Ðức Mẹ Lavang: Vũ Sinh Hiên Năm nay, 1999, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam tổ chức Ðại hội Ðức Mẹ LaVang lần thứ 25 từ ngày 13-15 tháng 8. Mới năm ngoái đây, Giáo Hội đã long trọng mừng Ðại Lễ kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại LaVang vào các ngày từ 13-15/8/1998. Tất cả 25 Ðại Hội Ðức Mẹ LaVang (ÐHÐMLV) đều gói trọn trong thế kỷ 20. Trước lúc giã từ 100 năm đầy biến động này để bước vào thiên niên kỷ thứ ba bắt đầu bằng Năm Thánh 2000, mời bạn ôn lại lược sử các ÐHÐMLV. Mẹ đã hiện ra với con cái đất Việt dưới triều Vua Cảnh Thịnh, giữa cơn bách hại đẫm máu tiếp sau lệnh cấm đạo được ban hành ngày 17/08/1798. Giáo hữu vùng Cổ Vưu, Dinh Cát thuộc tỉnh Quảng Trị đã chạy vào trốn tránh trong cánh rừng phủ đầy giống cây lá vằng này (do đó mà có tên LaVang?) và Mẹ đã hiện ra để an ủi đoàn con tuyệt vọng của Mẹ. Nhà Tây Sơn sụp đổ, cơn bách hại đạo Chúa tạm lắng dưới triều Vua Gia Long (1802-1820), nhưng lại bùng nổ mãnh liệt dưới triều các Vua Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Ðức (1848-1883), mà đỉnh cao là do phong trào Văn Thân chủ xướng năm 1885. Ðạo Chúa chỉ được thực sự yên ổn kể từ năm 1886. Liền ngay sau đó, Ðức Giám mục Giáo phận Bắc Ðàng Trong, tức Giáo phận Huế, là Ðức Cha Antoine Louis Caspar Lộc đã cho khởi công xây dựng ngôi thánh đường mới, ngôi nhà thờ thứ 3 kể từ ngày hình thành Thánh Ðịa LaVang. Công cuộc xây dựng được hoàn tất vào năm 1901. Ðể đánh dấu ngày khánh thành ngôi thánh đường mới này, Ðức Giám mục Giáo phận đã cho tổ chức Ðại hội Ðức Mẹ LaVang lần thứ nhất vào ngày 8/8/1901 bằng việc rước kiệu Mẹ từ Giáo xứ Cổ Vưu lên LaVang, qua một chặng đường dài 7 cây số, kéo dài 4 tiếng đồng hồ, từ 5 giờ đến 9 giờ sáng. Trước lòng sốt sắng của giáo dân vùng Dinh Cát, Ðức Giám mục đã ban hành quyết định tổ chức ÐHÐMLV cứ ba năm một lần. Và như vậy, ÐHÐMLV lần 2 được tổ chức vào năm 1904, lần 3 là vào năm 1907. Năm 1908, Ðức Cha Eugène Marie Allys Lý bắt đầu trông coi Giáo phận. Chính vị Giám mục đầy lòng yêu mến Ðức Mẹ này sẽ đứng ra tổ chức 6 Ðại Hội trong nhiệm kỳ chủ chăn của ngài. Ðại Hội 4 được tổ chức vào năm 1910 mà vị tổng đạo diễn là cha Léopold Cadière Cả, vị học giả lỗi lạc trong nhiều lãnh vực. Ðại Hội 5 được tổ chức vào năm 1914, năm bắt đầu cuộc Ðại chiến thế giới thứ I. Ðại Hội 6 vẫn được tổ chức đúng kỳ hạn vào năm 1917, cũng là Ðại Hội đầu tiên được tổ chức ba ngày liền thay vì chỉ là một ngày, truyền thống được duy trì cho đến ngày nay. Ðại Hội 7 được tổ chức năm 1920. Ðại Hội 8 là vào năm 1923. Sau Ðại Hội này, cố René Morineau Trung xây dựng ngôi thánh đường sẽ tồn tại với Thánh Ðịa đến Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972. Cố Trung đã chọn ngày lễ Ðức Mẹ Lộ Ðức (11/2/1924) để đặt viên đá đầu tiên. Bình thường thì Ðại Hội 9 phải được tổ chức vào năm 1926, nhưng vào năm này, xảy ra một trận dịch bệnh trong vùng. Việc tổ chức Ðại Hội đành phải hoãn lại. Ðại Hội 9 đã được tổ chức vào năm 1928, cùng với việc khánh thành ngôi thánh đường nguy nga đã khởi công bốn năm trước đó. Ðây là Ðại Hội đầu tiên có tính cách toàn quốc bởi sự có mặt của các phái đoàn giáo dân 3 miền Bắc, Trung, Nam. Có thể nói không chỉ toàn quốc mà là toàn cõi Ðông Dương: Thánh lễ tạ ơn đã do Ðức Cha Gouin chủ sự, vị giám mục trông coi Giáo phận Ai Lao. Ðây cũng là Ðại Hội cuối cùng được tổ chức trong nhiệm kỳ của vị giám mục nặng tình và dày công với Giáo phận Huế, Ðức Cha Allys Lý. Ðại Hội 10 được tổ chức năm 1932 dưới thời Ðức Cha Chabanon Giáo. Ngài hủy bỏ việc ruớc Kiệu Ðức Mẹ từ Cổ Vưu lên, Ðại Hội kéo dài trong 3 ngày ngay tại Thánh Ðịa. Chính ngài cũng rời Toà Giám mục để sống trọn những ngày Ðại Hội với cộng đoàn dân Chúa tại LaVang. Sau Ðại Hội 10 có hai sự kiện đáng ghi nhớ trong sinh hoạt của Hội Thánh Việt Nam: Lễ tấn phong vị giám mục Việt Nam tiên khởi, Ðức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng năm 1933 và Công Ðồng Chung Ðông Dương từ 16/11 đến 6/12 năm 1934, dưới sự chủ toạ của Ðức Khâm sứ Colomban Dryer. Ðại Hội 11 được tổ chức năm 1935 và Ðại Hội 12 vào năm 1938 dưới thời Ðức Cha Francois Arsène Marie Lemasle Lễ. Kế tiếp là một thời gian dài không có Ðại Hội, cũng dễ hiểu, chinh chiến nối tiếp chinh chiến. Ðại chiến thế giới lần 2 (1939-1945) kết thúc thì cũng là lúc bắt đầu cuộc chiến Ðông Dương lần 1 (1945-1954) dẫn đến Hiệp định Genève chia đôi đất nước thành 2 miền. LaVang nằm dưới vĩ tuyến 17, gần sông Bến Hải ranh giới của hai miền Nam Bắc. Ðại Hội 13 được tổ chức vào năm 1955 dưới thời Ðức Cha Urruthia Thi, trong cảnh lòng dân hai bên bờ Bến Hải thương nhớ nhau, chỉ còn biết trông lên Mẹ an ủi nâng đỡ. Ðại Hội 14 được tổ chức đúng kỳ hạn, năm 1958. Sau Ðại Hội này, Giáo Hội Việt Nam đã long trọng kỷ niệm 300 năm ngày Toà thánh thành lập hai giáo phận tiên khởi của Giáo đoàn Việt Nam, ngày 9/9/1659, do sắc lệnh của Ðức Thánh Cha Alexandro VII và đã bổ nhiệm Ðức Cha Francois Pallu làm Giám mục Giáo phận Ðàng Ngoài, Ðức Cha Pierre Lambert de la Motte làm Giám mục Giáo phận Ðàng Trong, lấy sông Gianh làm ranh giới phù hợp với hiện tình đất nước bấy giờ là cuộc phân tranh Trịnh-Nguyễn. Cũng ngày này 9/9/1959, Giáo hội Miền Bắc đã gọi là "Ngày Linh Mục Bản Xứ" và khắc bia kỷ niệm gắn tại Cung Thánh Nhà Thờ Chánh Toà Hà Nội. Năm 1959 lại càng thêm ý nghĩa khi Giáo Hội Miền Nam tổ chức Năm Thánh Mẫu mà đỉnh cao là các ngày từ 16/2-18/2, với sự hiện diện của Ðặc sứ Toà Thánh, Ðức Hồng Y Grêgôriô Phêrô Agagianian, Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo. Ðức Hồng Y Ðặc Sứ đã đến quỳ cầu nguyện trước tượng Ðức Mẹ tại Thánh Ðịa LaVang ngày 21/2/1959. Năm sau đó, 1960, với Sắc lệnh Venerabilium Nostrorum, Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đã thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam vào ngày 8/12. Ðại Hội 15 được tổ chức vào năm 1961 dưới thời Ðức Tổng Giám mục Ngô Ðình Thục. Tại Ðại Hội này, Nhà thờ LaVang đã được nâng lên hàng Vương Cung Thánh Ðường. Ðại Hội cũng xác lập Thánh Ðịa LaVang là Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc. Sau Ðại Hội, các thành phần dân Chúa đã bắt tay vào việc kiến thiết Thánh Ðịa: phá bỏ ngôi nhà ghi dấu nơi Mẹ đã hiện ra, thay bằng ba cây đa bêtông cốt thép mà kiến trúc còn dang dở đến ngày nay, xây dựng Công trường Mân Côi, Ðàng Thánh Giá, Ðồi Canvariô, Nhà Tĩnh Tâm... Thế rồi biến cố ngày 1/1/1963 dẫn đến việc sụp đổ của nền Ðệ Nhất Cộng Hoà tại Miền Nam và cái chết của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Lúc đó, Ðức Tổng Giám mục Ngô Ðình Thục đang họp Công Ðồng Vatican II ở La Mã, ngài đã ở lại luôn tại hải ngoại. Tổng Giáo phận Huế được đặt dưới sự coi sóc của Ðức Cha Philiphê Nguyễn Kim Ðiền, lúc đầu với tư cách Giám quản, chính thức từ 1968. Ðại Hội 16 được tổ chức năm 1964, dưới thời Ðức Cha Giám quản Nguyễn Kim Ðiền, từ ngày 28 đến 31 tháng 5. Sáu năm sau, cũng vào những ngày này, Ðại Hội 17 được tổ chức vào năm 1970. Chiến cuộc từ đây mỗi ngày mỗi khốc liệt hơn. Ðồng bào vùng Dinh Cát, phía Bắc Quảng Trị sẽ chẳng bao giờ quên cái gọi là Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972, Ðại Lộ Kinh Hoàng mà bom đạn dập xuống đoàn người vô tội hốt hoảng bồng bế nhau xuôi Nam. Thánh Ðịa LaVang chia sẻ trọn vẹn nỗi đau này của Dân, của Nước: Vương Cung Thánh Ðường sụp đổ hoàn toàn vào đúng ngày Lễ Phục Sinh 2/4/1972, còn trơ lại ngọn tháp lỗ chỗ bom đạn, Nhà Tĩnh Tâm chỉ còn là đống gạch vụn, 9 nữ tu quyết tâm bám trụ thì 3 chị đã bị thiệt mạng. Thánh Ðịa hoang tàn và tang thương như chưa bao giờ. Lạ một điều là tại Linh Ðài, nơi Mẹ hiện xưa kia, không một viên đạn, không chút đổ vỡ, tất cả còn nguyên vẹn. Mẹ vẫn đứng đây, hẹn ngày gặp lại đoàn con. Rồi với năm 1975, hoà bình được tái lập trên quê hương Việt Nam. Giáo Hội Công Giáo Việt Nam chào đón vị hồng y tiên khởi ngày 27/5/1976, Ðức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê. Ðại Hội 18 được tổ chức vào năm 1978. Chỉ hai năm sau, vào ngày 1/5/1980, trong kỳ họp lịch sử của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, tất cả các vị Hồng Y, Tổng Giám Mục và Giám Mục đã đồng thanh xác lập một lần nữa Thánh Ðịa LaVang là Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc. Sau đó các vị đã đứng dậy đồng thanh hát kinh Salve Regina, Lạy Nữ Vương Mẹ Nhân Lành! Vâng, kính thưa quý Ðức Cha, toàn thể dân Chúa xin hiệp thông trong cử chỉ này. Các Ðại Hội 19, 20, 21 được tổ chức vào những năm 1981, 1984, 1987. Ngày 19/6/1988, 117 vị chứng nhân đức tin đã từng đổ máu trên đất Việt được Giáo Hội nâng lên hàng hiển thánh. Sang năm sau, lần đầu tiên, vị Ðặc sứ Toà Thánh Vatican là Ðức Hồng Y Roger Etchegaray đã chính thức viếng thăm Việt Nam từ ngày 1 đến 12 tháng 7 và đã đến thăm Thánh Ðịa LaVang, quỳ cầu nguyện trước tượng Mẹ. Ðại Hội 22 được tổ chức vào năm 1990 và Ðại Hội 23 năm 1993. Sang năm sau, 1994, vào ngày 26 tháng 11, Ðức Tổng Giám mục Hà Nội Giuse Phaolô Phạm Ðình Tụng được Toà Thánh phong tước Hồng Y, vị Hồng Y thứ ba của Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam. Ðúng định kỳ, Ðại Hội 24 được tổ chức vào năm 1996. Sau Ðại Hội này, Tổng Giáo phận Huế, với sự hỗ trợ của toàn Giáo Hội Việt Nam, đã bắt tay vào việc chuẩn bị Ðại Lễ kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại LaVang, được tổ chức từ ngày 13-15/8/1998. Ðể chuẩn bị tâm hồn trong dịp Ðại Lễ này, Toà Thánh đã cho phép mở năm Toàn Xá bắt đầu từ ngày 1/1/1998 đến 15/8/1999 vào dịp tổ chức Ðại Hội 25. Ðại Lễ kỷ niệm 200 năm Ðức Mẹ hiện ra tại LaVang đã diễn ra một cách sốt sắng về lòng đạo, hoàn hảo về tổ chức mà nhân sự chủ yếu gồm toàn các linh mục và giáo dân của Tổng Giáo phận Huế, làm hài lòng mọi người trong và ngoài Giáo Hội. Và như vậy, Ðại Hội 25 sẽ được tổ chức từ ngày 13-15/8/1999. Ðương nhiên giáo dân trong cả nước và từ nước ngoài sẽ về kính viếng Mẹ, để dâng lên Mẹ cõi lòng đầy hy vọng trước ngưỡng cửa của thiên niên kỷ thứ ba. Dù ở chân trời góc biển nào, con cái của Mẹ vẫn hằng nhớ: Chốn này, ngày này, Hội này Lòng này ghi tạc dám phai đá vàng (Thơ của Lm. J. M. Nguyễn Văn Thích) Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |