THIÊN CHÚA LÀ CHA (II) Lm. Giuse Trịnh Ðức Hòa, C.Ss.R. Trong số trước, bạn đọc đã có dịp tìm hiểu chân dung Thiên Chúa là Cha qua những chứng từ Cựu Ước. Kỳ này, mời bạn tiếp tục đề tài trên qua những trang Tân Ước. Tuy dung mạo Thiên Chúa là Cha đã bàng bạc xuất hiện đó đây qua những biến cố lịch sử và hoàn cảnh khác nhau trong thời Cựu Ước, nhưng phải đợi đến Chúa Kitô, ta mới có một mạc khải đầy đủ và sống động về Thiên Chúa Cha. Trước kia chỉ là những cảm nhận góp nhặt về tình phụ tử của Ðức Chúa Giavê dành cho con dân, nhưng nay là một loạt chứng từ phong phú về tấm lòng dào dạt của Thiên Chúa Cha dành cho con cái của Người. Trước kia chỉ là những sứ điệp được công bố qua trung gian những ngôn sứ vốn là sứ giả của Ðức Chúa, nhưng nay là những mạc khải trực tiếp của Chúa Con, Ðấng luôn đích thân sống tình phụ tử với Chúa Cha và nay thông tri cho con người. Vì thế, không thể bỏ qua những giáo huấn và cuộc đời của Chúa Giêsu nếu thực sự muốn tìm kiếm một dung mạo hoàn chỉnh về Thiên Chúa Cha là thế nào và có liên hệ gì với vận mệnh mỗi chúng ta.
Thiên Chúa Là Cha Ðức Giêsu Khi doãn lại những trang Tin Mừng, nếu tỉnh táo đôi chút, người đọc sẽ không khỏi ngạc nhiên khi hội ra trong từng cử chỉ, ngôn từ, hành động, và trọn đời sống của Chúa Giêsu là cả một mối tình thâm giao độc đáo với một Thiên Chúa mà Ngài nhận là Cha mình. So sánh với những ngôn sứ hay những người công chính trong Cựu Ước, ta không thể tìm thấy ai lại cưu mang một tình nghĩa cha-con thân mật đến sửng sốt như Chúa Giêsu. Cả bốn thánh sử đều cảm nhận thấm thía chân tình hồn nhiên này, nên đã cẩn thận ghi lại tất cả những biến cố lớn nhỏ trong cuộc đời của Chúa Giêsu để làm sáng tỏ mối liên hệ thân thiết và hằng có giữa Chúa Con và Chúa Cha. Ngay trong lời truyền tin, sứ thần Gabriel đã tỏ cho Mẹ Maria biết trẻ sắp sinh ra là ai: "Người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa" (Lc 1:35). Ðây không phải là một trẻ tầm thường, vì bản thể của Ngài không chỉ là phàm trần nhưng là thần thánh, vốn là thuộc tính của duy mình Thiên Chúa là Ðấng Thánh. Ðây cũng không phải con theo huyết nhục trần gian, nhưng là Con của chính Thiên Chúa chủ tể muôn loài. Nghĩa là cội nguồn của Trẻ Giêsu bằng xương bằng thịt kia không thể giống như trẻ Gioan Tẩy giả hay như bất cứ trẻ nào khác, bởi nguồn gốc của Ngài là đời đời vì Ngài là Ngôi Lời muôn thuở: "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa" (Gio 1:1). Chính căn nguyên siêu việt này mới giúp giải thích cho sự hiện hữu một cảm thức tiên thiên về sự hiện diện sinh động của Chúa Cha trong tâm hồn và cuộc đời Chúa Giêsu. Nếu không, ai có thể hiểu hay cắt nghĩa được những câu nói kỳ bí tương tự như: "Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà Cha con sao?" (Lc 2:49), nơi môi miệng một trẻ nhỏ mới mười hai tuổi đầu nhưng đang ngồi vấn đáp giữa các kinh sư trong Ðền thờ! Cả Thánh Giuse và Mẹ Maria đều ngơ ngác, chẳng hiểu Trẻ Giêsu muốn nói gì! Có cha mẹ bằng thịt xương đây rồi, còn "Cha" nào khác nữa? Vẫn là bé con, mà tự nhận có "bổn phận" nào ở nhà Cha? Chịu, không giải thích được! Theo giòng thời gian, cảm thức phụ tử thần thiêng này ngày càng biểu lộ thêm rõ nét, đến nỗi nhất cử nhất động của Chúa Giêsu đều quy hướng về Cha trên trời. Như khi cầu nguyện, Chúa Giêsu không ngỏ lời với Thiên Chúa theo quy ước của người đương thời dành cho Ðức Chúa Giavê, nhưng nói với chính Cha mình: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người hèn mọn" (Mt 11:25). Khi khẳng định thẩm quyền về những mạc khải mới mẻ, Chúa Giêsu không nại vào tri thức trần gian, nhưng dựa trên tình phụ tử thần linh hằng có giữa Ngài và Chúa Cha: "Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết Người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết Chúa Cha trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mạc khải cho" (Mt 12:8). Thật khó có thể chối cãi sự kiện con người là loài thụ tạo, vô phương thấu biết cõi Thiên Chúa là Ðấng toàn năng thế nào! Không ai có thể biết Thiên Chúa nếu đấng ấy không phải là chính Thiên Chúa! Vì thế, xưa nay chẳng có ai dám tuyên bố mình "biết" Thiên Chúa như Thiên Chúa biết chính mình, ngoại trừ Chúa Giêsu Kitô! Ðây quả là một lời tuyên bố gây nhiều sóng gió, không chỉ cho người Do-thái đương thời với Chúa nhưng vẫn luôn là một vấn nạn gai góc cho con người của mọi thời về bản chất thần linh nơi Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hẳn đã biết đưa ra một tuyên ngôn vô tiền khoáng hậu như trên chắn chắn sẽ bị gán cho tội phạm thượng như sẽ thấy trong màn Chúa bị xử án. Khi ấy, chính lời xác nhận mình là Con Thiên Chúa đã là một bằng cớ nghiêm trọng để các thượng tế và Thượng Hội Ðồng quyết định án tử hình cho Chúa. Nhưng ở đây không phải là một kẻ ngạo mạn, coi trời bằng vung, hoặc tuyên bố giật gân như chính khách để thu hút thị hiếu quần chúng. Ðơn giản, đây chỉ là một người dám sống thật với chính mình, dám nói thật căn tính mình và dám đón nhận mọi hệ quả cho việc công bố sự thật đó, dù gặp phải chống đối, từ khước, kể cả khai trừ. Một Thiên Chúa thật mới dám nói và dám làm đến cùng như thế! Khi bị người Do-thái chất vấn về thẩm quyền của lời mạc khải, Chúa Giêsu đã không cậy vào lời chứng của con người, nhưng Ngài đã cậy vào chính Chúa Cha: "Chúa Cha, Ðấng đã sai tôi, chính Người đã làm chứng cho tôi" (Gio 5:37). Các thánh sử đã ghi lại tối thiểu ba biến cố quan trọng biểu thị lời chứng tỏ tường của Chúa Cha về căn tính và sứ mạng của Con Thiên Chúa. Lần thứ nhất, lúc Chúa Giêsu chịu Phép Rửa ở sông Gio-đan, có tiếng từ trời phán: "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con" (Mc 1:11; Mt 3:17; Lc 3:22). Lần thứ hai, khi Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor, lại có tiếng phán ra từ trời: "Ðây là Con Ta yêu dấu, hãy nghe lời Người" (Mc 9:7; Mt 17:5; Lc 9: 35). Và lần thứ ba, không phải bằng lời nói nhưng bằng hành động rỡ ràng: đó là chính cuộc Phục sinh vinh quang Chúa Con từ cõi chết. Ngay trong những giờ phút đau thương của cuộc khổ nạn, tâm tình của người con hướng về Cha càng thêm da diết. Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Con cất lời xin Cha: "Cha ơi, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha" (Mt 26:39). Trong giây phút hấp hối trên thánh giá, Chúa đã kêu lên: "Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mc 15:34). Nhưng dù mang lấy nỗi đau cùng cực ấy, Chúa Giêsu cũng dành trọn tâm tình phó thác vào Cha mình: "Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" (Lc 23:46). Phải chăng tiếng kêu thống thiết và lời nguyện phó thác ấy rơi vào thinh không quên lãng? Thưa không, những lời trần tình bi tráng của người Con tử nạn đã được Chúa Cha lắng nghe và đáp trả cách hùng hồn bằng cách cho Chúa con sống lại vinh thắng (Cv 2:24).
Chúa Giêsu Mạc Khải Chúa Cha "Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết" (Gio 1:18). Lời tuyên chứng trên của Thánh sử Gioan, một mặt minh xác một sự thật hiển nhiên về sự hiểu biết bất cập của con người về Thiên Chúa, mặt khác lại đoan quyết một sự kiện vô cùng mới mẻ là Con Một Thiên Chúa đến trần gian để tỏ bày chân dung Thiên Chúa Cha cho toàn nhân loại. Sau một thời gian dài chuẩn bị dân Israel, nay Thiên Chúa Cha muốn công khai tỏ lộ Người là ai qua dung mạo của chính Con Một mình. Trọn vẹn mầu nhiệm tình phụ tử của Thiên Chúa Cha dành cho con cái loài người lần đầu tiên được mạc khải hữu hình nhờ Chúa Con. Vậy, Chúa Cha là ai? Từ những chứng từ tỏ tường của Chúa Giêsu, chúng ta biết thiên chức thần phụ nơi Thiên Chúa gắn liền với mầu nhiệm nền tảng về sự sống thông hiệp yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Cha là Ðấng sinh nên Chúa Con từ muôn thuở; Chúa Con là Ðấng có cùng bản tính Thiên Chúa với Chúa Cha. Chúa Cha, trong sự thông hiệp sung mãn với Chúa Con, là nguyên lý "phát xuất" (spiration) nên Chúa Thánh Thần, Ðấng là tình yêu hiệp nhất Chúa Cha và Chúa Con: "Khi Ðấng Bảo Trợ đến, Ðấng mà Ta sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật, phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Ta" (Gio 15:26). Tóm lại, Chúa Cha là cội nguồn và là nguyên lý sự sống của bản thể Thiên Chúa. Cần phải nói rõ, những chân lý siêu nhiên này không phải là kết quả thuần tuý của suy luận lý trí, nhưng tiên vàn là những mạc khải có tác dụng cứu độ đến từ Con Một là Chúa Giêsu như Ngài truyền cho các môn đệ trước khi trở về cùng Chúa Cha: "Hãy làm Phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28:19). Giáo Hội không hề tự quyền "sáng chế" ra tín điều, một chỉ biết đón nhận và sống chân lý mạc khải của Thiên Chúa trong niềm tin. Thực vậy, giáo huấn Thiên Chúa là Cha nói chung, trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi nói riêng, đã trở thành nền tảng cho đời sống người tín hữu ngay từ thời Giáo Hội sơ khai. Tuy vậy, đối với một số người, giáo huấn về Thiên Chúa Cha vẫn còn trừu tượng làm sao ấy! Họ tìm kiếm một cách thức nào đó để biết về Chúa Cha cách tỏ tường. Tiêu biểu cho khát vọng đó là phản ứng của tông đồ Philíp. Sau khi nghe Thầy mình tuyên bố: "Ta là Ðường, là Sự Thật, và là Sự Sống, không ai đến với Cha mà không nhờ Ta" (Gio 14:6), Philíp vội vàng xin ngay: "Xin Thầy tỏ cho chúng tôi thấy Cha; thế là đủ cho chúng tôi!" (Gio 14:8). Thật vậy, ước nguyện được thấy Cha quả là chính đáng vì chỉ có Cha mới lấp đủ vực khát mong trong tâm hồn con người. Philíp tuy đã biết đúng nhưng lại hỏi thừa! Hỏi thừa vì không biết Chúa Cha và Chúa Con là một! (Gio 10:30). Trước sự chậm tin này, Chúa Giêsu đã phải nói rõ thêm: "Ai thấy Ta là đã thấy Cha. Làm sao anh nói: Xin tỏ cho chúng tôi thấy Cha! Anh không tin Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta sao?" (Gio 14:9-10). Không còn nghi ngờ gì nữa, Chúa Con chính là đồng ảnh hữu hình của một Chúa Cha vô hình. Tất cả những gì của Cha là của Con: "Cha đã yêu mến Con và đã ban mọi sự trong tay Ngài" (Gio 3:35). Chúa Con không tự mình nói ý riêng, "nhưng là chính Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, truyền lệnh cho Ta phải nói gì, tuyên bố gì" (Gio 12:49) và "Mọi điều Ta nghe được nơi Cha Ta, Ta đã tỏ cho anh em biết" (Gio 15:15). Chúa Con cũng không làm tùy tiện, vì "Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy" (Gio 5:19). Chúa Con tác sinh vì Chúa Cha là nguồn sống: "Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy" (Gio 5:26). Chúa Con sống nhờ Cha: "Chúa Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, và Ta sống nhờ Chúa Cha" (Gio 6:52). Vì đã nhận được sự sống từ Chúa Cha, nên Chúa Con sẽ sống cho Chúa Cha: "Lương thực của Ta là làm theo ý Ðấng đã sai Ta và chu toàn công việc của Người" (Gio 4:34). Như thế, chân dung Thiên Chúa là Cha được bày tỏ sắc nét qua chính cảm nhận thiết thân của tình nghĩa Chúa Con với Cha mình. Liệt kê một loạt những chứng từ của Chúa Giêsu về tình phụ tử của Chúa Cha đối với Ngài, người viết không có ý đẩy bạn đọc vào thế giới thần học trừu tượng về Thiên Chúa, song chỉ mong sao bạn đọc nắm bắt được những khắc họa then chốt về cảm nghiệm sâu đậm và độc đáo nơi Chúa Giêsu về một Thiên Chúa mà Ngài thân tình gọi là Abba, Cha ơi! Chỉ khi làm được việc đó, ta mới có cơ may hội ra từ đấy những hệ quả quan trọng có liên quan mật thiết đến vận mệnh đời mình. Vì những gì Chúa Con giới thiệu về Chúa Cha, sẽ là sinh lộ vững vàng cho ta.
Thiên Chúa Là Cha Người Kitô Hữu Ơn cứu độ được Chúa Giêsu mạc khải bắt nguồn từ chân lý chắc nịch này: Thiên Chúa còn là Cha của mọi người. Chính từ cảm nhận sâu sa về một Thiên Chúa là Cha và Ngài là Con trong ý nghĩa đầy đủ và đúng đắn nhất của từ ngữ cha-con, mà Chúa Giêsu tiếp tục mạc khải Cha của Ngài cũng là Cha mọi người. Chúa Con không "độc quyền" làm con, nhưng cho mọi người được thông chia quyền nghĩa tử như mình. Ðó chính là cốt lõi của sứ mạng cứu độ Chúa Kitô mang đến cho nhân trần. Sau khi sống lại, Chúa đã nói trắng ra điều ấy: "Ta lên cùng Cha Ta, cũng là Cha anh em, lên cùng Thiên Chúa của Ta, cũng là Thiên Chúa của anh em" (Gio 20:17).Nhưng không phải đợi đến sau biến cố Phục sinh, Chúa Giêsu mới tiết lộ chân lý Thiên Chúa là Cha mọi người. Trước đó, trong suốt hành trình giảng dạy, công bố Vương quyền Thiên Chúa và chữa lành từ Galilê lên Giêrusalem, Chúa Giêsu đã không ngừng nói đến "Cha của anh em". Hãy để ý lối nói trực tiếp đến Thiên Chúa là "Cha", thay vì quy ước thường dùng của người đương thời thường gọi là "Ðức Chúa"; ở đây, tiếng "Cha" gợi lên một hình ảnh rất gần gũi, chân tình và đầy "chất người" về Thiên Chúa: Cha đáng được tôn vinh nơi con cái: "Ánh sáng của anh em phải chiếu sáng trước mặ thiên hạ, để họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời" (Mt 5:18). Cha là chuẩn mực sự trọn lành: "Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện" (Mt 5:48). Cha xử nhân hậu như nhau với mọi con cái: "Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Ðấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính" (Mt 5:44-45). Cha thấu biết nhu cầu của con cái: "Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó!" (Mt 6:32). Cha luôn lắng nghe và đáp cứu: "Khi cầu nguyện, hãy vào phòng đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha của anh em, Ðấng hiện diện nơi kín đáo" (Mt 6:6), vì "Cha anh em, Ðấng ngự trên trời, Người sẽ ban những của tốt lành cho những kẻ xin Người" (Mt 7:11). Cha ban Nước Trời cho đoàn con: "Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em" (Lc 23:32). Cha bao dung tha thứ cho người con hoang đàng: "Anh còn ở đằng xa, thì người Cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta, và hôn lấy hôn để" (Lc 15:20). Ngần ấy dẫn chứng thiết tưởng đã đủ để minh xác hình ảnh một vì Thiên Chúa là Cha nhân hậu và từ bi trong giáo huấn của Chúa Giêsu đã vượt xa lối hiểu cổ truyền về Ðức Chúa Giavê như được trình bày trong Cựu Ước. Mạc khải tối hậu về căn tính Thiên Chúa đã thành toàn trong giáo huấn và đời sống của Chúa Giêsu với ngôi vị là Con Một của Chúa Cha. Xét về hệ quả của mạc khải về Chúa Cha, ta thấy ngay: trong khi Chúa Kitô theo bản tính là Con Thiên Chúa, thì những kẻ tin vào Ngài cũng sẽ được ban quyền trở nên con Thiên Chúa: "Những ai tin vào Danh Người thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa" (Gio 1:12). Từ đó, Tông đồ Phaolô đã đưa ra một xác quyết vững chắc về tước vị làm con Thiên Chúa nơi các tín hữu khi ngài viết cho giáo đoàn Galát: "Thiên Chúa đã sai Con mình tới . . . để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. Ðể chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: ‘Abba, Cha ơi!" (Gal 4:5-6). Như thế, nhờ Ðức Kitô và với Ðức Kitô, người tín hữu trở thành người thừa kế mọi ân huệ và gia nghiệp của Cha trên trời: "Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy, đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Ðức Kitô" (Rm 8:16-17). Nói cách khác, trong Ðức Kitô, nhân loại sa ngã không những đã được hoà giải cùng Thiên Chúa, nhưng còn được nâng lên hàng nghĩa tử để thừa hưởng trọn vẹn sự sống phong phú và vinh quang bất diệt của Cha trên trời dành để cho con cái Người..
Kết Luận Càng bước sâu vào mầu nhiệm Thiên Chúa là Cha, ta càng cảm nhận hồng phúc được làm con Cha trên trờí! Làm sao Chúa Tể muôn loài lại nhận tôi, một tạo vật mong manh nhỏ bé, làm con của Người? Cha trần gian lắm khi còn nản lòng với con cái, nhưng sao Thiên Chúa chỉ muốn làm Cha nhân từ với đứa con nông nổi? Phải là một tình yêu mãnh liệt, một tấm lòng bao dung, vô biên và vô cùng, mới có thể ôm ẵm cả thế gian phản loạn trong đôi tay bao dung khoan thứ! Vâng, tâm trí con người vô phương dò thấu mối tình tha thiết của Cha trên trời, vốn luôn vượt quá mọi nghĩ tưởng trần gian. Chuẩn bị Năm Thánh chính là cảm nhận và trân quý sâu sa hơn tấm lòng Thiên Chúa, đặc biệt trong năm 1999 này, năm được biệt riêng để tôn vinh Thiên Chúa Cha, Ðấng hằng thương xót và luôn tha thứ. Hãy kính dâng Người lời tán tạ tri ân: Chúa tụng Thiên Chúa Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |