NHỮNG NĂM THÁNG TRONG ÐỜI TÔNG ÐỒ
VỚI CHA HỒNG PHÚC

Lm. Cao Ðăng Minh, C.Ss.R.

Tôi gặp Cha Hồng Phúc lần đầu vào năm 1952. Lúc đó Cha mới thụ phong linh mục được 4 năm, và là một linh mục trẻ trung, đầy năng lực và hào khí trên đường tông đồ vừa mở ra. Còn tôi, mới bước chân vào đời tu trì. Tuổi 13 còn non dại, mà đã phải xa cha mẹ, anh em, xóm làng với cuộc sống thơ ấu đẹp như mơ, làm sao tôi không tránh khỏi nỗi buồn, cái buồn nhẹ nhàng trong tiếc nuối tự nhiên, giống như cái tiếc nuối của cánh hải âu có tên là L’abatros nhớ vùng trời mênh mông trong lời thơ Beaudelaire.

Chính vào lúc tâm hồn còn bâng khuâng trong bơ vơ lúc đầu ấy, Cha Hồng Phúc đã đến với tôi. Vị linh mục mang đầy tình thương chia sẻ, đã cho tôi ngay cái ấm cúng trong buổi đầu lạc lõng. Có một điều ngạc nhiên, là thường ra, các chú tân đệ tử, trong suốt năm đầu, chưa được về thăm nhà. Riêng tôi, không biết sao lại được hưởng biệt lệ về thăm cha mẹ sớm hơn, và nhất là cứ vào cuối tuần, lại được ra Hà Nội thăm chú và các em tôâi. Con đường xe điện Thái Hà Ấp - Hà Nội thành quen thân. Sau này tôi mới biết, là chính Cha Phúc đã đệ đạt lên bề trên cho tôi được đặc ân này.

Từ buổi gặp gỡ đầu, rồi tình cảm cha dành cho tôi, sau này tôi tự hỏi, phải chăng vận số là một thực tế? Vì sau đó, cha và tôi còn nhiều duyên nợ với nhau, còn nhiều chia sẻ và gắn bó, trong suốt 47 năm, cho đến khi cha lìa trần vào sáng 11/03/1999 vừa qua.

Thế rồi vận nước đổi thay. Tháng 8 năm 1954, tôi cùng Cha Phúc, một số cha khác và các đệ tử cùng lớp giã từ mái tu viện Thái Hà Ấp để vào Nam.

Vận nước nổi trôi làm đảo lộn cả một cuộc sống của hàng triệu người, trong đó có cha mẹ, anh em tôi. Tất cả đều phải bỏ mồ mả tổ tiên, xóm làng, người thân và sự nghiệp xây dựng bao năm để đổi lấy cuộc sống tự do và tốt đẹp hơn. Nhưng đối với Dòng Chúa Cứu Thế, thì sự đổi thay năm 1954, tuy là một đột biến, nhưng không phải là biến cố có thể thay đổi cơ chế của Dòng. Bởi vì đời truyền giáo anh em chúng tôi, là những chuyến viễn du triền miên, không phải chỉ Nam-Bắc, mà còn cả vùng địa cầu. Vì thế, cuộc đi Nam, trong phạm vi cá nhân, cũng chỉ tương tự như một chuyến đi biển tìm cá, hiểu theo nghĩa bóng, của Ernest Hemingway trong "Ông Già và Biển Cả" (The Old Man and the Sea).

Rồi cuộc sống tại miền Nam bắt đầu. Tôi và Cha Hồng Phúc lại có dịp làm việc vaới nhau, chia sẻ những khó khăn, trao đổi những kết quả mục vụ, hết Ðà Lạt, lại Nha Trang, Sài Gòn, rồi Vũng Tàu. Ðến năm 1968, khi tôi thụ phong linh mục, thì hoàn cảnh có thay đổi, Cha Phúc được bề trên đề cử chức vụ Bề trên Dòng tại Sài Gòn, rồi Ðà Lạt, còn tôi, với nhiều chỉ định khác nhau, thường không gặp Cha.

Năm 1970, Cha Hồng Phúc được đề cử đi giảng dạy bên Lào, thời gian công tác là 2 năm. Vận số làm việc chung lại đến, khi nhu cầu cần một phụ tá nói tiếng Anh - Pháp, và tôi được chỉ định lên đường phụ tá cho Cha. Trong 2 năm này, hai anh em chúng tôi có cơ hội để trao đổi rất nhiều quan niệm và kinh nghiệm về giáo dục, và nhất là về đường hướng truyền giáo cho những sắc dân bản sở. Không biết đây có phải là một sự xếp đặt của Chúa hay không, mà chúng tôi lại cùng có cơ hội để tìm hiểu về văn hoá Lào, để chỉ 5 năm sau, tại mãi xa mù bên trời Mỹ Châu, tôi và Cha lại phục vụ chính sắc dân mà chúng tôi có ít nhiều hiểu biết về họ, dưới mái thánh đường của Trung Tâm Mục Vụ Ðông Nam Á, do chúng tôi thành lập.

Biến cố lịch sử 30/04/1975 đã ngăn cách Cha và tôi. Tôi đang du học bên Mỹ, còn Cha phục vụ tại Lào và Thái Lan. Kể từ khi gặp nhau lần đầu năm 1952 đến nay, thì đây là khoảng thời gian xa cách lâu nhất. Từ Thái Lan, Cha sang Pháp, rồi năm 1979 sang Mỹ để gặp lại các anh em trong Dòng. Lợi dụng chuyến sang thăm Mỹ lần đầu này, tôi đã trình bày những nét đại cương cho Cha biết về dự án thành lập một Trung Tâm Mục Vụ để giúp đỡ hàng ngàn người Việt và các sắc dân Ðông Nam Á tị nạn Cộng Sản.

Ngày 19/03/1981, Cha Hồng Phúc chính thức về Portland, Oregon, để cùng tôi và các cha Trần Công Nghị, Phạm Văn Ninh, thành lập Trung Tâm Mục Vụ, và Giáo xứ Lavang cũng được khai sinh vào dịp này. Ngày Cha về nhận nhiệm vụ tại Portland là ngày lễ kính Thánh Cả Giuse.

Tôi không khi nào ngờ được đúng 18 năm sau, cũng vào ngày lễ kính Thánh Cả Giuse, 19/03/1999, chúng tôi lại rước thi hài Cha từ California về lại Portland, sau khi Cha tắt thở vào 9 giờ 25 sáng ngày 11/03/1999.

Ai đã quen biết Cha Hồng Phúc đều biết rằng, Cha có lòng kính mến Thánh Giuse một cách đặc biệt. Lúc nào Cha cũng nhắc mọi người kính mến Thánh Cả, và mỗi khi gặp khó khăn, ngài cũng thúc dục mọi người tìm đến Thánh Cả. Ðài Thánh Cả Giuse trong khuôn viên Trung Tâm hiện nay, nằm ngay bên phòng ngủ của Cha, có được là do ý kiến đầu tiên của Cha.

Ngày 29/12/1998, Cha nói với tôi, là Cha muốn xuống ăn Tết với gia đình ở California, luôn tiện đi khám bệnh xem có trở ngại gì không. Tôi bằng lòng để ngài đi, nhưng vì Cha chưa chắc ngày về, nên Cha chỉ lấy vé một chiều thôi. Trước khi ra máy bay, Cha cùng với tôi đi một vòng quan sát ngôi thánh đường mới, lúc đó đã gần xong phía ngoài. Cha Phúc rất thiết tha có một ngôi thánh đường mới, vì ngài đã chứng kiến những lễ Chúa nhật, với hàng trăm người phải đứng ngoài mưa gió để dự lễ. Cha cũng ước ao xây một đài kính Ðức Mẹ Lavang bên cạnh ngôi thánh đường mới. Cả hai nguyện ước của Cha đều đượïc thực hiện, tôi quả quyết với Cha như vậy.

Trong suốt thời gian ở California hơn 2 tháng, gần như ngày nào Cha cũng gọi điện thoại về cho tôi để theo dõi công việc ở nhà. Ðiều này chứng tỏ rằng, tâm hồn Cha, lúc nào cũng hướng về giáo xứ này, một giáo xứ mà có được như ngày hôm nay là do tình thương của Chúa. Nhớ lại vào khoảng giữa năm 1982, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc tạo mãi cơ sở Trung Tâm Mục Vụ và thành lập giáo xứ này. Vì một phần, giáo dân rất nghèo, không đủ tiền để phụ với Toà Tổng Giám mục. Lúc đó, nhiều người cứ nghĩ rằng, chủ nhân cơ sở là các nữ tu người Mỹ, các bà sẽ thương dân tị nạn nghèo nàn mà nương tay cho. Nhưng thực tế không phải vậy. Bên cạnh đó, chúng tôi còn gặp sự chống đối của một số anh chị em giáo hữu nội bộ, vì ngộ nhận mà quyết ngăn cản việc mua cơ sở này. Ðiều này tạo thành nỗi buồn lòng không ít cho tôi.

Trước tình trạng khó khăn từ trong đến ngoài này, tôi thấy chán nản. Tôi ngỏ ý với Cha Phúc rằng, tôi muốn bỏ cuộc để trở về Nhà Dòng dạy học. Ðây cũng chính là con đường mà Dòng muốn tôi đi, cho nên mới gửi tôi sang du học đây năm 1972. Bỏ cuộc, bỏ giáo xứ để về Nhà Dòng dạy học, là tôi trút được đôi vai nặng trĩu trách nhiệm. Tóm lại, tôi sẽ có một cuộc sống thảnh thơi và nhẹ nhàng hơn với vài chục chú đệ tử học trò. Khi nghe tôi ngỏ ý muốn bỏ cuộc như vậy, Cha Phúc giật mình và tỏ ý hết sức lo âu. Cha hết lời khuyên can tôi, rồi Cha một mình mở tuần tam nhật khấn riêng Thánh Giuse, xin ơn bền đỗ cho tôi, xin cho tôi thêm can đảm, và đừng bỏ mấy ngàn giáo dân bơ vơ. Sau đó, không biết có phải "trong khấn ngoài doạ" hay không, mà Cha đến gặp tôi và cũng ngỏ ý rằng, nếu tôi mà bỏ cuộc để trở về Dòng, thì Cha cũng về Dòng ở California, các cha khác cũng ai trở về chỗ nấy, giáo xứ sẽ giải tán, hoặc để đó, muốn ai lo thì lo.

Viết lại ít hàng này, tôi muốn nhắc rằng, chính Cha Hồng Phúc đã kiến tạo và nhờ Thánh Cả Giuse, đã giữ vững giáo xứ này để có được như ngày hôm nay.

Ngày thứ Bảy 06/03/1999, cháu Nga là người cháu gái duy nhất của Cha ở Hoa Kỳ gọi điện thoại từ California lên cho tôi, báo tin Cha rất mệt sau khi giải phẫu, và Ngài rất ước ao gặp ông chủ tịch giáo xứ Vũ Văn Ðề, cụ cố vấn Lê Văn Hơn và tôi. Nhưng chỉ một mình tôi và Sơ Bề trên Mary Kim Phượng, Dòng Mến Thánh Giá Thanh Hoá, xuống được.

Tôi đã ở bên giường bệnh với ngài cho đến sáng thứ Tư 10/03/1999. Tôi quyết định ra về, vì các bác sĩ cho biết rằng, không còn hy vọng gì nữa. Tôi phải trở về Portland ngay để chuẩn bị rước Cha Hồng Phúc về, đúng theo nguyện ước của ngài. Ngài thì thầm bên tai tôi chỉ 15 tiếng đồng hồ trước khi ngài hoàn toàn hôn mê: "Cha Minh nhớ đưa tôi về Portland nhé, đừng để tôi ở lại Cali. Tôi đã nói nguyện ước của đời tôi, là được sống và chết, được nằm an nghỉ tại Portland, nơi đây, có giáo xứ mà tôi yêu mến." Sau này, cô cháu của Cha là Nga cũng nói với cô tương tự như thế. Một hôm, sau khi ăn tối, Cha gọi cô Nga và chồng là anh Thịnh vào phòng tâm sự: "Cậu thương các cháu lắm. Cậu muốn gần các cháu luôn. Nhưng nếu có xảy ra thế nào, thì hai cháu thu xếp đưa cậu về Portland, với giáo xứ cậu phục vụ bao năm nay. Chủ chiên phải ở giữa đoàn chiên."

Tôi nhớ có một triết nhân nào đó đã nói rằng: "Giữa sự sống và sự chết, có kiếp người. Giữa con người đầu tiên trên mặt đất với con người cuối cùng của dương thế, có con người muôn thuở."

Với lòng kính mến một linh mục khả kính bậc thầy, bậc anh cả. Với trọn tình nghĩa dành cho một người bạn suốt đời sắt son với tôi. Tôi muốn dựa vào ý nghĩa của lời triết nhân kể trên, mà kết thúc mấy trang viết hôm nay, như một đoá hoa ân tình gửi theo vào lòng huyệt của cha rằng, người muôn thuở ở giữa mặt đất và dương thế đó, đối với tôi, chính là Cha Hồng Phúc.

Người linh mục đàn em ở với Cha suốt 47 năm gắn bó, xin vĩnh biệt Cha.

Ngày tiễn biệt Cha

Portland, ngày 20-03-1999


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com