn tu sĩ chỉ là một tập hợp bất đắc dĩ của những cá nhân khấn đời sống chung để rồi sống và theo đuổi mục đích riêng. Mối tình nối kết anh em trong Dòng là một điều tự nguyện dâng hiến: từ đây, tôi chỉ có Chúa là hạnh phúc, anh em trong Dòng là gia đình. Hai mục tiêu Chúa và Nhà Dòng là hai điều ưu tiên trong "mối lo canh cánh hằng ngày" của mỗi sĩ tử Dòng. Tôi nghĩ đây không phải là chủ thuyết "cô lập hóa", mà là một sự chấp nhận hiện tại mà Chúa trao phó cho tôi khi tôi nhận DCCT là nơi tổ ấm để nên thánh và làm việc tông đồ. Tôi vẫn còn nhớ như in buổi tối ngày 2/8/1974 lễ Thánh Tổ Phụ An Phong, tại làng Plei Chuet, cách thị xã Pleiku 8 cây số. Năm anh em chúng tôi: Tài, Tín, Tường, Mầu, Quân cùng họp nhau mừng lễ Thánh Tổ phụ giữa làng thượng nghèo nàn, heo hút. Chúng tôi dâng Lễ, đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, kể lại cho nhau nghe những chuyện trong Dòng, chia sẻ kinh nghiệm truyền giáo và bỏ nhiều thời giờ nhớ đến từng khuôn mặt của anh em trong Tỉnh Dòng. Chưa bao giờ lòng chúng tôi gần gũi nhau và mật thiết với Nhà Dòng đến thế, dẫu chúng tôi nghìn trùng xa cách với những anh em đang vui nhộn mừng lễ tại Sàigòn. Mối tình hiến dâng cho Chúa và cho Nhà Dòng là yếu tố căn bản đầu tiên để phát triển Dòng. Nếu mỗi sĩ tử tối ngày chỉ lo cho nhu cầu và dự án riêng của mình... thì còn sức đâu mà lo cho việc chung, lo cho cộng đoàn Nhà Dòng, lo cho sự tồn vong và phát triển của Dòng! Theo tôi nghĩ, một trong những vấn đề làm cho các Giáo Hội tại các nước phát triển, kể cả các dòng tu tại đó phải gặp nhiều khó khăn trong tinh thần đạo đức và phát triển ơn gọi là tinh thần cá nhân chủ nghĩa. Tinh thần nầy đã đánh gục hết các nỗ lực để xây dựng tinh thần chung, tinh thần gia thất, tinh thần cộng đoàn, tinh thần làm việc chung, tinh thần sống chung... Có lẽ đến lúc chúng ta nên đọc lại bài Tin Mừng "Người Samari nhân hậu" để không dặt câu hỏi như người luật sĩ: "Ai là người đồng loại của tôi", mà phải đặt câu hỏi như Chúa: "Ai trong ba người (tư tế, Lêvít, người Samari) đã nên đồng loại của người sa vào ổ cướp?" (Lc 10: 29-37). Người luật sĩ đặt câu hỏi "Ai là người đồng loại của tôi", sau khi Chúa Giêsu đồng ý với ông về câu trả lời "Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng ngươi, hết sức lực ngươi, và hết trí khôn ngươi; và yêu mến đồng loại ngươi như chính mình." Người luật sĩ muốn hỏi ai là người đồng loại tôi để tôi yêu mến người ấy. Trong tư duy của người luật sĩ, trung tâm điểm vẫn ở chính mình, pháo đài vẫn là mình và quyết định và lợi ích vẫn ở nơi mình; mình sẽ yêu mến những ai mình muốn, phục vụ những ai mình thích; còn những người khác thì... Chúa Giêsu đã đặt vấn đề ngược lại: "Ai trong ba người đi ngang qua là đồng loại của kẻ bị cướp?" Vấn đề ngày hôm nay không còn ở chỗ "ai là người đồng loại của tôi để tôi yêu mến, giúp đỡ, rao giảng Tin Mừng, phục vụ?" mà là "Tôi phải làm thế nào để trở nên người đồng loại của những anh em nghèo khó, bị áp bức, đang cần được rao giảng Tin Mừng, đang cần được phục vụ; và như thế tôi mới được yêu thương, được cứu độ?" Cũng thế, sĩ tử Dòng Chúa Cứu Thế phải xác tín rằng có xả thân như Chúa Kitô, có hy sinh đến giọt máu cuối cùng như Chúa Giêsu, có ưu tư canh cánh về Giáo Hội cho đến giờ phút cuối đời như Cha Hồng Phúc thì mới hi vọng được làm anh em với Chúa Kitô Phục Sinh, và được phép gọi Thiên Chúa là Cha Abba. Cuộc đời tu sĩ phải chấp nhận khía cạnh triệt để đó thì mới đón nhận được nguồn phúc cứu độ tuôn trào, và rồi nguồn phúc đó mới tràn lan đến anh chị em nghèo khó của mình. Phần tôi, qua sự ra đi của Cha Hồng Phúc, tôi lại thấy đây là một dịp Chúa dùng để giúp tôi đặt lại mối quan hệ của mình với Ngài trong cuộc sống tu sĩ. Chúa có sống mãi trong cuộc đời và trong lòng tôi không? Ngài có trở thành mối bận tâm của tôi suốt ngày đêm năm tháng không? Ngài có là cùng đích, là tiêu chuẩn để tôi xét đoán mọi việc theo lăng kính của Ngài không? Trả lời được những câu hỏi trên, là tôi đã tích cực đi vào trong một thế giới mới, một Giao Ước mới, một cuộc sống mới, không phải chỉ được thực hiện ở đời sau, mà là hiện thực ngay ở đời này. Vì nơi nào có yêu thương, thì có Chúa, nơi nào có Chúa, thì có Nước Trời. Cả một cuộc đời tu sĩ, như cuộc đời của Cha Hồng Phúc, cũng chỉ có một mục tiêu: thực hiện Nước Trời ngay nơi cộng đoàn Nhà Dòng mà mình đang sống. Xin Cha cầu cùng Chúa cho chúng con đang nỗ lực thực hiện điều Cha ước mong, cho Phụ Tỉnh, cho Dòng, cho Giáo Hội. Long Beach, ngày 12/4/1999 Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |