MỘT VÀI SUY NGHĨ Lm. Ngô Ðình Thoả, C.Ss.R. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã mời gọi toàn thể Hội Thánh chuẩn bị Ðại Năm Thánh 2000 với một lòng khiêm nhu, sám hối, hân hoan tay trong tay, cùng nhau bước qua ngưỡng cửa hy vọng! Năm 1997 tìm hiểu về Chúa Kitô. Năm 1998 học hỏi về Chúa Thánh Thần. Năm nay 1999 là năm chuẩn bị cuối cùng, chúng ta hướng về tình thương của Chúa Cha. Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Êphêsô có viết như sau: "Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Ðức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ!" (Eph 2:4) Thiên Chúa là Tình Yêu. Nói đến Thiên Chúa, chúng ta nghĩ ngay đến tình yêu cao cả Ngài đã ban, đó là cho chúng ta làm con cái của Ngài. Nếu chúng ta chịu khó mở sách Khởi Nguyên trong Cựu Ước, đoạn nói về khởi nguyên của vũ trụ và loài người, tạo thành và sa ngã, chúng ta sẽ khám phá ra tình thương của Thiên Chúa đối với con người cao vời biết là chừng nào. Ðây đúng là sự quan tâm và quý mến của Thiên Chúa Cha. Tiên vàn, vì thương nên Thiên Chúa đã chia sẻ quyền chủ tể của Ngài cho phàm nhân. Ngài cho hết mọi thú vật diễn hành trước mặt Ađam và để ông đặt tên cho mỗi loài. Theo quan niệm người Do Thái xưa kia, chỉ có ai cầm quyền cai trị mới có quyền đặt tên. Ađam không có quyền gì đối với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, ngày đêm nên ông không có quyền đặt tên cho chúng. Nhưng Thiên Chúa đã ban cho con người quyền chủ tể trên muông thú, nhất là Thiên Chúa đã quan tâm đến đời sống lứa đôi của con người. Vì trong hết mọi loài muông thú đi qua trước mặt Ađam, không một loài nào có nhân tính như ông, nên Ađam không tìm được một người bạn xứng đôi và vẫn cảm thấy côâ đơn. Thiên Chúa liền đã tạo dựng cho ông một người nữ theo khuôn mẫu ông, do chính xương cốt ông, để nên một với ông trong hôn nhân vững bền. Qua câu chuyện tạo dựng này, tác giả Kinh Thánh nhắm đề cao tình thương, sự ưu ái của Thiên Chúa dành cho con người và sự ưu ái này còn được Ngài thi thố trong suốt dòng lịch sử của nhân loại. Kinh Thánh còn nhiều lần cho chúng ta thấy rõ điều đó, nhất là nơi chính Chúa Giêsu, Con Một của Ngài. Nhiều lúc đọc những đoạn Tin Mừng, chúng ta có cảm tưởng như Chúa Giêsu chỉ lưu tâm đến người Do Thái mà thôi, chẳng hạn trong đoạn Tin Mừng theo Thánh Marcô 7:24-30, chúng ta thấy Ngài chỉ đến Tyrô và Siđôn, là miền giáp giới với khu vực dân ngoại. Rồi khi người phụ nữ thuộc dân ngoại lẽo đẽo theo sau nài nẵng van xin Chúa Giêsu trừ quỷ ám con gái bà, Ngài cứ như giả điếc làm ngơ. Nhất là cuối cùng, Ngài lại nói một lời xem ra thật khó nghe: "Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó". Thế nhưng câu nói cứng cỏi ấy lại khai mở một niềm hy vọng. Vì chữ "chó" vừa chỉ đến dân ngoại theo lối gọi của người Do Thái, vừa đưa người ta về sự thân mật, gần gũi giữa chó nuôi và trẻ con trong nhà. Hai bên hầu như không có sự cách biệt. Trẻ em vẫn chơi với chó, bẻ bánh ném cho chó ăn. Và câu nói của Chúa Giêsu nhằm thử lòng người phụ nữ. Và khi thấy lòng tin cũng như lòng khiêm cung của bà, Chúa Giêsu đã lập tức ban phép lạ. Ngài mở rộng lòng ưu ái ngay cho người ngoại giáo, hầu minh chứng lòng thương xót của Cha cho hết mọi người, đồng thời mở đường cho việc Hội Thánh Ngài sẽ tiếp nhận muôn dân vào hưởng gia nghiệp Nước Trời. Rồi chúng ta hãy nhẫn nại tiếp tục mở Tin Mừng theo Thánh Luca 5:12-17 để đọc và cảm thông với những nỗi khổ nhục của một người cùi và được Chúa Giêsu chữa lành. Dưới cái nhìn lề luật, một người phong cùi là một người không ai được chạm đến. Nhưng vì lòng thương xót, Chúa Giêsu thanh tẩy khi chạm đến anh. Người truyền cho kẻ phong cùi được chữa lành, đi trình diện với tư tế làm bằng chứng người đã lành bệnh và cũng để cho họ gặp thấy một chứng tá đặc biệt về Ðấng Cứu Thế đã đến. Dĩ nhiên, tất cả điều này làm cớ cho thiên hạ bàn tán, và nhiều người nhất là những kẻ bệnh tật đau yếu chạy đến với Chúa Giêsu. Cử chỉ Chúa Giêsu chạm đến người phong cùi thật đầy ý nghĩa. Qua cử chỉ này, Ngài lôi kéo những kẻ bất hạnh vào sự hiệp thông với Ngài. Ðó là một hành động thông đạt. Chúa Giêsu lôi kéo về Người, gánh lấy cho Người sự lầm than của nhân loại, và Người ban phát sức mạnh của Sự Sống Người. Chúa lấy sự đau khổ của chúng ta làm của Người, đến nỗi tự gánh lấy trách nhiệm tội lỗi của chúng ta trước mặt Cha Người, đồng thời ban phát cho chúng ta sự hiệp thông vào sự sống của Cha. Ðây mới chỉ là một trong muôn ngàn câu chuyện Phúc Âm chứng tỏ rằng cho dù loài người có hẹp hòi, tình yêu bao la của Thiên Chúa vẫn mạnh mẽ và làm nổ tung mọi giới hạn loài người đặt ra. Tất cả lịch sử nhân loại là bằng chứng hữu hình về sự quảng đại ban phát và tận tình quan tâm của Thiên Chúa đối với con người. Vì lòng thương, Thiên Chúa Cha đã ban cho chúng ta Ðức Giêsu để mặc khải về Ngài hầu chúng ta biết Ngài. Hẳn chúng ta còn nhớ Philiphê, một trong mười hai Tông đồ, thưa với Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Cha, như thế là chúng con mãn nguyện". Ðức Giêsu trả lời: "Thầy ở với các con bấy lâu, thế mà Philip, con đã không biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là đã thấy Cha" (Jn 14:8-9). Thiên Chúa Cha được mặc khải nơi Ðức Giêsu, Con của Người. Tất cả đời sống của Ðức Kitô, lời nói và việc làm của Người là nơi Chúa Cha được tỏ bày cách hoàn hảo, vì Ðức Giêsu luôn chặt chẽ kết hợp với Chúa Cha nhờ sự hiệp thông hết sức sâu xa. Những lời trên đây được nói lên trong Diễn từ cáo biệt, vào cuối Tiệc Vượt Qua, ngay trước biến cố của những ngày trong Tuần Thánh, để xác nhận dứt khoát một lần thay cho tất cả: "Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Ðức Kitô" (Eph 2:4-5). Chúng ta đọc thấy trong Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công Ðồng Vatican II: "Ðức Kitô, Ađam mới, trong khi mặc khải về mầu nhiệm Chúa Cha và tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính con người, và tỏ cho họ biết Thiên Chúa rất cao cả của họ" (số 22). Sống trong tình thương bao la của Cha, chúng ta cũng phải đề phòng ma quỷ là đối thủ của Thiên Chúa. Chúng muốn lôi cuốn con người về phe chúng. Vì thế mặc dầu chúng đã thua trận do sự chết và phục sinh của Ðức Giêsu Kitô, chúng vẫn tác hại con người khắp nơi, qua những cuộc chiến, trong những vũng lầy của cuộc sống trụy lạc và hưởng thụ, qua những mối hiềm thù, ganh ghét lẫn nhau. Do đó, chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa cho mỗi người chúng ta biết nhận ra ảnh hưởng của ma quỷ trong các môi trường sống của mình, để chúng ta nhờ ơn Chúa giúp có thể giúp nhau thoát khỏi nanh vuốt thống trị của chúng, chứng tỏ rằng chúng ta luôn là những con cái tự do của Thiên Chúa. Chắc hẳn chúng ta không quên lời Thánh Phêrô khuyến cáo: "Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự" (1 Pr 5:8-9). Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |