|
GIÁO
HỘI CÔNG GIÁO BƯỚC VÀO NĂM 2000 Lm. Hồng Phúc (+) PHẦN III. CÁC VẤN ÐỀ SÔI BỎNG Bài 15: Gốc Tích Loài Người Người Tây phương vốn có óc tếu có nói: "L’homme descend du singe, le singe descend de l’arbre". Xin tạm dịch: Con người bởi khỉ mà ra. Khỉ từ cây tuột xuống... làm người! Người bởi khỉ? Một số vấn đề thật xưa mà cũng thật nay, một vấn đề làm xao động trí óc bình dân mà cũng là một quan tâm của các nhà học giả. Năm 1996, Ðức Gioan Phaolô II đã tiếp các vị trong Hàn Lâm Viện Khoa Học Toà Thánh và phát biểu một điều quan trọng về nguồn gốc con người. Ngài gián tiếp trả lời cho hai chủ trương căn bản đối chọi nhau. Nhóm "căn bản thệ phản" và nhóm Công giáo thù ghét thuyết Darwin, đều dựa trên văn bản Thánh Kinh để chống đối nhau. Một bên thì đả phá, một bên thì coi đó như một tham luận đầy đủ về khoa sinh vật học. Nhưng cả hai nhóm đều ngộ nhận, không phân biệt rằng Thánh Kinh và thuyết Biến hoá (Évolutionisme) mà các nhà khoa học chủ trương, không ở trên một tần số, một bình diện như nhau. Như Ðức Giáo Hoàng giải thích trong bài nói chuyện rằng: Có một sự lầm lẫn giữa hai phương diện và hai chủ trương. Thánh Kinh không phải là một khái luận Khoa học, và nếu Thánh Kinh cho biết nhiều điều về con người, những điều Thánh Kinh cho biết không thuộc về phạm vi khoa học về nhân loại học (Anthropology). Sứ mạng và bình diện con người được sáng tỏ do mạc khải của Thiên Chúa. Ngài có một quyết định đặc biệt về con người, vì "Con người là tạo vật duy nhất trong vũ trụ mà Thiên Chúa muốn dành riêng" (Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay Gaudium et spes). Từ đầu, dưới ánh sáng mạc khải, con người được tạo dựng giống hình ảnh Chúa, không gì có thể giải thích hoàn hảo được, không thể khép kín trong một khuôn vạn vật được. Và việc khép kín trong một giả thuyết khoa học với những định luật khắt khe, tranh đấu, đào thải để sống, có thể và đã đưa đến một quan niệm rất nguy hiểm. Thuyết Darwin với yếu tố tranh đấu để tồn tại, để sống còn, vô tình đã đưa đến quan niệm chủng tộc độc tôn rất nguy hại cho nhân vị con người, như đã xảy ra trong lịch sử. Vì thế, cần phải có một suy tư đúng với "mầu nhiệm con người" dưới ánh sáng Thánh Kinh, nguồn ánh sáng duy nhất có thể nói lên địa vị con người giống hình ảnh Chúa. Tuy nhiên, người ta nói nhiều về thuyết Biến hoá, thiết tưởng nên "trả cho Xêda cái gỉ thuộc về Xêda và cho Thiên Chúa cái gì thuộc về Thiên Chúa" (Mt 22:21). Vậy, thuyết Biến hoá nói về con người như thế nào? Chủ thuyết dạy: Khởi đầu xuất hiện một phân tử hữu cơ (molécule organique) có sự sống dưới lòng biển, biến hoá thành cá (khoảng 550 triệu năm), biến hoá dần trở thành loại bò sát, rồi trở thành loại có vú, khủng long (khoảng 200 triệu năm) rồi biến thành loại khỉ vượn leo trèo (khoảng 70 triệu năm trước kỷ nguyên), khoảng 25 đến 7 triệu năm sau, khỉ vượn biết đứng dậy, dùng tay; từ 7 đến 2 triệu năm sau, biết dùng dụng cụ; từ 2 triệu đến 100 ngàn năm, biết dùng lửa, biết chôn kẻ chết; từ 35 ngàn năm, biết vẽ lên vách hang, khỉ vượn đã trở nên homo