GIA ÐÌNH TÌNH THƯƠNG
RA BẮC . . . RỒI LÊN NON

(Kỳ 2)

Bút ký của Vũ Sinh Hiên

Ðến đầu năm 1999, đoàn Gia Ðình Tình Thương (GÐTT) lại lên đường đi Tây Nguyên để kịp có mặt ngày đầu năm 1.1.1999 tại Kontum, ngày được coi là kết thúc năm thánh của Giáo phận. Năm 1998 kỷ niệm 150 năm truyền giáo Tây Nguyên mà cao điểm là ngày đại lễ ngày 12.11.1998. Chính trong dịp đại lễ đó, đoàn GÐTT đã muốn về thăm lại Plây Phung, các làng phong của Tây Nguyên, nhưng ý định đã không thể thực hiện được. Chỉ có thể vào dịp này, dịp kết thúc Năm Thánh của Giáo phận.

Ở Tây Nguyên, có những khu điều trị được quản lý qui củ do các tôn giáo thành lập trước đây và kể từ 1975 được Nhà Nước quản lý. Nhưng cũng có vô số các làng, các xóm rải rác khắp núi rừng, ở đó bệnh nhân không được hưởng quy chế trợ cấp gì, phó thác cho thiên nhiên và cho những tấm lòng hảo tâm, đặc biệt là các nữ tu công giáo và các tu sĩ của các tôn giáo bạn. Ngày 1.1.1999, được phép của bác sĩ Lê Viết Thuật, giám đốc Trung Tâm Da Liễu tỉnh Kontum, Ðoàn GÐTT vào thăm và tặng quà các bệnh nhân phong hiện đang được điều trị tại trại Dakkia, nằm kề cận thị xã Kontum. Trại gồm 505 nhân khẩu, trong đó có 220 bệnh nhân. Ðoàn tặng các bệnh nhân này mỗi người một phần quà trị giá 40.000đ (gần 3 đô Mỹ) gồm có gạo, bột ngọt, cá khô và đường. Hầu hết các bệnh nhân và thân nhân đều theo đạo Công Giáo. Người Tây Nguyên không sử dụng thành thạo tiếng Kinh, cho nên về Tây Nguyên chúng tôi vẫn cần có các thông dịch viên, chúng tôi mới vững bụng để trao đổi với bà con. Bệnh nhân ở đây được lãnh mỗi người 10kg gạo mỗi tháng, 2.500đ (18 xu Mỹ) tiền thức ăn mỗi ngày. Tất cả bệnh nhân và thân nhân đều được nhận một bộ quần áo và hai chiếc chiếu mỗi năm, một chiếc mùng mỗi 3 năm và một chiếc mền mỗi 4 năm. Những người bệnh kỳ cựu ở đây đều còn nhớ Ðức Giám Mục Paul Seizt Kim, người đã cho thay những ngôi nhà lá của khu điều trị bằng những dãy nhà gạch như hiện nay.

Plây phung thứ hai mà Ðoàn GÐTT về thăm là làng Dakring thuộc huyện Dakto. Từ Kontum về hướng Bắc 37km là huyện lỵ Dakto, đường những phẳng lỳ, nơi có căn cứ Charlie của quân dội Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua. Từ Dakto về Dakring, 18km nữa, nhưng đường đất gồ ghề, sẽ rất khó đi nếu vào mùa mưa. Làng Dakring có 166 nhân khẩu dân tộc Sedang, trong đó có 55 bệnh nhân phong cùi. Tất cả dân làng đều theo đạo Công Giáo, nhưng đã từ lâu lắm rồi, ở đây không được phép cử hành Thánh lễ. Hàng tuần, một vị linh mục trẻ về đây, kín đáo ban phép hoà giải trong một căn chòi nào đó, chớp nhoáng tụ họp kinh hạt rồi vội vã ra về. Làng có bệnh nhân phong nhưng không được hưởng chính sách trợ giúp nào. Mọi người đều phải tự túc bươn chải trong cuộc sống thường nhật. Vị linh mục trợ giúp không thường xuyên, chỉ những lúc có thể. Ngài cũng giúp làng trồng được 11.000 cây bời lời, loại cây cho vỏ để làm hương nhang. Nhận ra vị linh mục quen thuộc, theo sau là chúng tôi những người khác lạ, cả làng uà ra chào đón, tự nhiên như núi rừng sông suối, các bạn trẻ bày ngay trên mặt đất những ống nứa thành một cây đàn Klonput mộc mạc dân dã, khác hẳn với những cây đàn được chau chuốt, sơn phết ở sân khấu Saigon. Rồi hồn nhiên, hai cô gái vỗ tay cho hơi gó phảvào ống nứa, tạo ra âm thanh, một đầu là phần gia điệu, đầu kia là phần đệm. Sau phần làm quen, chúng tôi quây quần cầu nguyện trước lúc trao tặng phẩm cho dân làng. Bởi đang trong mùa Noel, chúng tôi đã nhận ra dễ dàng giai điệu quen thuộc của bài hát Giáng Sinh, di sản của các linh mục Thừa sai Paris (MEP), cặm cụi chuyển ngữ các bài hát, câu kinh của Giáo Hội khắp nơi sang tiếng dân tộc. Công việc này hiện nay đang được các linh mục của Giáo phận Kontum tiếp tục. Chúng tôi ngả nón trước sức làm việc của các linh mục vùng cao này.

Ở Kontum không phải chỉ có Dakia và Dakring, còn nhiều thôn xóm nữa, còn nhiều Plâyphung nửa, rải rác và lặng lẽ. Các nữ tu của nhiều dòng tu trong giáo phận vẫn hàng ngày làm mọi cách để có thể tiếp xúc được những người bệnh và trợ giúp họ trong điều kiện có thể.

Rời Kontum xuống Plâyku, Ðoàn GÐTT được sự cộng tác của các sơ dòng Con Ðức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân, những người đi tìm kiếm các bệnh nhân phong trên từng cây số, không mệt mỏi. Ðể vào được làng Konthup do các sơ Phú Xuân tìm ra 1978 cách thị xã Plâyku 70km, chúng tổi phải gửi chiếc Huyndai tân kỳ tại khuôn viên nhà dòng, rồi chồng chất nhau người và tặng phẩm lên chiếc xe U Oát của hợp tác xã vận tải Mang Yang chuyên chạy tuyến đường này, bởi ở đây đường chẳng ra đường, có đoạn không có đưòng phải xẻ bụi rậm mà đi. Hơn nữa, số xe quen thuộc của địa phương sẽ chẳng gây thắc mắc gì cho nhân viên xã ấp ở đây. Trước lúc lên xe, chúng tôi dặn dò nhau nguyện cầu cho chuyến đi được êm ả, trước lúc xuống xe. Các xe lạ vào khu vực này thường được thăm hỏi kỹ càng và đóng một khoản lệ phí không tên là 70.000đ (5 đô Mỹ). Hôm nay là ngày Chúa Nhật, may mắn cho chúng tôi, nhân viên các cấp nghỉ việc và thoải mái dễ tính hơn ngày thường.

Làng Konthụp được chia thành 2 khu, khu ngoài gần con đường đất đỏ gồm các hộ khoẻ mạnh, canh tác được, lác đác có nhà lợp ngỏi đỏ. Khu trong là các hộ có bệnh nhân phong cùi, gồm 132 nhân khẩu trong đó có 52 người bệnh tàn phế. Chính trong khu này mà Ðoàn GÐTT đến thăm và tặng quà dưới sự hướng dẫn của các sơ dòng Con Ðức Mẹ Vô Nhiễm Phú Xuân. Bà con trong làng và chúng tôi đã bắt đầu cuộc gặp gỡ bằng việc đọc kinh do anh Petro Bơih chủ xướng. Anh là một giáo phu (thầy giảng) chưa được qua trường đào tạo nào, nhưng anh vẫn là người cầm trịch các buổi kinh nguyện của bà con trong làng. Cuốn sách hát duy nhất còn lại được anh Bơih cất giữ cẩn thận. Chúng tôi đoán được là bà con đã đọc một kinh Lạy Cha, một kinh Kính Mừng và một kinh Sáng Danh. Bài hát sau đó chắc phải là một bài về Giáng Sinh, chúng tôi nghe được tiếng "Bêlem" trong câu hát. Phần quà dành cho mỗi người hôm nay vẫn là những nhu yếu phẩm quen thuộc: gạo, đường, bột ngọt, cá khô và 20.000đ (gần 1 đô rưỡi Mỹ). Ðang trong mùa khô, chiếc Uoát vào được tận khu trong này của Konthụp, thường được gọi là Groi nhỏ để phân biệt với Groi lớn là khu ngoài. Nhưng vào mùa mưa, nước lũ chảy xiết ở con suối đầu làng, các sơ thồ nhu yếu phẩm vào bên bờ suối và nhắn bà con ra nhận, lội qua suối và gùi về làng. Groi nhỏ không được hưởng một trợ giúp nào của nhà nước, hoàn toàn tự túc và trông nhờ vào lòng hảo tâm của các ân nhân xa gần.

Hôm sau ngày 4.1.1999, vẫn với chiếc Uoát an toàn, chúng tôi vào làng phong Hà Long gồm 70 nhân khẩu và gửi quà cho một làng gần đó có 29 hộ, trong đó có 18 bệnh nhân phong, đưói sự hướng dẫn của một y sĩ người dân tộc, anh Ðen. Các sơ vùng Tây Nguyên đã sử dụng một lực lượng y sỹ dân tộc được đào tạo chính quy nhưng lại không được phân bổ công tác. Các anh các chị đã dùng kiến thức của mình để phục vụ ngay chính đồng bào cũa mình. Anh Ðen cũng là người thông dịch, bởi bà con Hà Long nói tiếng Kinh không thành thạo.

Mọi người đã nhận tặng phẩm xong thì chúng tôi khám phá ra một bệnh nhân mới nhập làng. Khi biết mình bị bệnh phong, bà lặng lẽ rời buôn làng quen thuộc của bà và tìm về đây chung sống với những người bệnh khác. Không tài sản, không hộ khẩu, không giấy tạm trú tạm vắng, người Tây Nguyên vô tư như chim trời, như thú rừng, như cây cỏ. Trước đây, những người bệnh phong cùi còn bị đuổi vào rừng sống lây lất rồi chết lặng lẽ. Thậm chí có bệnh nhân bị buộc lên giàn hỏa do chính người trong làng thiêu sống. Ở Phú Bình còn một bệnh nhân nay đã lành bệnh nhưng trước đây đã được cứu sống trong đường tơ kẽ tóc ấy, khi đã bị trói trên giàn hỏa. Rời Hà Long về lại Plâyku, chúng tôi vào làng Plei Ngôn Tả quen thuộc gần kề thị xã Pleiku về hướng Nam, di sản của anh em Tin Lành để lại: người trong làng không hút thuốc, không uống rượu, vẫn nhóm họp để đọc Thánh kinh và hát Thánh ca. Anh chị em Tin Lành ơi, các bạn có thể hãnh diện về những gì các bạn đã làm ở Tây Nguyên. Làng Plei Ngôn Tả hiện còn 19 hộ, trong đó có 13 hộ có người bệnh phong cùi. Kết thúc buổi gặp gỡ là các thánh ca quen thuộc. Cùng là những người tin vào Ðức Kitô, linh mục Nguyễn Tự Do và một thành viên của Ðoàn GÐTT đã lập lại bài hát của bà con trong làng, vẫn cung điệu ấy nhưng ngôn từ khác dâng lên cùng một Chúa. Tạm biệt Plei Ngôn Tả, tạm biệt Pleiku, tạm biệt các sơ dòng Con Ðức Mẹ Vô Nhiễm Pleiku. Xin trả lại các sơ những Kônthụp, những Hà Long, những Plei Ngôn Tả thân thương mà lận đận quá. Cái hồi 1920 ấy, vị sáng lập Dòng, Ðức Cha Allys Lý đâu có mường tượng được những gian truân hôm nay của các thế hệ con cái của dòng. Xin cám ơn về sự tiếp tay quý hóa naỳ, xin hẹn gặp những dịp khác đồng hành về lại Pleiphung.

Trên Quốc lộ 14 xuôi Nam, được sự cộng tác của các sơ dòng Nữ Vương Hoà Bình Ban Mê Thuột, chúng tôi quẹo vào "buôn cùi" hẻo lánh Ea Hleo. Ngay trước bưu điện thị trấn Ea Hleo là con đường đất dẫn sâu vào rừng, hai bên là những mảnh vườn càphê đã và đang được những người di dân tự do khai phá. Buôn cùi nằm sát bìa rừng gồm 13 hộ với 52 nhân khẩu. Ðường xấu, xe phải đậu từ xa, chúng tôi lội bộ vào buôn đã thấy hai nhân viên công an đứng đó. Chúng tôi vào đây dưới sự hướng dẫn của một nhân viên hội Hồng thập tự của huyện. Chúng tôi chỉ dùng một chiếc máy chụp ảnh đơn giản. Cũng dễ hiểu thôi, vùng này gồm toàn di dân tự do, giang hồ tứ chiếng quy tụ về đây. Năm ngoái, mùa thu hoạch càphê, trên 20 hảo hán chuyên hái trộm càphê đã bị mời về nhà đá. Mới đây là chiếc tivi của buôn cùi do huyện tặng con bà con bệnh nhân vui mỗi tối bằng chiếc bình sạc biện, đã không cánh mà bay, bà con dân tộc chỉ biết ngơ ngác chịu đựng. Về tới Ban Mê Thuột, Ðoàn GÐTT vào thă khu điều trị Eana, khu điều trị lớn nhất của tỉnh Dak Lak, Eana có 606 nhân khẩu trong đó 167 bệnh nhân, được sự chăm sóc của 16 cán bộ công nhân viên. Ở Giáo phận Ban Mê Thuột còn nhiều làng phong khác mà chỉ có các sơ mới nắm vững địa hình, trong đó nổi bật là làng Mdrak với 54 bệnh nhân và làng phong Daklấp với 157 bệnh nhân. Không đến được những Plâyphung này, chúng tôi phải đành gởi lại các sơ những tặng phẩm để tùy các sơ chuyển giao khi thuận tiện.

Từ Ban Mê Thuột về lại Saigon, chẳng còn bao xa, đường đẹp như tranh vẽ, GÐTT kết thúc chuyến đi Tây Nguyên vào những ngày đầu năm 1999 để rồi lại chuẩn bị ngay sau đó chuyến đi Lâm Ðồng vào những ngày giáp Tết Kỷ Mão.

 

THÊM MỘT VIỆC MỚI

Song song với việc điều phối "GIA ÐÌNH TÌNH THƯƠNG" đặc biệt quan tâm đến các bệnh nhân phong cùi tại Việt Nam, Lm Nguyễn Tự Do, DCCT, từ nhiều năm nay, điều hành nhóm "TRUYỀN THÔNG TIN MỪNG" (TTTM) nhằm quảng bá những tin tức liên quan đến Giáo hội Công giáo, bằng những phương tiện truyền thông đại chúng hạn hẹp mà Nhóm có được, trong điều kiện hiện nay của Ðất Nước và của Giáo Hội. Gần đây nhất, những sinh hoạt của Giáo hội Việt Nam như Ðại lễ kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại La Vang, Ðại lễ kỷ niệm 150 năm truyền bá Tin Mừng trên Tây Nguyên, đều có sự cộng tác của Nhóm, được giáo quyền địa phương chính thức trao trách nhiệm thực hiện các băng ghi hình, ghi lại những sự kiện trọng đại này.

Trong kỳ họp thường niên của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam vào tháng 10 năm 1998, thay mặt nhóm TTTM, Lm Nguyễn Tư Do đã đệ trình kế hoạch thực hiện cuốn băng ghi hình (và đĩa CD-ROM) về lịch sử Giáo hội Công Giáo tại Việt Nam, ấn hành một ấn phẩm về các di tích lịch sử liên quan đến Giáo hội Công Giáo tại Việt Nam. Kế hoạch đã được Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam chấp thuận, được các Ðức Giám Mục đồng tình ủng hộ. Với thư giới thiệu của Ðức Cha Bartolomeo Nguyễn Sơn Lâm, Tổng thư ký Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đề ngày 1.11.1998, Nhóm sẽ về làm việc tại từng giáo phận dưới sự nâng đỡ về mọi mặt của Ðức Giám Mục giáo phận và của các vị am tường các vấn đề liên quan đến giáo phận. Nhóm dự tính sẽ phát hành rộng rãi cuốn băng ghi hình và ấn phẩm nói trên vào Năm Thánh 2000.

Như vậy là Lm Nguyễn Tự Do và các cộng sự của Ngài lại gánh vác thêm một việc mới, tuy vốn đã từng làm từ nhiều năm qua, nhưng mang tính tự phát và với quy mô hạn hẹp. Nay thì Nhóm TTTM đang từng bước thực hiện kế hoặch đã được HÐGMVN phê duyệt và yểm trợ, và rất mong đón nhận mọi ý kiến bất cứ từ đâu đến. Chúng tôi hết lòng cảm ơn về những đóng góp này, để DANH CHA ÐƯỢC CẢ SÁNG.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com