LỄ THĂNG THIÊN. 13-05-1999 : MỆNH LỆNH CUỐI CÙNG. CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH. 16-05-1999 : CÙNG ÐÍCH CUỘC ÐỜI. LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG. 23-05-1999 : TINH THẦN CHÚłA KITÔ. LỄ CHÚA BA NGÔI. 30-05-1999 : MẦU NHIỆM TÌNH YÊU. LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA. 06-06-1999 : DI NGÔN CỦA MỘT VỊ THÁNH.
LỄ THĂNG THIÊN 13-05-1999 MỆNH LỆNH CUỐI CÙNG "Vậy các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy chúng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy chúng giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi." Trong phụng vụ của Chúa Nhật tuần trước, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải tuân giữ các lệnh truyền của Người nếu chúng ta muốn trở thành những môn đệ đích thực của Người, những người thực sự yêu mến Người (Jn 14:15). Và trong Tin Mừng của Ðại lễ Thăng Thiên hôm nay, Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ một mệnh lệnh cuối cùng trước khi Người lên trời. Người phán: "Mọi quyền năng trên trời dưới đất được ban cho Ta. Vậy các ngươi hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy chúng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy chúng giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi. Và này Ta sẽ ở cùng các ngươi mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:18-20). Ðây cũng là di ngôn, là những lời sau cùng Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người, và là những lời đã được dùng để kết thúc Tin Mừng theo thánh Matthêô. Vì thế, những lời này chắc chắn phải là những lời đã được các môn đệ thời ấy hằng ghi nhớ và gắng tâm thực hiện hơn cả. Ðiều này được nhận thấy thật dễ dàng nơi sách Tông Ðồ Công Vụ với những trình thuật về công cuộc tuyên xưng đức tin và rao giảng tin mừng của các tông đồ và các tín hữu tiên khởi. Họ đã hăng say nỗ lực thực hiện mệnh lệnh trên của Chúa Giêsu, bất chấp mọi sự bắt bớ, đòn vọt, tù đày, sỉ nhục, gian nan và cả sự chết. Nhờ vậy, Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô đã được loan truyền khắp thế giới, Hội Thánh được phát triển và chính chúng ta--những Kitô hữu hôm nay--mới được biết đến và tin nhận Chúa Kitô là Cứu Chúa của mình. Mệnh lệnh cuối cùng này cũng phải là mệnh lệnh mà tất cả các tín hữu đích thực của Chúa Kitô qua mọi thời phải luôn ghi lòng tạc dạ và nhiệt tâm thực hiện, để chứng thực lòng tin và tình yêu của họ đối với Chúa Kitô đúng như Người đòi hỏi. Thánh Phanxicô Xaviê, thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu, các Thánh thừa sai tử đạo tại Việtnam, Mẹ Têrêsa Calcutta, Ðức Cha Fulton J Sheen, Mẹ Angelica và Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II là những tấm gương sáng ngời trong số những người môn đệ đích thực của Chúa Kitô, những người thực sự biết Chúa Kitô và hết lòng yêu mến Người. Các ngài chắc chắn sẽ đồng ý với thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu để tuyên bố rằng: "Sứ mạng của tôi là yêu mến Chúa và làm cho mọi người yêu mến Chúa". Nhưng ngày nay nhiều Kitô hữu đã lãng quên hay không nhiệt tâm thi hành mệnh lệnh cuối cùng này của Chúa Giêsu. Họ tự hài lòng với lối sống đạo ở mức tối thiểu để khỏi "mất linh hồn" mà thôi và không bao giờ thao thức đến việc giúp người khác biết Chúa, tin Chúa và yêu Chúa. Họ làm thế vì họ đã đánh mất cảm thức về sự mới mẻ độc đáo và sức mạnh vô song của Tin Mừng Chúa Kitô cũng như sứ mạng truyền giáo cao cả gắn liền với bản chất của ơn gọi Kitô hữu nơi họ. Sự lãng quên sứ mạng truyền giáo nơi một người tín hữu là dấu chỉ của một niềm tin què quặt và một lòng yêu nguội lạnh nơi người ấy: Không ai có thể cho người khác cái mình không có! Tinh thần truyền giáo đích thực luôn phát sinh từ lòng tin và tình yêu của mỗi tín hữu dành cho Chúa Kitô và cũng là thước đo đức tin và đức ái nơi người ấy.Và một lòng tin vững mạnh và một tình yêu nồng cháy dành cho Chúa Kitô chỉ có được khi có sự hiện diện của Thần Khí của Người trong chúng ta. Thần Khí sẽ giúp ta thực sự nhận biết Chúa Kitô là ai, Người yêu thương chúng ta thế nào, và hạnh phúc chừng nào khi được biết Người, yêu Người, và nên một với Người trong lòng Hội thánh. Cũng chính Thần Khí sẽ khơi dạy trong chúng ta lòng nhiệt thành truyền giáo để làm cho mọi người cùng nhận biết và yêu mến Chúa Kitô. Ðó chính là điều mà Thánh Phaolô khẩn nguyện cho các tín hữu ở Êphêsô và cũng là cho mỗi người chúng ta trong bài đọc hai của phụng vụ hôm nay. Người viết: "... xin Thiên Chúa của Chúa chúng ta, Ðức Yêsu Kitô, Cha vinh hiển, ban cho anh em Thần khí khôn ngoan và mạc khải cho biết về Người. Ngõ hầu sau khi những mắt của lòng được rạng sáng, anh em biết là gì hy vọng do bởi việc Người kêu gọi; là gì vinh quang phong phú của cơ nghiệp Người trong các thánh; là gì quyền năng cao cả tuyệt vời của Người, nơi ta là những kẻ tin, (quyền năng) thật xứng với Người, khi Người ra uy sức mạnh của quyền bính Người. Quyền năng ấy Người đã ra uy trong Ðức Kitô: là đã cho Người chỗi dạy từ cõi chết, và đã cho ngự bên hữu Người, chốn hoằng thiên, trên mọi cấp trật: thiên phủ, uy linh và quyền năng thiên chủ, và bất cứ danh phận nào được nêu tên, không những trong thời này, mà cả trong thời sẽ đến. Muôn sự, Người đặt cả dưới chân Ngài, và đã ban cho Ngài, đứng trên vạn vật, làm đầu Hội thánh, đích thực là Thân mình Ngài, sự viên mãn của Ðấng viên thành vạn sự trong mọi người" (Eph 1:17-23). Những lời này đã diễn giải rõ hơn lời tuyên bố ngắn gọn của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay: "Mọi quyền năng trên trời dưới đất được ban cho Ta" (Mt 28:18). Tin Mừng ở đây là người tín hữu Chúa Kitô đã được diễm phúc nhận biết và tôn thờ mến yêu Thiên Chúa chân thực, toàn năng và duy nhất nơi Con Một Người là Chúa Kitô, Ðấng đã chiến thắng sự chết và tội lỗi để cứu rỗi nhân loại. Tin Mừng này thật lớn lao và sung mãn đến nỗi họ phải khát khao rao giảng cho mọi người cùng nhận biết, đúng như lời tuyên bố của Phaolô: "Khốn cho tôi, nếu tôi không loan bá Tin Mừng" (1 Cor 9:16). Bảo đảm duy nhất giúp họ trung thành sống niềm tin và nỗ lực thực thi mệnh lệnh truyền giáo của Chúa Kitô là sự hiện diện của chính Người trong cuộc đời của họ, như Người đã nói: "Và này Ta sẽ ở với các ngươi mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:20). Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ hãy cầu cùng Chúa đổ đầy Thánh Thần Chúa xuống trên tâm hồn chúng con, để chúng con hằng trân quý ơn gọi Kitô hữu của mình, nhiệt tâm sống niềm tin và nỗ lực thực hiện mệnh lệnh truyền giáo và cũng là mệnh lệnh cuối cùng của Chúa Giêsu. CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH 16-05-1999 CÙNG ÐÍCH CUỘC ÐỜI "Sự sống đời đời là: chứng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Ðấng Cha đã sai, Yêsu Kitô." Câu hỏi đầu tiên và cũng là câu hỏi căn bản nhất trong sách Giáo Lý Công Giáo thường được dùng tại Việt nam trước đây là câu: "Hỏi ta sống ở đời này để làm gì?" Câu trả lời là: "Thưa ta sống ở đời này để nhận biết, yêu mến và phụng sự Ðức Chúa Trời, và cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp, cho ngày sau được hạnh phúc đời đời trên thiên đàng". Như vậy, hạnh phúc đời đời trên thiên đàng hay sự sống đời đời chính là cùng đích cuộc đời của mỗi người nói chung và mỗi tín hữu Chúa Kitô nói riêng. Nhưng sự sống đời đời là gì? Trong lời nguyện hiến tế của Chúa Giêsu được đọc trong phụng vụ hôm nay, chúng ta tìm được định nghĩa: "Sự sống đời đời là: chứng nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Ðấng Cha đã sai, Yêsu Kitô" (Jn 17:3). Theo ngôn ngữ của Thánh Kinh, "nhận biết" ở đây không phải chỉ là một sự nhìn nhận của trí hiểu nhưng là một sự hiệp thông trọn vẹn trong liên hệ yêu thương thật thiết thân. Vì vậy, sự sống đời đời hay cùng đích của người Kitô hữu chính là sự hiệp thông trọn vẹn trong liên hệ yêu thương thật thiết thân với Thiên Chúa nơi Con Một Người là Chúa Giêsu Kitô. Theo đó, sự sống đời đời phải được bắt đầu ngay trong cuộc sống hiện tại ở trần gian chứ không phải đợi đến sau khi chết. Niềm vui và hạnh phúc thiên đàng phải được người tín hữu Chúa Kitô nếm trước một phần nào ngay trong cuộc sống hiện tại, như là bảo chứng cho hạnh phúc vĩnh hằng sung mãn đời sau. Chân phúc Giuse-Maria Escriva viết: "Nếu bạn không cảm nhận niềm vui ngay trong cuộc sống hiện tại, bạn đừng hy vọng sẽ được niềm vui vĩnh cửu đời sau". Niềm vui và hạnh phúc của những Kitô hữu đích thực không phải là một cảm xúc hời hợt nhất thời. Nó cũng không lệ thuộc vào cảnh huống hay đổi thay bên ngoài. Nhưng nó phát sinh từ liên hệ yêu thương hiệp nhất sâu xa của họ với Thiên Chúa nơi Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần, như lời Thánh nữ đồng trinh tử đạo Agatha: "Linh hồn tôi cắm sâu chôn chặt trong Chúa". Niềm vui và hạnh phúc ấy còn là kết quả của một đời sống được rập khuôn theo cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô và là hoa trái của sự hiện diện của Chúa Thánh Thần. Nó chính là chứng từ sống động cho sự hiện hữu thực sự của Thiên đàng, của Nước Thiên Chúa, như lời Thánh Phaolô: "Nước Thiên Chúa không phải là việc ăn, việc uống, nhưng là công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần" (Rom 14:18). Vì sự sống đời đời hay cùng đích của người Kitô hữu gắn liền với tương quan yêu thương giữa họ với Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần, nên họ có thể tìm được ý nghĩa và niềm vui cho cuộc sống ngay cả trong những lúc gian nan khốn khổ. Ðó chính là điều Thánh Phêrô nói với các tín hữu tiên khởi trong Thư thứ nhất của ngài như được đọc trong phụng vụ hôm nay: "Nhưng càng được chung phần thống khổ của Ðức Kitô chừng nào, anh em hãy vui mừng! Ngõ hầu khi vinh quang của Ngài mạc khải ra, anh em cũng được vui mừng hớn hở. Nếu anh em phải chịu sỉ vả vì Danh Ðức Kitô, thì phúc cho anh em, vì Thần khí vinh quang, Thần Khí của Thiên Chúa, sẽ đậu lại trên anh em" (1 Pet 4:13-14). Ðể cảm nếm niềm vui và hạnh phúc của những người tín hữu đích thực của Chúa Kitô ngay trong cuộc sống hiện tại cũng như để hy vọng sẽ được hạnh phúc thiên đàng vĩnh cửu đời sau, chúng ta phải tận dụng mọi thời giờ và phương tiện Chúa ban để xây dựng mối tương quan yêu mến thật thiết thân với Thiên Chúa nơi Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần. Mối tương quan yêu mến này được củng cố bằng việc cầu nguyện và đời sống yêu thương hiệp nhất trong lòng Hội thánh. Ðây là điều đã được thể hiện nơi các môn đệ tiên khởi của Chúa Giêsu như sách Tông Ðồ Công Vụ đã thuật lại trong phụng vụ hôm nay: "Hết thảy họ đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với các phụ nữ, và Maria, mẹ Ðức Giêsu và các anh em Ngài" (Acts 1:14). Cố gắng cầu nguyện liên lỉ; đọc và suy niệm Thánh Kinh và các sách thiêng liêng hàng ngày; siêng năng và sốt sắng lãnh nhận các bí tích nhất là Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa giải; tích cực tham dự các sinh hoạt của cộng đoàn dân Chúa và nỗ lực sống theo giới luật yêu thương của Chúa chính là những phương thức cụ thể giúp chúng ta xây dựng mối tương quan yêu mến thiết thân với Chúa. Ðó cũng là những phương thế giúp chúng ta tìm được ý nghĩa và niềm vui chân thực cho cuộc sống hiện tại và đạt tới hạnh phúc vĩnh hằng đời sau. Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con biết "tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Chúa trước tiên và trên hết" (Mt 6:33). Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ dạy con luôn biết noi gương các môn đệ tiên khởi của Chúa Giêsu luôn sống hiệp nhất với Mẹ và Hội thánh trong mọi giây phút của đời con. Nhờ vậy, con hy vọng sẽ luôn sống đẹp lòng Chúa ở đời này và được kết hợp mãi mãi cùng Chúa đời sau. Amen. LỄ CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG 23-05-1999 TINH THẦN CHÚA KITÔ "Hãy chịu lấy Thánh Thần" Con người khác hẳn và trỗi vượt trên các giống vật khác nhờ có linh hồn và các sinh hoạt tâm linh. Giá trị đích thực của một người hay của một tập thể vì thế cũng tùy thuộc tinh thần của người ấy hay của tập thể ấy. Người xấu là người có cuộc sống bị chi phối bởi một tinh thần thấp hèn hay xấu xa như tinh thần vị kỷ, tinh thần ỷ lại, tinh thần hưởng thụ cầu an, tinh thần tự tôn tự mãn hay tinh thần ghen ghét tị hiềm. Người tốt là người biết sống theo một tinh thần cao cả xứng hợp với phẩm giá siêu việt của mình như tinh thần xả kỷ vị tha, tinh thần tự giác, tinh thần khiêm nhu hay tinh thần tự thoát. Chúa Kitô mang bản tính người như ta nên Ngài cũng có một tinh thần gồm tóm tất cả những gì là thiện hảo nhất có thể gặp thấy nơi con người. Nhưng suốt cuộc sống của Ngài ở trần gian, Chúa Giêsu đã để tinh thần nhân loại toàn hảo này của Ngài được hướng dẫn bởi tinh thần Thiên Chúa của Ngài vì Ngài cũng là Thiên Chúa. Tinh thần Thiên Chúa của Ðức Kitô chính là Chúa Thánh Thần. Ngài là Ngôi Ba Thiên Chúa và cũng chính là Thiên Chúa. Sau khi Chúa Giêsu sống lại và trước khi về trời, Ngài đã chuyển thông cho các môn đệ Tinh Thần của Ngài là Chúa Thánh Thần để các ông tiếp tục sứ mạng cứu độ của Ngài ở trần gian. Tin mừng hôm nay thuật lại: "Một lần nữa Ngài nói với họ:Bình an cho các ngươí! Cũng như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các ngươi. Nói thế rồi, Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ:Hãy chịu lấy Thánh Thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ!" (Jn 20:21-22). Từ đây, sự hiện diện của Thần Khí hay Chúa Thánh Thần nơi một người chính là yếu tố xác định người ấy là môn đệ đích thực của Chúa Kitô. Thánh Phaolô khẳng định: "Ai không có Thần khí của Ðức Kitô, kẻ ấy không thuộc về Ngài" (Rom 8:9) và "Không ai có thể nói: Giêsu là Chúa! mà lại không phải bởi sức Thánh Thần" (1 Cor 12:3b). Cũng vậy, sống trong Chúa Kitô chính là sống trong Thần khí hay sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Ðể sống trong Thần Khí Chúa Kitô, ta cần nhận biết những đặc tính căn bản của tinh thần Chúa Kitô. Tinh thần của Người sẽ thúc bách chúng ta tìm kiếm và thực hiện tất cả những gì là Chân, Thiện, Mỹ. Ở đây, chúng ta chỉ lưu ý đến ba điểm căn bản của tinh thần Chúa Kitô được thể hiện nơi đời sống của chính Ngài và nơi đời sống của tất cả các thánh qua mọi thời đại. 1. Tinh thần cầu nguyện: Cuộc đời Chúa Giêsu là một lời cầu nguyện liên lỉ để hiệp nhất với Chúa Cha trong tình con thảo. Người đã nêu gương cầu nguyện cho các môn đệ, đã dạy họ cầu nguyện, và đã ban cho họ chính Thần Khí của Ngài để họ được thông dự tình con thảo của Ngài với Chúa Cha và giúp họ cầu nguyện cách hoàn hảo hơn. Thánh Phaolô viết: "Vì chưng ai được Thần khí dẫn đưa, thì là con cái Thiên Chúa...anh em đã chịu lấy Thần khí của hàng nghĩa tử, nhờ đó ta kêu lên: Abba. Lạy Cha! Chính Thần khí chứng thực cho thần hồn ta rằng: ta là con cái Thiên Chúa" (Rom 8:14-16) và "Cũng vậy, Thần khí đỡ đần tình cảnh yếu hèn của ta. Vì cầu xin thế nào cho phải, ta nào có biết. Song chính Thần khí chuyển cầu cho ta, bằng những tiếng rên khôn tả" (Rom 8:26). Sống trong Thần Khí vì thế phải là sống trong tinh thần cầu nguyện và tình thảo mến với Thiên Chúa là Cha nhờ Chúa Giêsu trong Chúa Thánh Thần. 2. Tinh thần vâng phục hy sinh: Sự vâng phục trọn vẹn và sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh để thực thi thánh ý Chúa Cha là kim chỉ nam cho mọi sinh hoạt của cuộc đời Chúa Giêsu. Ngay khi xuống trần gian Ngài đã nói cùng Chúa Cha: "Này con đến--trong cuốn sách đã viết về con--để thi hành ý muốn Người, lạy Thiên Chúa" (Heb 10:7). Với các môn đệ Ngài nói: "Lương thực của Ta là làm theo ý Ðấng đã sai Ta, và chu toàn công việc của Người" (Jn 4:34). Ngài còn coi việc thực thi ý Chúa là căn bản cho các liên hệ tình thân của Ngài: "Ai làm theo ý Thiên Chúa, thì Người ấy là anh chị em và là mẹ Ta" (Mc 3:35). Hơn nữa, Chúa Giêsu còn đặt việc thực thi ý Chúa Cha là điều kiện căn bản để được vào Nước Trời: "Không phải mọi kẻ nói với ta:Lạy Chúa, lạy Chúa, là sẽ được vào Nước Trời, nhưng là kẻ thi hành ý Cha Ta, Ðấng ngự trên trời" (Mt 7:21). Tính vâng phục thánh ý Chúa Cha nơi Chúa Giêsu được gắn liền với tinh thần hy sinh đón nhận thập giá của Ngài. Thánh Phaolô viết: "Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá" (Phil 2:8). Chúa Kitô cũng đặt tinh thần hy sinh sẵn sàng đón nhận thập giá làm điều kiện để trở thành môn đệ Ngài: "Nếu ai muốn đi sau Ta thì hãy chối bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá của mình và hãy theo Ta" (Lc 9:23). Sống trong Thần Khí vì thế phải là sống trong tinh thần vâng phục trọn vẹn thánh ý Chúa và sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh đau khổ để thực thi thánh ý Chúa qua việc tuân giữ các giới răn của Người. 3. Tinh thần yêu thương hiệp nhất: Chúa Thánh Thần được gọi là Ngôi Yêu Mến. Ngài là chính Sự Hiệp Nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con. Ðồng thời, Ngài cũng chính là nguyên lý đem lại sự hiệp nhất cho mọi thành phần trong Hội thánh. Chúa Giêsu luôn sống trong sự hướng dẫn của Thần khí, nên tinh thần của Ngài cũng chính là tinh thần yêu thương hiệp nhất. Suốt đời Chúa Giêsu đã làm mọi việc chỉ vì tình yêu dành cho Chúa Cha và vì yêu thương nhân loại. Sứ mạng của Ngài là đem lại sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa và con người và giữa mọi người với nhau. Ngài gọi lòng mến Chúa yêu người là giới răn trọng nhất (Mc 12:29-31). Ngài còn truyền cho các môn đệ giới răn mới là phải yêu mến nhau như chính Ngài đã yêu mến họ và đặt đức mến làm dấu chỉ của các môn đệ Ngài (Jn 13:34-35). Trong lời nguyện hiến tế trước khi chịu khổ nạn, Chúa Giêsu đã tha thiết cầu nguyện cùng Chúa Cha: "Xin cho chúng nên một như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" (Jn 17:21). Ngài còn lập nên Bí tích Thánh Thể để Ngài được hiệp nhất với các tín hữu của Ngài và để đem lại sự hiệp nhất giữa họ: "Kẻ ăn thịt Ta và uống máu Ta thì lưu lại trong Ta và Ta ở trong kẻ ấy" (Jn 6:56). Sống trong Thần Khí vì thế phải là sống yêu thương hiệp nhất như Chúa Giêsu đã sống. Mẹ Maria là người đã chia sẻ trọn vẹn tinh thần của Chúa Kitô và đã sống trong Thần Khí cách hoàn hảo hơn bất cứ ai. Ngay từ biến cố nhập thể của Chúa Giêsu, Thánh Thần Chúa đã đến trên Mẹ và quyền năng Thiên Chúa đã rợp bóng trên Mẹ (Lc 1:35). Chính Mẹ đã cộng tác với Chúa Thánh Thần để sinh ra Chúa Giêsu và Mẹ vẫn tiếp tục cộng tác với Chúa Thánh Thần để hướng dẫn Hội Thánh và thánh hóa các linh hồn. Sự hiện diện của Mẹ giữa các tông đồ trong ngày Lễ Ngũ Tuần khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các ông cho thấy sự liên kết mật thiết giữa Chúa Thánh Thần và Mẹ. Do đó, nhiều tác giả không ngần ngại gọi Mẹ là Hiền Thê của Chúa Thánh Thần hay linh họa (icon) của Thánh Linh. Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con lòng biệt kính Mẹ Thánh Chúa để chúng con biết noi gương Mẹ sống trong Thần Khí và nên giống Chúa cách trọn hảo hơn. Amen. LỄ CHÚA BA NGÔI 30-05-1999 MẦU NHIỆM TÌNH YÊU "Ân sủng của Chúa Giêsu, lòng mến của Thiên Chúa và sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần ở cùng anh em hết thảy!" Trong ngày lễ hôm nay, Giáo Hội đặt trước mắt chúng ta một mầu nhiệm cao trọng và siêu việt nhất trong đạo, mầu nhiệm về chính bản thể của Thiên Chúa: mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Ðây cũng là mầu nhiệm mà chúng ta tuyên xưng mỗi khi làm dấu thánh giá: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Nhiều người cho rằng mầu nhiệm là những điều quá cao siêu ta không thể hiểu được nên tốt hơn đừng bàn tới để khỏi bị "rối đạo" hay "rối trí". Vì thế, họ không muốn học hỏi suy niệm sâu hơn về các mầu nhiệm hay các chân lý đức tin. Kết quả là họ không cảm nhận sự phong phú tuyệt vời của niềm tin Kitô giáo. Thực ra, các mầu nhiệm đức tin không phải là những điều ta không thể hiểu được chút gì cả nhưng là những thực tại lớn lao mà Thiên Chúa vì yêu thương đã tỏ ra cho chúng ta, để ta tin nhận và sống theo niềm tin ấy, ngõ hầu tìm được ý nghĩa và hạnh phúc đích thực cho cuộc đời. Vì trí khôn loài người thì giới hạn mà Thiên Chúa là Ðấng Vô Cùng, nên chúng ta không bao giờ suy cho cùng, hiểu cho thấu các mầu nhiệm về Thiên Chúa. Nhưng với ơn Chúa, càng suy niệm và học hỏi về các mầu nhiệm đức tin, càng hiểu biết thêm về các mầu nhiệm ấy và cố gắng sống tin yêu theo sự hiểu biết Chúa đã ban, ta sẽ càng cảm phục và ngưỡng mộ sự siêu việt cao cả của Thiên Chúa và càng cố gắng học hỏi để ngày càng thêm hiểu biết và yêu mến Người. Khi mạc khải cho chúng ta biết mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa Cô Ðộc-Cô Ðơn. Người cũng chẳng phải là một Thiên Chúa Ðộc Tôn-Ðộc Tài-Ðộc Ðoán. Người lại càng không phải là một Ðấng tuy quyền năng siêu việt nhưng không thể chia sẻ cảm thông với ai như tâm trạng của nhân vật "Ðộc Cô Cầu Bại" trong một pho truyện kiếm hiệp nào đó! Ðáng buồn là hình ảnh về một Thiên Chúa Cô Ðơn hay Ðộc Tài vẫn là hình ảnh về Thiên Chúa nơi tâm trí nhiều Kitô hữu. Trong buổi lửa thiêng của một sa mạc của Thiếu Nhi Thánh Thể, một đội diễn lại hoạt cảnh Thiên Chúa sáng tạo vạn vật và con người. Em thiếu nhi đóng vai Thiên Chúa Giavê xuất hiện một mình và nói: "Ta có mỗi một mình buồn quá! Ta phải dựng nên con người giống Ta để chơi cho vui". Trong một buổi tĩnh huấn, cha giảng thuyết nói về các đòi hỏi của luân lý Phúc âm là những đòi hỏi không thể bỏ qua hay tương nhượng. Một học viên phát biểu: "Khó quá vậy đâu có được! Như thế, không mấy ai vào được Thiên đàng cho Chúa ở một mình buồn thiu thì Ngài phải đổi ý!" Lời phát biểu của em thiếu nhi và học viên khóa tĩnh tuấn trên đây cho thấy quan niệm sai lầm về Thiên Chúa của họ vì thiếu hẳn chiều kích Chúa Ba Ngôi. Khi mạc khải mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi và nói cho chúng ta biết về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta biết thực tại về Thiên Chúa là một thực tại của tình yêu hiệp nhất. Mầu nhiệm này được thánh Gioan định nghĩa ngắn gọn hơn khi viết: "Thiên Chúa là tình yêu" (1 Jn 4:8). Tình yêu không thể chỉ là một ngôi vị đơn độc vì tình yêu nào cũng đòi hỏi sự ra khỏi chính mình để hướng đến người khác! Ðức Cha Fulton J Sheen trong tác phẩm Sức Mạnh của Tình Yêu (The Power of Love) đã viết: "Tình Yêu đòi hỏi ba yếu tố: người yêu, người được yêu, và mối tương giao giữa hai người". Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi cũng thế. Từ đời đời Thiên Chúa luôn hiện hữu trong Ba Ngôi: Chúa Cha luôn yêu mến Con Một Người là Chúa Con; Chúa Con luôn yêu mến Người Cha Duy Nhất của Người là Chúa Cha; và mối tình liên kết giữa Chúa Cha và Chúa Con chính là Chúa Thánh Thần. Ðây là bản chất của Thiên Chúa, Ðấng là chính Tình Yêu, một Tình Yêu tuyệt đối, một tình yêu vô biên, một tình yêu duy nhất. Ba Ngôi nhưng chỉ là Một Chúa vì Ba Ngôi tuy phân biệt và khác nhau về ngôi vị nhưng không hề tách rời nhau và luôn kết hợp với nhau trong một bản thể Thiên Chúa duy nhất. Nơi Ba Ngôi chỉ có một ý chí, một hành động, một tình yêu. Chính từ nguyên lý yêu thương hiệp nhất siêu việt này của Chúa Ba Ngôi mà vạn vật được tác thành, trong đó con người có một chỗ đứng đặc biệt vì được Thiên Chúa dựng nên "giống hình ảnh Người" (Gen 1:27) để được tham dự vào sự hiệp thông yêu thương của chính Chúa Ba Ngôi . Như vậy, không phải vì cô đơn buồn sầu nhưng vì hạnh phúc sung mãn tràn đầy mà Thiên Chúa đã tác tạo chúng ta. Ðiều này được diễn tả cách tuyệt vời trong một bài suy niệm từ cuốn sách mang tên Quyển Sách Vàng như sau: "Chúa là tình yêu. Có yêu và là yêu, hai câu ý nghĩa khác xa. Thiên Chúa không phải chỉ có tình yêu như một ưu phẩm, nhưng toàn thân Chúa là chính khối tình mênh mông bát ngát đó, là nguồn mạch mọi tình yêu nơi thụ tạo trên trời dưới đất, từ muôn xưa đến nay và mãi mãi. Cái tình yêu ấy bởi mãnh liệt nóng nảy quá đến như không kiềm hãm nổi trong lòng Chúa nữa, đã phải tràn ra ngoài tạo vật. Cũng bởi yêu mãnh liệt vô cùng, Ðức Chúa Cha đã ban Con Một Ngài để chịu chết và cứu chuộc ta; như thế Ngài chưa thỏa mãn, Ngài còn muốn ban cho ta Chúa Thánh Thần, để ở trong ta mà nhóm và nuôi lửa yêu nóng nảy ấy. Chúa Giêsu đã tuyên bố Ngài xuống thế gian để đem lửa đến và ước vọng độc nhất của Ngài là lửa ấy cháy lên trong lòng người ta..." Như thế, niềm tin của chúng ta nơi việc nhập thể và cứu chuộc của Chúa Kitô phải luôn gắn liền với mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Vì tin Chúa Kitô chính là đón nhận quà tặng tình yêu của Chúa Cha, như Chúa Giêsu đã nói trong tin mừng hôm nay: "Quả vì Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế (đó), đến đỗi đã thí ban Người Con Một, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời" (Jn 3:16). Và đón nhận quà tặng tình yêu của Chúa Cha nghĩa là bước vào liên hệ yêu thương hiệp nhất với Người nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Ðó chính là bản chất của đời sống người Kitô hữu. Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Nữ Tử Dấu Yêu của Chúa Cha, là Mẹ sinh ra Chúa Cứu Thế, là Hiền Thê của Chúa Thánh Thần, và là Ðền Thờ Chúa Ba Ngôi Cực Thánh. Xin Mẹ dạy con biết sống yêu thương hiệp nhất để luôn làm đẹp ý Chúa Ba Ngôi như Mẹ. LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA 06-06-1999 DI NGÔN CỦA MỘT VỊ THÁNH "Quả thật, quả thật Ta bảo các ngươi: nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi" Vào buổi tối trước khi Thánh Gioan Bosco (1815-1888) qua đời, một môn sinh của ngài hỏi: "Ðâu là di ngôn của cha để lại cho con cái?" Thánh nhân đã trả lời: "Hãy yêu mến Ðức Mẹ và năng rước lễ!" Và những lời cuối cùng ngài nói với các con thiêng liêng của ngài là: "Hãy nói với tất cả là cha đợi mọi người trên thiên đàng. Siêng năng rước lễ và yêu mến Ðức Mẹ là phương thế chắc chắn". Với di ngôn đó, Thánh Gioan Bosco như đã lặp lại lời Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng hôm nay về sự cần thiết phải yêu mến và kết hợp với Chúa Thánh Thể để được tham dự vào sự sống thần linh của chính Người. Chúa nói: "Quả thật, quả thật Ta bảo các ngươi: nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi không có sự sống nơi mình các ngươi. Ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta sẽ cho nó sống lại trong ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn và máu Ta thật là của uống. Kẻ ăn thịt Ta và uống máu Ta thì lưu lại trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy" (Jn 6:53-56). Tin mừng Gioan thuật tiếp rằng sau những lời tuyên bố này của Chúa Giêsu, "...trong các môn đồ của Ngài có nhiều người nói: Lời chi mà sống sượng thế! Ai nào có thể nghe nổi?...Từ đó, nhiều môn đồ của Ngài đã rút lui và không còn đi theo Ngài nữa. Vậy Ðức Giêsu bảo nhóm Mười Hai: Cả các ngươi nữa, các ngươi không muốn bỏ về sao?" (Jn 6:60, 66-67). Như thế, ngay từ buổi đầu giáo huấn của Chúa Giêsu về Bí tích Thánh Thể đã là một thử thách với những người đi theo Người. Dù có nhiều môn đệ đã rút lui không còn đi theo Chúa nữa, nhưng Chúa Giêsu vẫn duy trì giáo huấn của Người không hề nao núng. Thái độ chấp nhận hay khước từ, dửng dưng hay nồng nhiệt của mỗi người chúng ta trước giáo huấn của Chúa Giêsu về Bí tích Thánh Thể đã đang và sẽ là yếu tố xác định ta là loại môn đệ như thế nào của Người. Giáo huấn của chính Chúa Giêsu về Bí tích Thánh Thể có thể quy về 2 điểm căn bản sau: 1. Bí tích Thánh Thể thực sự là Mình Máu Chúa Giêsu bao gồm Sự Hiện Diện Ðích Thực của Người với trót bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại của Người dưới hình bánh và rượu. 2. Việc yêu mến và đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể là phương thế để ta được hiệp nhất với Thiên Chúa trong tình yêu và là điều kiện để đạt được sự sống đời đời. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo trình bày sự cao trọng tuyệt đối của bí tích Thánh Thể như sau: "Thánh Thể là nguồn mạch và đỉnh cao của sinh hoạt Giáo hội. Các bí tích khác cũng như tất cả các thừa tác vụ trong Giáo hội và các tác vụ tông đồ đều liên kết và quy hướng về Thánh Thể. Bởi vì Thánh Thể chứa đựng tất cả kho báu thiêng liêng của Giáo hội, tức chính bản thân Chúa Kitô, lễ Vượt Qua của chúng ta. "Thánh Thể nói lên và thực hiện sự hiệp thông vào sự sống của Thiên Chúa và sự hiệp nhất của dân Thiên Chúa: nhờ hai điều này mà Giáo Hội là Giáo Hội. Nơi Thánh Thể ta thấy đỉnh cao của hành động mà Thiên Chúa dùng để thánh hóa thế gian trong Chúa Kitô, và cũng là đỉnh cao của việc phụng tự mà loài người dâng lên Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần, và qua Chúa Kitô mà dâng lên Chúa Cha" (# 1324-1325). Ðức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II còn xác quyết rằng Bí tích Thánh Thể là phương thế để giải quyết tất mọi vấn đề của thế giới. Ngài nói: "Trong Bánh Thánh nhỏ bé này gồm tóm sự giải đáp cho tất cả các vấn nạn trên thế giới". Với các linh mục ngài căn dặn: "Việc phục vụ tốt nhất mà bạn là một linh mục có thể cống hiến cho Hội Thánh là đặt Hy Lễ Thánh Thể làm trung tâm đời sống của bạn và trung tâm đời sống của những người bạn phục vụ". Sự xác quyết trên của như lập lại tâm tình đầy xác tín của Thánh Anphong Ligôri--Tổ phụ dòng Chúa Cứu Thế--trong cuốn Viếng Thánh Thể và Ðức Maria, một tác phẩm có nhiều ấn bản nhất (trên 2.000 ấn bản) của ngài. Thánh nhân viết: "Thánh Augustinô nói: Mọi người đều khờ dại khi tìm thỏa mãn trong những sự thế gian. Ngài thúc giục họ tìm đến Chúa Kitô là Ðấng duy nhất có thể làm thỏa mãn lòng khao khát của họ. Linh hồn ta hỡi, đừng dại khờ; hãy khao khát một mình Chúa. Thật dễ tìm gặp Chúa vì Người ở thật gần ngay trong nhà tạm. Hãy nói với Người các nhu cầu của bạn. Người ở đây cốt để an ủi và lắng nghe bạn... "Hàng triệu linh hồn sẽ thoát khỏi đau khổ nếu họ chỉ cần đến với Bánh Hằng Sống này. Chỉ tại đây họ mới tìm được phương thuốc chữa trị cơn bịnh tâm linh của họ... Sao con phàn nàn khi gặp trắc trở? Chúa Cứu Thế của chúng ta chắc sẽ hỏi chúng ta như thế. Ở đây trong bí tích này con sẽ gặp được bác sĩ và phương thuốc có thể chữa lành mọi tâm hồn. Hãy đến với Ta, và Ta sẽ bổ sức cho..." Trong tập sách Những Kỳ Diệu của Thánh Lễ (The Wonders of the Mass), Linh mục Paul OSullivan, OP đưa ra nhận xét độc đáo sau về sự giá trị tuyệt vời của Thánh Lễ và thái độ của người tín hữu đối với Thánh Lễ. Ngài viết: "Thánh Lễ là điều lạ lùng cao trọng nhất trên trần gian. Không có gì dưới đất sánh bằng Thánh Lễ, và chẳng có chi trên trời trọng hơn Thánh Lễ. Ðiều lạ lùng kế đến là sự lãnh đạm của người Công giáo đối với Thánh Lễ". Chính vì nhận biết sự cao trọng vô cùng của Bí tích Thánh Thể cũng như sự cần thiết phải khơi dạy nơi lòng các tín hữu lòng sùng mộ bí tích cực trọng này, nên Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã đặt Bí tích Thánh Thể làm trọng tâm của việc học hỏi cho Ðại Năm Thánh 2.000 để bắt đầu một thiên niên kỷ mới. Bao giờ chúng ta mới thành tâm lắng nghe di ngôn của Thánh Gioan Bosco, lời xác tín của Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II, tâm tình tha thiết của Thánh Anphong-Liguori, nhận xét độc đáo của cha Paul OSullivan, lời dạy chân thực của Giáo Hội và nhất là lời mời gọi đầy yêu mến "Hãy đến với Ta" của chính Chúa Giêsu để siêng năng và sốt mến đến với Người trong Bí tích Thánh Thể, để được kết hợp mật thiết với Người, để được thông chia sự sống thần linh của chính Người? Lạy Chúa Giêsu, con tin Chúa đang ngự thật trong Bí tích Thánh Thể. Cùng với Mẹ Maria con yêu mến Chúa, con thờ lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã ban cho con chính Chúa trong bí tích cực trọng này. Xin Chúa hãy làm cho con say mê yêu mến Chúa và khăng khít kết hợp cùng Chúa trong mọi nơi mọi lúc. Xin Chúa đừng để con phải lìa xa Chúa. Xin Chúa hãy nên tất cả cho con và làm cho con được thuộc trọn về Chúa. Amen. Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao E-mail : ducme@cuuthe.com |