THIÊN CHÚA LÀ CHA (I) Lm. Trịnh Ðức Hòa, C.Ss.R."Tôi tin kính Ðức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng. . . " là định tín đầu tiên trong Kinh Tin Kính, kinh tóm kết chắc nịch cương lĩnh niềm tin của người Kitô hữu. Ðọc nhiều, nghe mãi tín điều ấy thành thói quen dễ làm ta vơi cảm chiều kích sâu thẳm và phong nhiêu của mầu nhiệm kỳ diệu độc đáo này. Không lạ lùng sao được khi ngẫm xem sự kiện một thọ tạo phàm hèn lại dám gọi Thiên Chúa sáng tạo là Cha! Nếu đấy không phải là một chân lý được Thiên Chúa thông tri, có lẽ chẳng người nào dám đường đột xưng hô thân mật như vậy. Dân gian thường nói: "Thiên cơ bất khả lậu". Thế mà một mầu nhiệm tuyệt vời dường ấy lại được mạc khải qua lịch sử cứu độ! Mời bạn đọc cùng doãn lại những chứng từ Cựu Ước vốn là những khắc họa đẹp đẽ giúp ta hội ra chân dung Thiên Chúa là Cha từ nhân.
Thiên Chúa là Cha Dân Tộc Israel. Qua biến cố xuất hành-vượt qua, dân Israel đã tận mắt chứng kiến uy lực vô song của Ðức Chúa được thi thố triệt để nhằm giải thoát dân khỏi ách nô lệ và dẫn đưa họ vào miền Ðất Hứa. Dĩ nhiên, đứng trước một quyền năng oai phong như vậy, toàn dân không thể không kính sợ và thán phục Ðức Chúa. Lần đầu tiên trong lịch sử Israel, Ðức Chúa trực tiếp chiến đấu như một dũng tướng bách chiến bách thắng. Nhưng sau những chiến công lẫy lừng của biến cố vượt qua, dân Chúa đã phải tự hỏi: Nếu đối với người Ai-cập, Ðức Chúa tỏ ra Người là dũng sĩ của tự do, thì đối với dân Chúa, Người là ai? Và vì sao Người lại làm thế? Ở đây, vấn nạn về căn tính Ðức Chúa và về mối liên hệ giữa Ðức Chúa và dân Chúa được đặt ra. Câu trả lời nằm sẵn trong lệnh truyền Ðức Chúa dành cho Pharaô ươn ngạnh và cố chấp: "Con đầu lòng của Ta là Israel. Ta đã phán với ngươi: Hãy thả con Ta ra để nó đi thờ phượng Ta!" (Xh 4:22). Thật quá rõ, trên cơ sở giao ước được thiết lập với các tổ phụ xưa, Ðức Chúa đã minh nhiên nhận mình là Cha của dân Israel. Chính vì tình phụ tử son sắt này mà Ðức Chúa đã không thể nhắm mắt làm ngơ trước tình cảnh con dân mình đang khốn quẫn dưới hầm tai vạ của Pharaô: "Ðấng gìn giữ Israel, Tình phụ tử dạt dào ân tình này điểm thêm nét đặt biệt khi Ðức Chúa ưu ái gọi Israel là "con đầu lòng", để đương nhiên thành người thừa kế trọn vẹn gia tài phúc lành của Cha: "Vì đối với Israel, Ta là một người Cha, còn đối với Ta, Ephraim chính là con trưởng" (Gr 31:9). Thật vậy, danh hiệu "Cha" đã gói trọn tất cả tình tự đôn hậu và tác động yêu thương của Ðức Chúa dành cho dân Người trong suốt dòng lịch sử thăng trầm, đặt biệt trong những giờ phút đen tối nhất của vận nước như cuộc lưu đầy ở Ai-cập và Babylon. Và đó chính là động lực khiến Ðức Chúa luôn hiện diện để can thiệp bảo vệ dân Chúa như một phần thân thể mình: "Nhưng sở hữu của Ðức Chúa chính là dân
Chúa, Ở đây xuất hiện ba động từ liên tiếp nhấn mạnh vai trò của Ðức Chúa là Cha đối với dân Israel: "ấp ủ", "dưỡng dục" và "giữ gìn"; còn Israel được nhận làm "sở hữu" và "cơ nghiệp" của Người. Nét đẹp xuất hiện trong tình phụ tử trên là rỡ ràng dung mạo người mẹ dịu hiền trong hình ảnh chim mẹ bảo bọc bầy chim con. Ðẹp thay, Thiên Chúa là Cha, nhưng mang tấm lòng Mẹ! "Sion từng nói: Ðức Chúa đả bỏ tôi, Khi nhận mình là Cha của dân tộc Israel, Ðức Chúa tự đặt lên mình trách nhiệm cưu mang, dưỡng dục và bảo vệ đoàn con Israel của mình trước mọi tình thế xoay vần của cuộc sống. Cha cưu mang như người mẹ "mang nặng đẻ đau" khi quyết tâm giải thoát Israel khỏi thế lực bạo quyền Ai-cập và tác thành nên một dân tộc từ đây mang một bản sắc và vận mệnh riêng. Ngôn sứ Hôsêa và Isaia đã xướng hoạ: "Khi Israel còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó. "Lạy Ðức Chúa, Ngài là Cha chúng con; Cha dưỡng dục khi giáo huấn con dân vào đường ngay nẻo chính và sửa trị khi cần. Tác giả sách Huấn ca đã khiêm tốn nhìn nhận vai trò dưỡng dục cần thiết của Cha khi khấn xin: "Lạy Ðức Chúa là Cha và là Chúa Tể đời
con, Và Cha bảo vệ khi không ngừng cứu vớt Israel khỏi những thế lực áp chế của quân thù kẻ dữ. Israel sống còn là chỉ nhờ Cha mà thôi. Ðược một Thiên Chúa quyền năng là Cha mình, dân Chúa tìm thấy một nương tựa kiên vững như bàn thạch. Vì thế, ngôn sứ Isaia từng hiên ngang tuyên xưng: "Quả chính Ngài là Cha chúng con! Tình phụ tử ngời sáng trong biến cố vượt qua đã nên nguồn cảm hứng bất tận cho bao thế hệ ngôn sứ khi phải đối đầu với những thế lực đen tối dầy xéo dân tộc. Mỗi khi Israel phải trực diện với những hiểm họa gây chao đảo vận mệnh nước nhà, những sứ giả được Ðức Chúa sai đến, nhắc nhớ mọi người hãy nhìn kỹ lại lịch sử dân tộc để thấy Ðức Chúa từng tỏ bày tình phụ tử thiết tha và bền bỉ mà đáp cứu hữu hiệu. Tình cha tuyệt đối và vô điều kiện này sẽ là bảo chứng chắc chắn cho bước đường tương lai. Chân lý một Chúa, một Cha là nền tảng của tình đại đoàn kết dân tộc: "Tất cả chúng ta chẳng có cùng một Cha sao?
Thiên Chúa là Cha mỗi người. Nói đến Ðức Chúa là Cha của toàn dân Israel mà không nói đến Ðức Chúa là Cha của từng người thì quả là điều thiếu xót. Thực vậy, Kinh Thánh không biết đến một người Cha chung chung cho mọi người và xa lạ cho từng cá nhân. Dân Chúa không thể cảm nhận một người Cha trên mây trên gió; trái lại, từ tình phụ tử dành cho dân tộc, mỗi người càng thêm thấm thía tình Cha dành cho riêng mình là con: "Như người Cha chạnh lòng thương con cái, Trong đôi câu thánh vịnh ngắn mà chữ "chạnh lòng" được lập lại hai lần cũng chỉ nhằm nhắn nhủ người con đừng vội nghĩ Ðức Chúa là một quan toà khắc nghiệt hay như công an có đôi mắt lạnh lùng chuyên hạch tội rình lỗi. Một đấng vô tâm vô tình như thế quyết không phải là Ðức Chúa Giavê được mạc khải trong Kinh Thánh. Trái lại, Kinh Thánh ghi nhận nhiều chứng từ thật cảm động về tình phụ tử của Ðức Chúa. Tựa như khi so sánh với tình phụ tử trần gian, thiêng liêng thật, thế mà cũng có cảnh đìa đoạn, thì tình phụ tử thiên quốc, vì là mối tình ban nhưng không và vô điều kiện, sẽ tồn tại qua mọi hoàn cảnh, bất chấp bao lần con người bất trung: "Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, Vì đã nhận làm con, nên Cha sẽ mau cứu giúp khỏi cơn nguy khốn và khỏi tay kẻ dữ. Niềm tin không lay chuyển vào sự đáp cứu không sai hẹn của Cha đem lại niềm cậy trông bất khuất. Vì sự sống của con đến từ Cha, nên Cha sẽ bảo vệ sự sống của con như của chính mình vậy: "Nếu người công chính là con Thiên Chúa, Có thương mới dạy! Chúa Cha thương ta không phải chỉ khi ta ngoan, nhưng cả khi ta hư nữa. Có người Cha nào đành tâm bỏ đứa con lầm đường lạc lối mà không khuyên nhủ bảo ban đến cùng để người con ấy sớm giác ngộ mà cải tà quy chính. Phương thức cảnh tỉnh lúc ấy hẳn gây khó chịu, nhưng không thể phủ nhận rằng "thuốc đắng giã tật, lời thật mất lòng". Cha sửa dạy cho nên người bởi một động lực duy nhất là vì thương. "Vì Ðức Chúa khiển trách kẻ Người thương, như người Cha xử với con yêu quý" . (Cn 3:12).
Thiên Chúa là Cha của hậu duệ Vua Ðavít .Ðức Chúa là Cha mỗi con dân đã là chân lý được xác quyết. Nhưng đáng ghi thêm là sự kiện Ðức Chúa công nhiên nhận mình là Cha của vua Salomon. Câu chuyện khởi đầu từ việc vua Ðavít, sau khi ổn định bốn cõi sơn hà và ngự trong chốn lầu son gác tía, có ý định xây một đền thờ nguy nga, xứng đáng cho Ðức Chúa ngự. Nhà vua liền thỉnh vấn ngôn sứ Nathan. Ðêm hôm ấy, ngôn sứ được Chúa truyền cho biết Thánh Ý của Người: Không phải vua Ðavít sẽ xây, nhưng chính con của nhà vua đã được chọn để xây dựng nhà Thiên Chúa. Ðó là trọng trách của vua Salomon. Nhưng cần lưu ý ở đây là liên hệ của Ðức Chúa dành cho Salomon: "Ðối với nó, Ta sẽ là Cha; đối với Ta, nó sẽ là con. Khi nó phạm lỗi, Ta sẽ sửa phạt nó bằng roi của người phàm, bằng đòn của con người. Tình thương của Ta sẽ không rời khỏi nó . . . . Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta" (2 Sam 7:14-16). Tình phụ tử giữa Ðức Chúa và vua Salomon được xác nhận tỏ tường; mối tình này bộc lộ tấm lòng ưu ái đặc biệt Ðức Chúa dành cho hậu duệ vua Ðavít. Ðặt trong chương trình cứu độ, lời đón nhận trên còn là lời hứa của Ðức Chúa dành cho hậu duệ Ðavít vì từ dòng dõi Ðavít sẽ xuất hiện một vì vua lý tưởng, người sẽ được gọi là Con Thiên Chúa và có sứ mạng hoàn tất chương trình cứu rỗi muôn dân. Lời hứa ấy đã nên ứng nghiệm nơi chính Ðức Giêsu, Ngài thuộc dòng dõi Ðavít, nhưng cũng đích thực là Con Một của Chúa Cha. Như thế nghiệm đúng lời Thánh vịnh: "Người sẽ thưa với Ta: Ngài chính là Thân
Phụ, Nói cách khác, việc mạc khải Ðức Chúa là Cha của hậu duệ Ðavít là nhằm chuẩn bị muôn dân đón nhận vì Vua Kitô là Con Chúa Cha sẽ đến. Sự kiện này có tác dụng tiên báo sự xuất hiện của Con Thiên Chúa khi đến thời viên mãn, và chính Ngài sẽ đích thân ra tay giải thoát toàn dân khỏi quyền lực của ác thần là tội lỗi và sự chết. Lời truyền của sứ thần Gabriel cho Mẹ Maria đã mạc khải bản tính và sứ mạng đó nơi Chúa Giêsu: "Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng tận" (Lc 1:32-33).
Thiên Chúa là Cha từ ái. Nếu đọc thoáng qua Cựu Ước, người đọc dễ có cảm tưởng gặp thấy một Ðức Chúa không khoan nhượng với những lỗi lầm hay sa ngã của con người. Ðó là một Ðức Chúa thường giáng phạt hay trị tội. Thật ra, cảm tưởng ấy không hoàn toàn đúng. Phải đọc sâu dưới những giòng chữ mạnh bạo ấy để cảm được nỗi đau của Ðức Chúa khi chứng kiến con người phản bội và bất tuân. Ðây không phải là những người vô danh đang tự diệt, nhưng chính là những người con của Cha trên trời đang tự kết liễu đời mình trong sa đọa. Người con phung phá đâu có cảm được nỗi lòng đau như xát muối của Cha mình! Nhưng dù đau xót đến mức nào, lòng Cha vẫn luôn sẵn sàng tha thứ, như lời Thánh vịnh 103 xác nhận: "Chúa là Ðấng từ bi nhân hậu, Ðáng lưu ý là tình Cha đầy thương xót không chỉ dành riêng cho dân Israel, nhưng còn mở rộng bao trùm hết mọi người dương thế. Israel không dám "độc quyền" lòng thương xót của Ðức Chúa đâu! "Ðộc quyền" sao được vì Ðức Chúa là Cha chung của muôn người thuộc mọi sắc tộc, ngôn ngữ. Người ta có thể sẽ không biết Ðức Chúa là Cha mình, nhưng Người biết mình là Cha của ai. Tình thương của Cha, vì thế, sẽ trương rộng đến mọi người, không phân biệt một ai. Tác giả sách Khôn ngoan đề cao lòng tha thứ không biên giới của Cha trên trời: "Nhưng Chúa xót thương hết mọi người, Những lời chan chứa yêu thương dường ấy sẽ chuẩn bị cho mạc khải tối hậu về Thiên Chúa là Cha từ nhân được Ðức Giêsu bày tỏ, như khi Ngài dạy: "Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Ðấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính" (Mt 5:44-45). Thế mới biết Cha trên trời hằng nhẫn nại khoan dung với mọi người, hầu dành cho kẻ lầm đường lạc lối một cơ hội để làm lại cuộc đời! Một lần yêu là ngàn lần yêu. Con người phàm trần thôi cũng đã dám làm thế, huống hồ Cha trên trời. Trên cơ sở giao ước ký kết với Israel, Ðức Chúa sẽ dành cho con dân một hesed / steadfast love / ân tình thủy chung, lòng xót thương. Ân tình thủy chung này không phải là những cảm tình xuông, nhưng chính là một cam kết, một dấn thân cho đến cùng mà Ðức Chúa tự đặt ra cho mình khi nhận làm Cha của con dân: "Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, Vì sao một Thiên Chúa lại làm thế cho đám dân nông nổi? Cứ theo lý sự thế gian thì đó là tình yêu một chiều mà kết thúc là vô vọng. Nhưng Ðức Chúa không bao giờ tính toán theo kiểu trần gian. Người chỉ biết một điều duy nhất này: tình phụ tử là tình tuyệt đối và bất biến. Ðã làm Cha là làm Cha suốt đời dẫu cho đứa con có cư xử ngược xuôi thế nào chăng nữa. Cha chỉ mong sao con đừng lìa xa Cha: "Ta đã nói: Có cách nào để Ta đặt ngươi trong
hàng con cái? Thế đó, Ðức Chúa buộc mình với con dân bằng tình phụ tử thần thiêng để đừng có người con nào đan tâm lìa xa Cha bao giờ! Niềm vui của Chúa Cha luôn là được ở giữa đàn con xum vầy.
Kết luận. Chiêm ngắm chân dung Ðức Chúa là Cha qua những trang sách Cựu Ước giúp người Kitô hữu càng xác tín hơn vào tình thương của Cha trên trời. Thiên Chúa của tất cả chúng ta không phải là một Thiên Chúa xa lạ, lạnh lùng với kiếp người. Cũng không phải là một Thiên Chúa sáng tạo nên vũ trụ và con người rồi để mặc đấy, ra sao thì ra. Không, Thiên Chúa chúng ta tin thờ không phải thế, nhưng Ngài đích thực là Cha của toàn chúng sinh và của mỗi người. Chính Ngài đã sinh dựng nên từng con người và sẽ tiếp tục dưỡng nuôi, bảo vệ luôn mãi. Thật vậy, những mạc khải trong Cựu Ước về chân dung Thiên Chúa là Cha đã có tác dụng chuẩn bị cho mạc khải toàn vẹn về Chúa Cha như được Chúa Giêsu công bố (bài số tới sẽ đề cập đến hình ảnh Chúa Cha trong Tân Ước). Vấn nạn còn lại đặt cho mỗi người: nếu Thiên Chúa đã nhận là Cha, liệu ta có nhận mình là con và sống như người con thảo? Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |