GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BƯỚC VÀO NĂM 2000

(Kỳ 6)

Lm. Hồng Phúc (+)

GIÁO HỘI TRÊN CON ÐƯỜNG ÐANG ÐI QUA

Bài 13: Giáo Hội Âu Châu - Bóng Tối vàø Hy Vọng

 

Một chế độ tưởng chừng vững như bàn thạch đã sụp đổ sau 70 năm bá chủ cả Ðông Âu. Năm 1989, bức tường Bá Linh sụp đổ báo hiệu ngày tàn của Cộng sản. Ngày Lễ Giáng Sinh 25/12/1991 là ngày lịch sử. Lúc 19 giờ 23 phút, cờ đỏ hình búa liềm của Liên bang Xô viết bị hạ và cờ Liên hiệp Nga được kéo lên trên Ðiện Cẩm Linh. Tổng thống Gorbachev sau một bài diễn văn đã ký văn kiện từ chức và trao quyền lại cho Yeltsine. Cộng sản đã sụp đổ.

Tuy nhiên, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng: "Thật quá đơn sơ nếu chỉ cho rằng sự sựp đổ của Cộng sản là do sự can thiệp trực tiếp của Thiên Chúa quan phòng. Cộng sản, với tư cách chủ nghĩa, nói được là tự nó đã tan rã. Sự sụp đổ là kết quả của những sai lầm và quá độ của nó. Nó trở nên một liều thuốc nguy hại hơn cả chính căn bệnh... Cộng sản đã tự nó sụp đổ vì lý do sự yếu đuối nội tại của nó." Dầu vậy, với nhãn giới Ðức tin chúng ta vẫn nhìn thấy có bàn tay của Thiên Chúa và Ðức Mẹ ở đằng sau như chính Ðức Thánh Cha đã ám chỉ trong cuộc viếng thăm các nước ven bờ biển Baltique mùa thu 1993.

Việc Cộng sản Ðông Âu sụp đổ là một biến cố quan trọng cho cả thế giới nói chung và cho Âu Châu nói riêng. Tháng 12/1991, ngay sau ngày Cộng sản sụp đổ, một Thượng Hội đồng Giám mục đã được triệu tập ở Lamã, gồm tất cả các giám mục ở Tây và Ðông Âu. Hội nghị đã chào mừng hàng triệu người ở đàng sau "Bức Màn Sắt" tìm lại sự tự do, đồng thời cũng thảo ra một kế hoạch cho Giáo hội Châu Âu trong hoàn cảnh mới.

Sau bao ngày bị kềm kẹp bởi một chế độ vô thần, các Giáo hội Ðông ÂÂu đã thiết lập lại hàng giáo phẩm và được hưởng nhiều luật lệ mới bảo đảm sự tự do tín ngưỡng, tự do truyền đạo và được trả lại tài sản đã bị chiếm đoạt như nhà thờ, trường học và các cơ sở tôn giáo khác.

Dù rằng việc thoát khỏi Cộng sản có sự hỗ trợ của Thiên Chúa và Ðức Mẹ Fatima ở bên sau, lời hứa "Nước Nga sẽ trở lại" này còn tùy thuộc vào sự đáp ứng của chúng ta đối với các mệnh lệnh của Ðức Mẹ và sẽ còn về lâu về dài. Trong hiện tại, chúng ta vẫn thấy lấp loáng hình ảnh của một lực lượng đen tối nào đó. Thật vậy, dưới nhãn giới Ðức tin, chúng ta nhận thức rằng có một sức mạnh huyền bí nào đó đang và còn chi phối lịch sử thế giới. Thua keo này nó bày keo khác. Một kế hoạch sụp đổ này sinh một kế hoạch khác; tiền thân sụp đổ, hậu thân cố vươn lên, điều mà chúng ta đang thấy ngày nay ở Âu Châu sau ngày chế độ Cộng sản sụp đổ. Ðiều này có thể tìm thấy nơi một số hậu quả tai hại trong các nước Cộng sản vừa được tự do: suy đồi về mặt luân lý, sự phát sinh nhiều giáo phái, lạm dụng tự do sau một thời gian bị kiềm chế, hiềm nghi về mọi tổ chức...

Về sức mạnh của Giáo hội Âu Châu, chúng ta không thể không nhắc đến Giáo hội Balan với 36.805.000 giáo dân trong tổng số dân là 38.540.000, nghĩa là 95.50% dân số. Năm 1948, dưới thời áp bức của Cộng sản, 700 linh mục và giám mục bị giam cầm. Hình ảnh nổi bật nhất như biểu tượng cuộc chiến đấu với chế độ vô thần là Ðức Hồng y Stefan Wyszinski của Tổng Giáo phận Thủ đô Varsovie. Rồi Ðức Hồng y Giáo chủ Cracovie được chọn lên ngôi giáo hoàng, vị giáo hoàng tiên khởi gốc Balan, danh hiệu Gioan Phaolô II. Lời đầu tiên của Giáo chủ Wyszinki chúc mừng vị đồng hương mới được bầu lên ngôi giáo hoàng là "Ngài sẽ đưa Giáo Hội vào năm 2000", nhưng, tuy không nói ra, vẫn ngụ ý rằng ngài sẽ cứu quê hương khỏi ách Cộng sản. Sự việc đã xảy ra từ Balan và lan dần đến các nước Ðông Âu khác, người ta đều cho rằng đó là do ảnh hưởng của Ðức Giáo hoàng.

Giáo hội ÂÂu châu chú trọng đến ba mục tiêu: Ðối thoại, hoà giải và tình huynh đệ. Ngày 21/11/1995, Ðức Hồng y Joseph Glemp, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Balan, và Ðức Cha Karl Lehman, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ðức, đã đồng ký một văn bản trong đó có đoạn: "Chúng tôi xin tha thứ và chúng tôi xin nhận lỗi... Âu Châu không được tự khép mình vào một cuộc Âu Châu hoá đã lỗi thời, mà phải cởi mở nhiều hơn và dấn thân vì công lý, hoà bình và tự do." Biểu tượng là Ðại hội Thánh Thể Quốc tế kỳ thứ 46 tại Wroclaw từ ngày 25/5-1/6/1997 do Ðức Thánh Cha chủ sự với chủ đề "Thánh Thể và Tự do".

Tuy nhiên, sau một thời gian vàng son với Tổng thống Lech Walesa, người sáng lập Phong trào Ðoàn Kết, Giáo hội Balan lại phải đương đầu với nhóm Kwasnieski thắng cử, muốn trở lại với cái họ gọi là "Tân Cộng sản" trong vấn đề giáo dục, tài sản, luân lý và phá thai. Bản hiệp ước với Toà Thánh bị ngưng lại một thời gian trước khi được ký kết thật sự và mới được thi hành gần đây.

Trong một Châu Âu vừa thoát nạn Côâïng sản, Giáo hội lại gặp phải một đại nạn khác. Ấy là việc các quốc gia nổi lên đánh nhau, như ở Nam Tư (Yougoslavie). Nam Tư trước đây theo Cộng sản do nhà độc tài Josip Tito cầm đầu nhưng không theo Liên Xô, nay phân ra nhiều mảnh. Theo lịch sử có hai sắc dân và hai tôn giáo lớn là Serbie theo Chính Thống giáo và Croatia theo Công giáo. Sau năm 1991, xứ Slovenia và xứ Croatia, nơi đây người Công giáo là đa số, đã trở thành hai quốc gia, được quốc tế và Vatican nhìn nhận. Và hiện nay, tại Kosovo, người Serbes theo Chính Thống lại xua đuổi và giết hại người gốc Albanie theo Hồi giáo với chính sách gần như diệt chủng.

Ngày 4/10/1998, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viếng thăm xứ Croatia. Nửa triệu người đã đến tham dự Thánh Lễ tôn phong Chân phước cho đức Hồng y Alojzize Stepinac tử đạo dưới chế độ Cộng sản. Croatia với 4.7 triệu dân mà 80% là tín đồ Công giáo.

Một kết quả bất ngờ nữa từ khi bức tường Bá linh sụp đổ và đế quốc Liên Xô bị phân mảnh là sự "sống lại" của các Giáo hội gọi là Uniate ("Uniate Churches" hay "Giáo hội Hiệp thông"). Giáo hội Hiệp thông trước đây bị Stalin bắt phải sát nhập vào với Giáo hội Chính thống nhưng họ vẫn giữ được sắc thái, hiệp thông với Giáo hoàng, và vẫn bảo tồn lễ nghi cũng như giáo luật riêng của mình. Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, họ không có linh mục, mọi tài sản bị tước đoạt. Ðó là những Giáo hội Công giáo Hy lạp Hiệp thông mà sau ngày thoát khỏi chế độ Cộng sản, họ như bước ra khỏi hang toại đạo và sống đức tin một cách anh hùng, nhất là ở Ukraine và Roumanie. Họ tranh đấu để đòi lại của cải bị cướp đoạt, các nhà thờ bị sung công nên lại xảy ra những đụng độ với anh em Chính thống giáo. Bầu khí giao hảo giữa Công giáo và Chính thống giáo lại bị băng lạnh, ảnh hưởng đến Giáo hội Công giáo tại Mạc-tư-khoa (Nga) đang được lập lại. Trong phần đất Nga còn lại có hai giáo hội là Giáo hội Ukraine với trên 5 triệu tín hữu Công giáo và Giáo hội Chính thống Nga.

Giáo hội Hiệp thông ở Ukraine từng sống 40 năm trong tăm tối, nay xuất hiện lại. Nhân vật lỗi lạc hơn cả trước đây là Ðức Hồng y Josyf Slipyl, bị cầm tù 18 năm và được cứu thoát do sự can thiệp của Ðức Gioan XXIII với chính phủ Cộng sản. Nhưng trước khi rời Ukraine, Ðức Hồng y đã phong chức cho Ðức Cha Wasyl ở lại thay thế để hàng giáo phẩm tông truyền vẫn được duy trì tồn tại. Thánh tượng Ðức Mẹ Kazan được trao hoàn cho Giáo hội Ukraine, được coi như một báu vật quốc gia, sau một thời gian lưu giữ tại Fatima. (Xem "Phép lạ tại Công trường Ðỏ" trong cuốn Mẹ Maria của tác giả, trang 223).

Và Giáo hội Công Giáo Nga với 306.000 tín hữu, như mất tăm giữa 129.967.000 dân phần đôâng theo Chính thống giáo. Giáo hội Công giáo vừa được nhìn nhận năm 1991, nhưng rất bị chèn ép, vừa xây cất một thánh đường bên cạnh Ðiện Cẩm Linh để làm một trung tâm truyền giáo. Cuốn Giáo lý Giáo Hội Công Giáo vừa được phiên dịch ra tiếng Nga với sự cộng tác của một nhà thần học Chính thống trong tinh thần đại kết.

Trong khi các Giáo hội Ðông Âu đang hồi sinh và sống mạnh thì ở các nước Tây Âu đang gặp khủng hoảng và phải đương đầu với nhiều căng thẳng đối nội và đối ngoại. Các nhà phân tích thời cuộc tôn giáo cho rằng đời sống đạo đức xuống thấp vì việc trần tục hoá lên cao kéo theo sự dửng dưng cho rằng tôn giáo không cần thiết cho đời sống. Một nước như nước Pháp trướùc đây được coi là con đầu lòng của Giáo Hội thì nay, tuy có 46 triệu trong đó 57% là tín đồ Công giáo đã rửa tội, nhưng chỉ có 15% hay ít hơn thực sự giữ đạo, bên cạnh một số lớn giữa đạo xuân thu nhị kỳ. Tuy vậy công bình mà nói, người Pháp ai giữ đạo thì giữ một cách ý thức và đào sâu đức tin bằng sự học hỏi và giới phụ nữ rất dấn thân trong công việc dạy giáo lý và công việc nhà thờ (Sofres - La Croix).

Giáo hội Âu Châu có nhiều khung trời trong sáng nhưng cũng có những vùng đen tối. Một Giáo hội Công giáo hiệp nhất nhưng đa diện, một Giáo hội cổ điển nhưng muốn canh tân và vươn lên, không quá lạc quan cũng như thất vọng. "Ðạo Kitô giáo có một dĩ vãng không phải là vũng nước ao tù mà là một giòng sông nước chảy mạnh" (Jean Delumeau).

 

Bài 14: Giáo Hội Vùng Cận Ðông và Úc Châu

A. Giáo Hội Cận Ðông

Tại vùng Cận Ðông, các cộng đồng Công Giáo không quá 10% dân số và chiếm chỉ 1% tổng số dân số thế giới. Nhưng sự hiện diện của các cộng đồng này có một giá trị lịch sử to lớn. Vì nơi đây Ðức Kitô đã giáng sinh và là nơi xuất phát lịch sử Giáo Hội hoàn vũ. Vùng Cận Ðông cũng là nơi phát sinh ba đạo giáo tin ở một Thiên Chúa là Công Giáo, Do thái giáo và Hồi giáo. Cận Ðông là gạch nối giữa Tây phương và Ðông phương cùng là nơi phát động nhiều cuộc chiến và tranh chấp công khai hay âm ỉ giữa các dân tộc, cả cho đến ngày nay, như giữa dân Do thái và dân Ả rập, giữa Do thái giáo và Hồi giáo...

Phải đợi đến đầu thập niên 1960 và Công đồng Vatican II, người Công giáo mới có một ý thức đổi mới về nguồn gốc của mình từ Do thái và Ðông phương mà ra, cũng như về sự khó khăn phải chung sống giữa người Do thái đã trở về lập quốc và các cộng đoàn đầu tiên của Giáo hội đã ăn rễ lâu đời ở đây. Tại Bêlem, rất đông người Công giáo Ả rập đã bỏ đi lập nghiệp ở Mỹ và nơi khác vì lý do ấy.

Tuy nhiên, mặc dầu gặp nhiều khó khăn các cộng đoàn tín hữu vẫn sống đức tin mạnh mẽ và nêu gương anh dũng.

Người tín hữu Ðông phương chia thành những tiểu Giáo hội, nhưng rất hiệp nhất khi phải tranh đấu cho đức tin được sống còn. Họ thuộc về rất nhiều Giáo hội cổ xưa, còn lưu giữ lịch sử, phụng vụ, nghi lễ thuộc nhiều sắc tộc.

Ðể dễ hiểu, cần có một cái nhìn trở lại lịch sử. Giáo hội Công Giáo khởi nguyên từ Giêrusalem rồi lan dần trên thế giới. Từ những thế kỷ đầu, Giáo hội có "rất nhiều sắc thái và tự do trong nghi lễ phụng vụ". Các giám mục đặt ra kinh nguyện và nghi lễ. Những vị giám mục càng danh tiếng thì các nghi lễ do các ngài đưa ra càng được chấp nhận. Như vậy có những Giáo hội được gọi là "Giáo hội mẹ" và các "Giáo hội con". Có ba trung tâm hay là ba "Giáo hội mẹ" đã để lại ba truyền thống phụng vụ và nghi lễ. Ðó là Roma mà nghi lễ gọi là Phụng vụ Latinh, Antiôkia mà nghi lễ gọi là Phụng vụ Hylạp và Alexandria mà nghi lễ gọi là Phụng vụ Ai cập.

Theo dòng lịch sử, Giáo Hội Công Giáo duy nhất lại gặp phải những cuộc phân ly mà cuộc phân ly lớn lao hơn cả là cuộc chia ly giữa Lamã và Constantinople vào năm 1054. Cuộc phân ly ấy đưa đến sự hình thành Giáo hội tự nhận là Chính thống (Orthodoxe) bên cạnh Giáo hội Công Giáo hay Lamã. Sự chia rẽ ấy kéo theo sự chia rẽ về nghi lễ phụng vụ. Một bên là Nghi lễ Byzantine, một bên là Nghi lễ Latinh.

Các tín hữu Công Giáo ở Ðông phương vẫn hiệp nhất với Toà Thánh Lamã, nhưng vẫn giữ những tập tục Ðông phương và các nghi lễ của họ cũng gọi là Nghi lễ Ðông phương.

Về phương diện hành chánh, trong Giáo Hội Công Giáo có 13 Toà Thượng phụ với những tước hiệu danh dự dành cho các Toà Giám mục lớn ở Ðông phương, như Giêrusalem, Antiôkia, và Alexandria. Người ta chú ý đến Ðức Thượng phụ Maximos V Hakim thuộc Toà Thượng phụ Antiôkia, người rất danh tiếng trong Công đồng Vatican II trước đây.

Tại Vatican, Toà Thánh có một cơ quan gọi là Thánh bộ Ðặc trách về các Giáo hội Ðông phương, hiện nay do Ðức Hồng y Achille Silvestrini cầm đầu, có phận sự giải quyết những vấn đề liên hệ về nhân sự, nghi lễ... Các Thượng phụ là những thành viên của Thánh bộ này với các cố vấn được chọn thuộc các nghi lễ Ðông phương. Một bộ giáo luật gọi là Bộ Giáo luật Ðông phương dành cho các Giáo hội Ðông phương được ban hành năm 1991.

Như nói trên, Giáo hội Công Giáo Ðông phương có 13 Toà Thượng phụ, 8 toà theo Lễ điển Ðông phương và 5 toà theo Lễ điển Latinh.

Mỗi Giáo hội có lễ điển riêng, nghĩa là một cách cử hành phụng vụ riêng (phẩm phục, nghi lễ, bẻ bánh, phụng ca,...), một tổ chức pháp lý riêng chẳng hạn như các giám mục khác được bầu vị Thượng phụ; các linh mục được cưới vợ trước khi chịu chức và không được tái hôn, nhưng các giám mục phải được chọn trong hàng ngũ các linh mục tự nguyện ở độc thân hay các tu sĩ khấn đức khiết tịnh. Các Giáo hội Ðông phương chịu ảnh hưởng rất nhiều lối tổ chức của các dòng tu, đặt ưu tiên lối sống thiêng liêng trên việc dấn thân trần thế.

Tuy khác biệt trong nhiều lễ điển, các Giáo hội Công Giáo Ðông phương hiệp nhất trong một đức tin mạnh mẽ. Chúng ta lấy Giáo hội Maronite làm ví dụ. Người Maronite được Thánh Maron ẩn sĩ truyền đạo. Họ trở nên thừa sai giảng đạo cho các xứ Liban, Syria, Hy lạp, Ai cập... và rất trung thành với Toà Thánh La mã. Khi bị bắt bớ, họ trốn vào núi. Năm 1584, một trung tâm Maronite được thiết lập tại La mã đào tạo những thừa sai. Ðã có một lúc vào thế kỷ VI, 300 thầy dòng Maronite bị nhóm lạc giáo Nhất tính (chủ trương Chúc Kitô chỉ có một bản tính) giết hại, việc họ trung thành với Lamã cũng là nguyên do.

Về nghi lễ, Maronite dùng tiếng Syria hay Ả rập, chú trọng đến các bài thánh ca nhưng cũng theo sát Thánh Kinh, Chúa Giêsu là trung tâm điểm. Sách lễ mới nhất gồm kinh nguyện Thánh thể gọi là kinh Thánh Giacôbê và 5 kinh Thánh thể khác.

Số người Công Giáo theo Lễ điển Maronite có khoảng 2.591.850 (1995) phần lớn ở Liban, nhưng cũng có những côâïng đồng hải ngoại ở Mỹ, Canada, Mễ Tây Cơ và Sydney (Úc).

Ðặc điểm của các Giáo hội Côâng Giáo Cận Ðông là có một dĩ vãng lâu đời, đức tin bám rễ sâu, trung thành với truyền thống, hiệp thông với Toà Thánh La mã. Nhưng các Giáo hội này cũng đang gặp phải sự bành trướng và đe doạ của các nhóm Hồi giáo cơ bản cực đoan (fundamentalist) Sunnite hay Shiite như ở Liban và Iran.

Sau đây là đồ biểu các Giáo hội Công Giáo Ðông Phương và các lễ điển:


B. Giáo Hội Ðại Dương Châu

Châu Ðại Dương là một lục địa nơi sinh sống của thổ dân Murri-Marugu, trước khi người da trắng đến chiếm. Một lục địa mênh mông mà người ta nói con Kangouru còn đông hơn người. Tháng 1/1688, hàng trăm tù nhân từ Anh quốc được đổ bộ lên Sydney (Úc). Từ năm 1705, những người Ái Nhĩ Lan bị coi là phản loạn chống Hoàng gia Anh cũng bị đày sang đây, trong số có ba linh mục. Năm 1803, Thánh lễ đầu tiên cho công chúng được cha Dixon cử hành và chỉ kéo dài được 12 tháng rồi bị người Tin lành ngăn cấm. Bốn trăm người Ái Nhĩ Lan tuyệt thực phản đối, doạ hủy hoại thân xác nữa. Từ năm 1808 đến 1816, ở đây không có linh mục nào. Toà Thánh gửi cha O’Flynn đến như Ðại diện Tông toà, ngài bị chính quyền Úc bắt cầm tù rồi đuổi về Anh quốc. Sự kiện này có tiếng vang tại Nghị viện Anh. Người Công Giáo được công nhận vào năm 1829, nhưng vẫn bị coi như công dân hạng hai. Chính một linh mục, cha Willathorne đã vận động với chính phủ Anh đình chỉ gửi tù nhân đến Úc, coi Úc như một nhà tù hải ngoại. Năm 1834, Toà Thánh đặt Ðức Cha Polding làm Ðại diện Tông toà trông coi 40.000 giáo dân trong tổng số dân là 200.000. Năm 1850, có một cuộc đổ xô đi tìm vàng, làn sóng người di dân ồ ạt đến, nâng tổng số người Công Giáùo Úc từ 50.000 lên 713.000. Giáo hội Úc trở nên một Giáo hội năng động trong việc bác ái từ thiện. Năm 1975, có khoảng 7000 người Công Giáo Việt Nam di cư sang Châu Ðại Dương mang lại một động lực và sắc thái mới cho Giáo hội ở đây. Vị nữ thánh đầu tiên của Ðại Dương Châu là Mary MacKillop.

Một vấn đề gây cấn là việc nước Úc Ðại Lợi là quốc gia đầu tiên đã cho phép giúp tự tử mà người ta đặt cho một danh từ rất kêu là "an lạc tử" (euthanasia), nghĩa là dùng những phương pháp để giúp người bệnh chết nhanh chóng và êm dịu, hay nói trắng ra là tự tử. Báo L’Osservatore Romano, cơ quan ngôn luận của Toà Thánh ở Lamã, trong bài bình luận ngày 3/7/1996 cho là "một điều quái dị trong lịch sử nhân loại". Và Ðức Thánh Cha ngày 11/1/1997 khi tiếp vị tân đại sứ Edward John Stevens của Úc đến trình ủy nhiệm thư, có nói: "Giáo hội Công Giáo ở Úc phải bênh vực chân lý căn bản quyền sự sống, và lên tiếng mạnh mẽ chống lại việc hợp pháp hoá an lạc tử".

Trong địa bàn Châu Ðại Dương còn có Tân Tây Lan, Nam Thái Bình Dương (New Caledonia) và nhiều đảo quốc nhỏ khác. Cuối thế kỷ XVIII, anh em Tin Lành cạnh tranh ráo riết với các thừa sai Công Giáo tại miền này. Công Giáo chính thức được rao giảng ở Tân Tây Lan năm 1838 do các cha Dòng Maristes. Giáo phận thủ đô Wellington của Tân Tây Lan được thiết lập năm 1846. Thánh Pierre Chanel, Dòng Mariste, là vị tử đạo đầu tiên của Giáo hội Châu Ðại Dương. Trên bàn học của ngài có ghi câu châm ngôn: "Làm linh mục - Vượt biển truyền giáo, làm một lễ, rồi chết". Sự kiện này xảy ra đúng như vậy. Ngài bị giết dưới chân bàn thờ. Giáo hội Tân Tây Lan hiện có 494.000 giáo dân trong tổng số hơn 3 triệu dân.


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com