sapiens ("người khôn"). Và người cuối cùng trong tiến trình biến hoá chính là bạn và tôi, với tất cả những tiện nghi tân thời. Rồi tiến trình biến hoá sẽ tiếp tục không biết đi về đâu. Những tìm kiếm thấy chỗ nọ chỗ kia các mảnh vụn cổ xưa, rải rác, làm cho các nhà chủ truơng thuyết biến hoá cố đặt một mối giây quan hệ giữa những chủng loại đã mất hay còn tồn tại. Năm 1871, Darwin áp dụng thuyết biến hoá cho loài người và gây nhiều xúc động sôi nổi. Lý do là cho đến thế kỷ XIX, vấn đề này chưa được đặt ra. Người ta tin tưởng vào Thánh Kinh được coi như một thiên phóng sự lịch sử. Cây cối, loại vật, con người xuất hiện từ bàn tay Thiên Chúa tạo dựng "mọi sự theo chủng loại của mình", không tiến triển, không tiến hoá. Giám mục Bossuet (1627-1704) làm con tính, cho rằng ngày tạo dựng vào năm 5.119 trước Công nguyên. Một giám mục Anh giáo, năm 1648, lại lấy năm 4008 làm năm khởi điểm. Ai cũng nhớ bài hát cổ điển Giáng sinh: Dequis plus de quatre mile ans - Từ hơn 4000 năm, vang vọng năm xửa năm xưa. Thế rồi, khoa khảo cổ tìm thấy những vết tích con người có từ 100.000 năm (người Néanderthal nơi tìm ra năm 1856) và còn hơn thế, năm 1972, dấu vết con người xuất hiện gần 3 triệu năm (homo 1470). Và như Darwin, người ta nghĩ ra giả thuyết: Biết đâu sự sống tiến triển bằng một cuộc "biến hoá", từ loại này qua loại khác, từ một tế bào cơ thể không biết bởi đâu xuất hiện dưới lòng biển cả, biến hoá dần thành loại lưỡng thể để leo lên bờ, biến thành nhiều loại khác, bò sát rồi chỗi dậy đi khom khom, rồi đứng thẳng lên, đi hiên ngang; con người xuất hiện . thành bạn và tôi. Phải nhận rằng việc tiến triển biến hoá khoa học đã giúp cho khoa Thánh Kinh tiến lên và trở nên "khoa học" hơn. Thánh Kinh được viết ra, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh thần, từ cảm nghiệm của một dân tộc đang đi tìm Thiên Chúa. Người ta hiểu hơn Thánh Kinh muốn nói gì. Thánh Kinh không nói đến dữ kiện khoa học mà chỉ cho chúng ta phải làm sao để đáp lại Tình yêu của Thiên Chúa. Tại Công đồng Tridentinô, một Hồng y nghị phụ đã nói: "Sách Sáng thế không nói cho chúng ta biết trời đi như thế nào mà chỉ nói là làm sao chúng ta đi về trời." Vào khoảng năm 1000 trước Công nguyên, dân Israen sống ổn định. Họ bắt đầu chép lại sử ký của họ từ Abraham đến Moisê, từ cuộc sống xuất hành khỏi Aicập đến cuộc định cư trên Ðất Hứa. Nhưng trước Abraham có những gì? Từ đâu nhân loại xuất hiện? Dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, họ bắt đầu suy tư, nói được là một cuộc suy tư giật lùi về quá khứ. Sách Sáng thế được viết ra, nói lên sự yêu thương của Thiên Chúa đã tạo thành vạn vật và cả con người. Bản văn tạo dựng không phải là một thiên phóng sự trực tiếp mà là một niềm tin vào Thiên Chúa, Ðấng thương yêu và trung thành đã can thiệp vào lịch sử của dân người. Niềm tin ấy, viết làm sao cho dân chúng thời xa xưa ấy hiểu được: Việc sử dụng những hình ảnh, tượng hình, theo lối "khoa học", hiểu biết thời ấy, rằng Chúa là Ðấng ban cho mọi sự có, Người là Cứu Chúa; loài người liên hệ với Ngài và với anh em; con người có tự do và trách nhiệm. Như vậy, Thánh Kinh và Khoa học là hai phương diện, hai cái nhìn khác nhau, hai câu hỏi: Khoa học đặt câu hỏi: Con người được cấu tạo làm sao? (Comment l’homme?) Thánh Kinh đặt câu hỏi: vì sao có con người? (Pourquoi l’homme?) Khoa học chú trọng đến việc diễn tiến con người: Ði từ con người hiện tại, khoa học cố tìm hiểu làm sao con người đi đến hôm nay. Ðâu là mối giây liên kết sự kiện? Do biến hoá thay đổi? Sự cấu tạo ấy như thế nào và làm sao cắt nghĩa? Thánh Kinh trả lời câu hỏi: vì sao có con người trên trái đất? Thánh Kinh lấy ánh sáng đức tin dọi vào những dữ kiện mà khoa học cho là đã được tìm thấy. Con người xuất hiện cách này hay thể khác, đó là việc khoa học phải trả lời. Nhưng vì sao con người xuất hiện? Do ngẫu nhiên, có đó rồi mất đó? Hay sẽ tồn tại? Vì sao con người khao khát hạnh phúc? Vì sao có sự dữ, đau khổ, sự chết? Chết là hết hay còn có một cuộc sống tương lai? Thánh Kinh và khoa học là hai cái nhìn không mâu thuẫn nhau, nhưng bổ khuyết cho nhau. Sau những minh định trên, chúng ta trở lại với thuyết Biến hoá dưới con mắt của nhà thần học ngày nay. Trước vấn đề "biến hoá" nhà thần học Công giáo chú trọng đến các điểm sau đây: Sự khác biệt của sự tạo dựng và sự biến hoá. Tạo dựng là khởi đầu có một sự vật trước đây chưa có. Có rồi mới bắt đầu biến hoá. Thuyết biến hoá giả thiết trước rằng sự vật ấy (như tế bào cơ thể có sự sống nói trên) đã có trước trong thời gian và bắt đầu biến hoá dần. Vì sao mà có? Bởi đâu mà có? Không lẽ tự có. Không thấy khoa học nói đến dữ kiện đó. Từ nguyên tắc khi Thiên Chúa tạo dựng, Ngài có thể ban cho tạo vật khả năng tự hoàn thiện lấy dần dần và tạo cho điều kiện để thực hiện tiến triển. Cái gì thiêng liêng thuộc về thần trí không thể phát xuất từ vật chất, từ thể xác. Do đó linh hồn thiêng liêng không thể từ thể xác mà ra. Linh hồn do Thiên Chúa dựng nên và đặt vào trong thể xác con người, khi thể xác ấy đã được dọn sẵn, đủ điều kiện để tiếp nhận, có thể do tiến hoá, để trở nên một con người có trí khôn, có linh hồn, trong một đơn vị duy nhất. Loài người có một nguyên thủy. Nhưng lúc nào? Ðó là phạm vi khoa học phải trả lời. Thánh Kinh nói đến Ađam và Evà, nghĩa là "người" và "kẻ sống". Dưới danh xưng ấy, chúng ta có thể nói như khoa học đề nghị: có một cặp uyên ương ở một nơi nào đó hay nhiều cặp ở nhiều thời gian và nơi khác nhau. Nhiều nhà khoa học nói ở rừng Phi Châu. Nhưng điều cốt yếu, Thánh Kinh muốn nói, là con người ấy có liên hệ với Thiên Chúa và với anh em, có tự do và có trách nhiệm về hành động mình. Thiên Chúa không tạo dựng sự dữ, tội lỗi, nhưng con người đã lạm dụng tự do và sa đoạ. Trong sứ điệp gửi cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Toà Thánh đề ngày 22/10/1996, Ðức Gioan Phaolô II nói đại ý như sau: "Quyền Giáo huấn của Giáo Hội trực tiếp chú ý đến vấn đề biến hoá, vì nó liên hệ đến quan niệm con người được mạc khải cho biết được tạo dựng ‘giống hình ảnh Thiên Chúa’ (Kn 1:28-29)... Trong Thông điệp Humani generis, Ðức Piô XII, coi thuyết Biến hoá như một giả thuyết đứng đắn, đáng được tìm hiểu và suy tư sâu hơn, nhưng với hai điều kiện là không cho đó là thuyết chắc chắn và được chứng minh và loại bỏ hẳn mạc khải về những vấn đề thuyết ấy đề cập... Ngày nay gần nửa thế kỷ sau Thông điệp này, những sự hiểu biết mới đưa đến việc nhìn nhận rằng thuyết biến hoá ấy hơn là một giả thuyết... Nhưng kinh nghiệm về kiến thức siêu hình, tự ý thức và tự suy, lương tâm luân lý, tự do, cảm nghiệm tôn giáo, những suy tư triết học thì thuộc phạm trù thần học. Nó cho ta thấy ý nghĩa cuối cùng về con người trong ý định của Thiên Chúa." Sứ điệp của Ðức Thánh Cha mà một số người vội vã, như nhà bình luận của báo Le Monde và một số cơ quan báo chí truyền thông khác cho là "một cuộc trở lại với ông Darwin", thật ra chỉ là một sự làm sáng tỏ vấn đề gốc tích loài người, dưới hai khía cạnh, hai cái nhình của đức tin và khoa học, không chống đối nhau nhưng bổ khuyết cho nhau. "Khi tuyên xưng đức tin của chúng ta vào Ðấng Tạo Thành, chúng ta tìm được câu trả lời mà nhân loại mang nặng trong lương tâm; trên mặt đất, chúng ta không đơn độc, chúng ta không rơi xuống vì ngẫu nhiên, vì sai lầm: Chúng ta không thừa thãi. Khoa học và sự tiến triển cơ khí đặt chúng ta trước một mầu nhiệm sâu thẳm: Ðâu là ánh sáng của đời sống? Chúng ta sẽ đi về đâu? (Thơ luân lưu của Hội đồng Giám mục Pháp Il est grand le mystère de la Foi, 1978) Trong sứ điệp gửi cho Hàn Lâm Viện Khoa Học Toà Thánh đề ngày 22/10/1996, Ðức Gioan Phaolô II nói đại ý như sau: "Quyền Giáo huấn của Giáo Hội trực tiếp chú ý đến vấn đề biến hoá, vì nó liên hệ đến quan niệm con người được mạc khải cho biết được tạo dựng ‘giống hình ảnh Thiên Chúa’ (Kn 1:28-29)... Trong Thông điệp Humani generis, Ðức Piô XII, coi thuyết Biến hoá như một giả thuyết đứng đắn, đáng được tìm hiểu và suy tư sâu hơn, nhưng với hai điều kiện là không cho đó là thuyết chắc chắn và được chứng minh và loại bỏ hẳn mạc khải về những vấn đề thuyết ấy đề cập... Ngày nay gần nửa thế kỷ sau Thông điệp này, những sự hiểu biết mới đưa đến việc nhìn nhận rằng thuyết biến hoá ấy hơn là một giả thuyết... Nhưng kinh nghiệm về kiến thức siêu hình, tự ý thức và tự suy, lương tâm luân lý, tự do, cảm nghiệm tôn giáo, những suy tư triết học thì thuộc phạm trù thần học. Nó cho ta thấy ý nghĩa cuối cùng về con người trong ý định của Thiên Chúa." Sứ điệp của Ðức Thánh Cha mà một số người vội vã, như nhà bình luận của báo Le Monde và một số cơ quan báo chí truyền thông khác cho là "một cuộc trở lại với ông Darwin", thật ra chỉ là một sự làm sáng tỏ vấn đề gốc tích loài người, dưới hai khía cạnh, hai cái nhình của đức tin và khoa học, không chống đối nhau nhưng bổ khuyết cho nhau. "Khi tuyên xưng đức tin của chúng ta vào Ðấng Tạo Thành, chúng ta tìm được câu trả lời mà nhân loại mang nặng trong lương tâm; trên mặt đất, chúng ta không đơn độc, chúng ta không rơi xuống vì ngẫu nhiên, vì sai lầm: Chúng ta không thừa thãi. Khoa học và sự tiến triển cơ khí đặt chúng ta trước một mầu nhiệm sâu thẳm: Ðâu là ánh sáng của đời sống? Chúng ta sẽ đi về đâu? (Thơ luân lưu của Hội đồng Giám mục Pháp Il est grand le mystère de la Foi, 1978)
Bài 16: Ðức Tin Và Thuyết Luân Hồi Từ "luân hồi", Métempsychose hay Reincarnation, do töø Hy laïp metempsikhosis goàm chöõ meta coù nghóa thay ñoåi vaø empsukhoun töùc linh hoàn, laø thuyeát cho rằng một linh hồn có thể đầu thai trong nhiều thân xác khác. Người Aicập tin rằng linh hồn nhập vào thể xác thú vật, nhất là chim và rắn. Triết học Hy lạp từ thời nhà toán học và triết gia Pythagore (chết năm 497 B.C.) chấp nhận thuyết Luân hồi. Triết gia Platon (427-347 B.C.) trong tác phẩm Phédon, dựa trên thuyết tương phản (sự sống sinh sự chết và ngược lại) và thuyết hồi tưởng (hiểu biết là nhớ lại) để bênh vực thuyết Luân hồi. Ðối với Ấn độ giáo, luân hồi là con đường phải có để đạt đến sự trong sạch dần dần, qua nhiều kiếp sống, đưa đến việc gạt bỏ khối nặng và ảo ảnh và sự diệt vong, trong Brahma (Thượng đế) là thực thể duy nhất. Các cuộc sống liên tiếp giải thích sự hiện hữu các giai cấp xã hội khác nhau và vấn đề sự dữ. Ngày nay, theo viện Gallup, năm 1983, có một phần tư người Âu châu tin theo thuyết luân hồi. Nhưng, theo Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, người ta tin thuyết luân hồi nhưng không sống theo. Người ta tin vào thuyết Luân hồi như một cái "mốt" thời đại. Tác giả Goethe (1749-1832) của Ðức và các nhà văn thuộc phái lãng mạn (Romanticisme) đều chấp nhận thuyết luân hồi. Thuyết biến hoá của Darwin càng làm cho họ xác tín. Allan Kardec (1804-1860) là một nhà cổ võ thuyết, khi chết xin ghi trên phần mộ ở Paris câu: "Sinh, tử, tái sinh và luôn thăng tiến. Ðó là định luật." Nhưng phải nhận rằng quan niệm thăng tiến đó là quan niệm Âu tây trong khi đó, đối với Ðông phương, quan niệm thăng tiến lại là quan niệm diệt vong, phải tìm mọi cách để giải thoát. Vì sao đạo Công Giáo luôn luôn từ chối, không chấp nhận thuyết luân hồi? Trong sách vở viết về luân hồi, có người cho rằng trong thời Giáo Hội tiên khởi, người ta biết và chấp nhận thuyết luân hồi. Chẳng hạn như lời Chúa nói về Gioan tẩy giả: "Và nếu các ngươi muốn nhận, thì chính ông là Elia phải đến." (Mt 11:14). Phải chăng Gioan là Elia tái hồi? Nhưng Origênê, nhà thần học lỗi lạc nhất thế kỷ III, đã cắt nghĩa câu ấy đối chiếu với Phúc Âm Gioan va Luca (1:7) rằng: Gioan đến trước Chúa "với tinh thần và sức mạnh Elia". Như vậy, Origênê bác bỏ thuyết luân hồi; ông chỉ chủ trương thuyết có các linh hồn trước rồi mới được Chúa ban phát cho thể xác sau. Công đồng Constantinople năm 543 đòi kết án tác giả và thuyết của ông. Ðức tin Công Giáo tin vào sự duy nhất của con người: mỗi người là một đơn vị duy nhất trước mặt Chúa. và sự duy nhất ấy gồm cả linh hồn và thể xác, loại bỏ mọi luân chuyển sang thể xác khác, nhất là thể xác thú vật. Mỗi cá nhân được gọi để một ngày kia hiệp nhất cả hồn lẫn xác với Chúa Kitô, vừa là Thiên Chúa vừa là Con Người, để nhờ Ngài thông hợp với đời sống Chúa Ba Ngôi. Ðó là giáo lý Công Giáo. Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân - Lumen gentium (số 48) - có nhắc đến gián tiếp vấn đề luân hồi khi nói đến "Giòng đời duy nhất của cuộc sống trần thế," với ngụ ý bác bỏ thuyết luân hồi. Giáo Hội xem ra không bao giờ trực tiếp lên án thuyết Luân hồi, không phải vì cho rằng đó là một thuyết có thể dung hoà với đức tin Công giáo. Trái lại, vì thuyết ấy rõ ràng trái ngược các tín điều Công Giáo nên một sự lên án như thế không cần thiết. Có người cho rằng thuyết luân hồi có thể đưa ra những bằng chứng "khoa học", như vụ Bà Bridey Murphy. Một bà Mỹ tên là Ruth Simmons, khi được thôi miên, đã kể lại cuộc sống trước đây khi bà còn ở Ái Nhĩ Lan vào thế kỷ XIX với tên Bridey Murphy. Ðức Cha Jean Vernette, trong cuốn La Reincarnation - Luân hồi - đã tra cứu tường tận và kết luận: không thể nói có một bằng chứng khoa học và thực nghiệm. Vì một phần sự kiện ít oi, đàng khác không có thể kiểm chứng nhiều lần như khoa học đòi hỏi. Luân hồi là một sự tin tưởng chủ quan, chỉ đáp ứng lòng tin của từng người trước câu hỏi: "Sau khi chết, sự gì sẽ xảy ra cho chúng ta?" Thuyết Luân hồi phát xuất từ một quan niệm triết học hay tôn giáo về bản thể, về nguồn gốc và số phận con người, vượt ra ngoài vòng khoa học và thực nghiệm. Vụ Bridey Murphy - có thể là một dữ kiện thuộc tâm lý tâm linh (Parapsychique), có người khác lại cho là thuộc quỉ thần học (démonlogy). Ðối với Kitô giáo, Thiên Chúa là tình thương và Ngài thương yêu con người một lần đến tận cùng. Con người là một tạo vật, được Chúa thương yêu trong cả bản thể nghĩa là cả hồn lẫn xác. Thể xác không phải là ngục tù của linh hồn và cũng được Ngài dựng nên. Hơn nữa, thể xác cũng được mời gọi để tham dự vào cuộc sống đời đời nhờ sự sống lại của thể xác - "Tôn tin xác loài người sẽ sống lại..." Thánh Phaolô, tại công trường Nhã điễn (Athène, Hy lạp) đã làm cho người ta cười nhạo khi ngài nói đến việc sống lại (Cv 17:32). Nếu con người cả hồn lẫn xác là một tạo vật thì điều đó có nghĩa là Thiên Chúa muốn như vậy: một nhân vị, với một nguyên thuỷ duy nhất, một đời sống duy nhất kết thúc trong cuộc sống vĩnh cửu. Ðiều ấy, đạo Dothái cũng chấp nhận. Tuy nhiên, Kitô giáo còn thêm một yếu tố tối quan trọng. Và yếu tố riêng biệt ấy ngăn cấm mọi thoả thuận với thuyết luân hồi, ấy là chính Chúa Giêsu Kitô. Ngài là Thiên Chúa xuống thế, là Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể. Thánh thể ấy đã phục sinh sống lại, đã lên trời và "ngự bên hữu Ðức Chúa Cha." Chính trong thể xác quang vinh và hằng sống ấy Ngài "sẽ trở lại trong vinh quang". Như thế, chúng ta mới hiểu biết, mới cảm nghiệm rằng mọi vận mệnh Kitô hữu đều mô phỏng theo đấng sáng lập, là Chúa, và là Thầy của chúng ta. Ta không thể nghĩ tưởng rằng vận mệnh ấy sẽ trở về với những thân xác khác trong cuộc sống thế trần khác. Cuộc sống ấy đã là một sự thông hiệp với Ðức Kitô, như "một thân thể", như những "chi thể của Chúa Kitô", thì khi cuộc đời viên mãn, cuộc sống hiệp nhất sẽ triển nở trong "ngày thể xác sống lại." Ðó là cảm nghiệm căn bản của Kitô giáo. Thánh Giáo phụ Irênê ở Lyon, vào thế kỷ thứ II đã tóm lược giáo lý ấy như sau: "Vì Chúa Kitô đã xuống cõi âm u sự chết, nơi ở của các người đã qua đời, Người cho thể xác họ sống lại và Người chỉ lên trời sau khi sống lại. Thì rõ ràng dữ kiện như vậy cũng sẽ đến với các môn đệ, vì Ngài đã làm sự ấy để cho họ: linh hồn họ sẽ về nơi bí nhiệm do Chúa chỉ định và ở đó chờ đợi cho đến ngày phục sinh. Khi họ sẽ tìm lại thân xác của họ và sống lại đầy đủ, nghĩa là với thể xác, như Chúa Kitô đã phục sinh. và như vậy cả linh hồn và thể xác sẽ đến hưởng nhan thánh Chúa" (Adv. Haer. V, 32,2). Lý do thúc đẩy nhiều người thời nay tin vào thuyết luân hồi, là cảm nghĩ cho rằng một cuộc sống duy nhất ở trần gian thật quá vắn vỏi, nên mới nghĩ ra những cuộc sống khác để có thể sửa chữa lại những thiếu sót. Quan niệm như thế là quan niệm con người phải tự cứu thoát, phải tự hoàn thiện đời mình, không phải nhờ ai cả. Nhưng ai có thể bảo đảm rằng đời sau sẽ khá hơn, hoàn thiện hơn? Người tin vào thuyết luân hồi là người không muốn được cứu rỗi và việc cứu rỗi ấy chỉ có Thiên Chúa ban cho chúng ta. Việc định đoạt số phận đời đời của ta không tùy thuộc trước hết ở số lượng việc lành chúng ta làm hay những cố gắng chúng ta thực hiện mà tùy thuộc căn bản vào lòng nhân lành của Thiên Chúa. Trong sự tự do và thành tâm, chúng ta mở cửa lòng cho Ngài để nhận được ơn cứu rỗi. Ðiều định đoạt số phận đời đời chúng ta không tùy thuộc vào thời gian năm tháng đài hay vắn mà chỉ tùy vào việc chúng ta đón nhận tình thương cứu độ của Chúa Kitô. Chúng ta không chấp nhận thuyết luân hồi vì cảm nghiệm và lời nói bất hủ của Thánh Phaolô sau đây: "Ðối với tôi, sống chính là Chúa Kitô và chết là một mối lợi" (Ph 1:21). Sống chính là Chúa Kitô. Thật là sống đầy đủ, sống với Chúa Kitô, sống như Người đã sống, nghĩa là trong thân xác mà chính Ngài đã lãnh nhận trong cung lòng Ðức Mẹ Maria và đã phục sinh sống lại. Làm sao chúng ta có thể nghĩ rằng Chúa sẽ xua đuổi họ đi xa vào muôn đời vạn kiếp khác, khi mà trên thập giá Chúa phán cùng người trộm lành: "Ta nói thật với ngươi, chính hôm nay, ngươi sẽ ở với Ta trong Nước Trời" (Lc 23:45). Thuyết luân hồi không có chỗ đứng trong kho tàng Ðức tin Công Giáo, vì sống với Chúa Kitô, Ðấng đã chết, đã sống lại và lên trời, chính là cùng đích chúng ta. Cùng đích đã đạt tới: Thiên Chúa đã gặp gỡ con người, cuộc tìm kiếm của con người đã chấm dứt không phải tìm kiếm nữa. Và cuộc gặp gỡ sẽ vượt trên sự mong đợi ngàn trùng (1 Cor 2:9tt). Sách Giáo lý của Giáo Hội Công giáo tóm tắt lại vấn đề như sau: "Sự chết là chỗ tận cùng của cuộc lữ hành của con người nơi trần gian, chỗ tận cùng của thời gian ân sủng và từ bi mà Thiên Chúa dành cho mỗi người, để thực hiện cuộc đời trần thế của mình theo ý định của Thiên Chúa, và để quyết định về số mệnh tối hậu của mình. Khi đã chấm dứt ‘dòng đời duy nhất của cuộc sống trần gian của chúng ta’ (Lumen gentium 48) - chúng ta sẽ không trở lại những kiếp sống khác nơi trần gian này. ‘Nguời ta chỉ chết một lần thôi’ (Dt 9:27), không có sự ‘đầu thai’ sau khi chết" (GLCG 1013). Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |