Lm. Phạm Quốc Hưng, CSsR.

LỄ MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI.   15-08-1999 : ƯỚC VỌNG LÊN TRỜI.

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN.   22-08-1999 : CÂU HỎI CỦA NIỀM TIN

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN.   28-08-1999 :  ÐẶC TÍNH MÔN ÐỆ CHÚA KITÔ.

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN.   05-08-1999 : LÀM NGƯỜI TUẦN CANH.

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN.   12-09-1999 : PHẢI THA THỨ LUÔN.

Back to Top Back to Top


 

Lễ Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

15-08-1999
Rev 11:19a; 12:1-6a, 10; 1 Cor 15:20-26; Lc 1:39-56

ƯỚC VỌNG LÊN TRỜI

"Phúc cho người, là kẻ đã tin rằng viên thành sẽ đến cho mọi điều Chúa truyền phán dạy cho người!"

Trong buổi lễ tại Tòa Bạch Ốc ngày 20-07-1994, tổng thống Hoa Kỳ William Clinton đã tôn vinh cuộc đổ bộ lên mặt trăng tròn 25 năm (20-07-1969). Ông gọi biến cố ấy là "bước nhảy vĩ đại của nhân loại". Các phi hành gia của phi thuyền Apollo 11 là Neil Armstrong, Edwin Aldrin và Michael Collins, những người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng, đã được ngưỡng mộ như những người hùng của nhân loại.

Sau chuyến bay lịch sử ấy, nhiều người đã nghĩ đến việc sẽ có những cuộc du hành thường xuyên lên mặt trăng để tất cả những ai thích đều có thể mua vé lên nguyệt cầu. Nhưng dịch vụ du ngoạn nguyệt cầu đến nay vẫn chưa được thực hiện. Việc bỏ ra một món tiền lớn để đặt chân lên một vệ tinh không có sự sống và dưỡng khí rồi trở về địa cầu với ít đất đá vô hồn xem ra không đáng làm.

Dù sao, việc con người vượt ra khỏi sự hạn hẹp của địa cầu để đặt chân lên một thiên thể khác vẫn là một thành quả đáng khâm phục. Vì điều này đã nói lên một cách hùng hồn khả năng chinh phục vũ trụ của con người. Nhưng dù có vượt ra khỏi sự hạn hẹp của địa cầu khi đặt chân lên nguyệt cầu, con người vẫn chưa được thỏa mãn hoàn toàn. Vì mặt trăng hay bất cứ thiên thể nào trong thế giới vật chất này vẫn không phải là quê thật và chung cánh của loài người. Chỉ có Thiên Ðàng hay Quê Trời mới là nơi mà mọi khao khát và trống vắng của lòng người mới được thỏa mãn và khỏa lấp hoàn toàn.

Ước mơ Thiên Ðàng không phải là ước mơ hão huyền.

Việc phi thuyền Apollo 11 đổ bộ nguyệt cầu đã cho thấy ước mơ lên thăm Chị Hằng của nhân loại từ ngàn xưa đã được thực hiện. Cũng vậy, việc Ðức Mẹ được Thiên Chúa đưa lên trời cả hồn cả xác mà Giáo Hội long trọng mừng kính vào ngày 15/08 hàng năm đã nói lên một cách hùng hồn rằng ước mơ lên trời, ước mơ Thiên Ðàng, là ước mơ chính Thiên Chúa đã gieo vào nơi sâu thẳm nhất của lòng người. Ước mơ đó đã được thực hiện cách trọn vẹn nơi Mẹ Maria và cũng sẽ được thực hiện nơi mỗi người chúng ta trong ngày chung thẩm, khi thân xác chúng ta được Chúa cho sống lại như thân xác vinh hiển của Chúa Giêsu Phục Sinh.

Không như nguyệt cầu là nơi vắng bóng sự sống và dưỡng khí, Quê Trời là nơi đong đầy sự sống và tình yêu. Mẹ Maria được "lên trời" không có nghĩa là Mẹ được Chúa cất ra khỏi trái đất này để đem đến một khoảng không gian xa xôi nào đó trong vũ trụ vật thể này. Vì nếu việc Mẹ lên trời được hiểu như thế, việc "lên trời" của Mẹ chẳng đáng ta ước mong, như lời của một bản tình ca nào đó:

"Lên trời hai đứa hai nơi

Thôi em chỉ muốn làm người trần gian."

Thực ra, đặc ân Ðức Mẹ được "lên trời" có nghĩa là Mẹ đã được Thiên Chúa cho tham dự vào chính sự sống của Chúa Ba Ngôi cách trọn vẹn, cả hồn cả xác. Mẹ đã được Thiên Chúa đưa ra khỏi thế giới tự nhiên hữu hạn này để đi vào thế giới siêu nhiên vô hạn, thế giới thần linh của chính Chúa. Trong thế giới đó, Mẹ được hiệp nhất với Chúa Ba Ngôi và tất cả tạo vật đẹp lòng Chúa trong Tình Yêu và Hạnh Phúc viên mãn của chính Chúa.

Tại sao Mẹ được phúc trọng như thế? Tin Mừng theo Thánh Luca trong phụng vụ hôm nay cho ta biết Mẹ được phúc trọng vì Mẹ đã tin, tin tất cả những gì Chúa phán cùng Mẹ. Mẹ đã tin với tất cả xác hồn của Mẹ, với tất cả sự sống và tình yêu của Mẹ. Mẹ đã tin trọn vẹn nên Mẹ đã được phúc trọn vẹn.

Chúng ta cũng được Chúa mời gọi bước vào cuộc hành trình đức tin như Mẹ. Chúng ta tin rằng Chúa yêu thương ta từ đời đời. Người dựng nên ta theo giống hình ảnh Người. Người đã ban cho chúng ta chính Con Một Người là Chúa Giêsu Kitô, Ðấng đã sinh ra làm người để chia sẻ thân phận chúng ta, đã chết và sống lại để chuộc lại cho chúng ta địa vị làm nghĩa tử của Chúa, và đã lên trời vinh hiển để cho chúng ta hy vọng sẽ được lên trời chia sẻ vinh quang với Người.

Việc Mẹ Maria được lên trời cả hồn cả xác cho thấy Mẹ là người đầu tiên trong nhân loại đã được tận hưởng cách trọn vẹn và hoàn hảo ơn cứu độ do công nghiệp của Chúa Kitô. Ðó còn là một mạc khải cho ta thấy trước phần phúc chung cánh Thiên Chúa dành sẵn cho mỗi người chúng ta.

Thực tại đức tin của ta đẹp như thế đấy!

Ta có dám tin và sống trọn vẹn với niềm tin đó không?

Có lẽ sẽ chẳng bao giờ chúng ta có cơ hội đặt chân lên mặt trăng như các phi hành gia của phi thuyền Apollo 11. Nhưng nếu chúng ta tin như Mẹ đã tin và sống như Mẹ đã sống, chắc chắn chúng ta sẽ được phúc lên trời như Mẹ đã được.

Lạy Mẹ Maria là Mẹ đầy ơn phúc của chúng con. Cùng với Mẹ chúng con cảm tạ Chúa đã ban cho Mẹ ơn được lên trời cả hồn cả xác. Trong sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa của Tình Yêu, Mẹ không ở xa chúng con nhưng lại càng gần chúng con và yêu thương chúng con hơn. Vậy xin Mẹ hãy giúp chúng con nhận biết sự hiện diện thật thân thiết của Mẹ trong cuộc đời chúng con, để chúng con hằng sống gắn bó với Mẹ trong cuộc hành trình đức tin nơi dương thế. Nhờ vậy, chúng con sẽ luôn tìm được ý nghĩa đích thực và bình an trong cuộc sống hiện tại và đầy tràn hy vọng sẽ được hưởng phúc Thiên Ðàng cùng Mẹ trong cuộc sống đời đời. Amen.

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật XXI Thường Niên

22-08-1999
Is 22:19-23; Rom 11:33-36; Mt 16:13-23

 CÂU HỎI CỦA NIỀM TIN

 

"Còn các ngươi, các ngươi nói Ta là ai?"

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã đặt hai câu hỏi cho các môn đệ.

Câu hỏi thứ nhất: "Theo như người ta nói thì Con Người là ai?" (Mt 16:13)

Và câu hỏi thứ hai: "Còn các ngươi, các ngươi nói Ta là ai?" (Mt 16:15)

Dường như các môn đệ không gặp khó khăn gì khi trả lời câu hỏi thứ nhất. Thánh Matthêô viết: "Họ thưa: ‘Có kẻ thì nói là Yoan Tẩy Giả; nhóm khác là Êlya; nhóm khác nữa là Yêrêmya hay một vị nào trong các tiên tri’" (Mt 16:14). Không riêng gì các môn đệ nhưng bất cứ ai cũng có thể trả lời cách dễ dàng câu hỏi này của Chúa Giêsu. Vì đây là một câu hỏi thăm dò dư luận không liên quan gì đến bản thân người được hỏi mà chỉ thuộc về những gì "người ta nói".

Nhưng khi Chúa Giêsu đưa ra câu hỏi thứ hai, câu hỏi liên quan đến niềm tin thiết thân của các môn đệ đối với Người thì dường như các ông bị bối rối không biết phải trả lời thế nào cho phải lẽ. Lúc ấy, Phêrô được Chúa Cha mạc khải đã lên tiếng trả lời với tất cả sự xác tín: "Ngài là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16:16). Và với lời tuyên tín này của Phêrô, Chúa Giêsu đã đặt ông làm nền tảng của Hội Thánh của Người khi Người nói với ông: "Và Ta, Ta bảo ngươi: Ngươi là Ðá và trên Ðá ấy, Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta, và quyền môn âm phủ sẽ không thắng nổi" (Mt 16:18).

Chúa Giêsu không muốn Phêrô và các môn đệ dừng lại ở việc tuyên xưng Ngài là Ðức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống. Người còn muốn tẩy sạch quan niệm sai lầm của các ông về Ðức Kitô và giúp các ông thực sự hiểu biết và cảm nhận đầy đủ hơn về con người và công cuộc cứu độ đầy yêu thương của Người. Vì vậy "Từ bấy giờ, Ðức Yêsu bắt đầu tỏ cho môn đồ hay: Ngài phải đi Yêrusalem và chịu nhiều đau khổ do hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục, và bị giết đi, và ngày thứ ba sẽ sống lại" (Mt 16:21).

Và Phêrô, người vừa tuyên tín Chúa Giêsu là Ðức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống, đã không chấp nhận được một sự thật phũ phàng như thế về Ðức Kitô. Và Chúa Giêsu đã mắng ông: " Xéo đi sau Ta! Hỡi Satan! Ngươi là cớ vấp phạm cho Ta, vì ý tưởng của ngươi không phải là ý tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người" (Mt 16:23).

Sự lầm lạc của Phêrô là đã lấy bụng dạ hẹp hòi của lòng người để đo lường tình thương vô biên của Thiên Chúa nơi Ðức Kitô. Với sự tính tóan thiệt hơn của con người, ông không hiểu được tại sao Ðức Kitô lại chọn con đường của đau khổ, của sỉ nhục, của thập giá để thực hiện sứ mạng cứu thế của Người. Chỉ sau khi Chúa Kitô đã chịu đau khổ và chịu chết, đã sống lại và lên trời, rồi sai Thần Khí xuống trên các môn đệ, lúc đó Phêrô và các môn đệ mới cảm nhận được sự cao cả tuyệt vời trong ý định cứu độ nhân loại của Thiên Chúa đã được thực hiện nơi Ðức Kitô. Ðó là điều đã khiến Thánh Phaolô trong bài đọc hai của phụng vụ hôm nay thốt lên: "Ôi! thẳm sâu thay sự giàu có, khôn ngoan, thượng trí của Thiên Chúa! Những phán quyết của Người vô phương dò thấu, đường lối của Người không kế dõi theo!" (Rom 11:33).

Câu hỏi của niềm tin thiết thân "Còn các ngươi, các ngươi nói Ta là ai?" mà Chúa Giêsu đã đặt ra cho các môn đệ năm xưa cũng là câu hỏi Người tiếp tục đặt ra cho mỗi người chúng ta hôm nay, cũng như cho tất cả những ai muốn trở nên những môn đệ đích thực của Người qua mọi thời đại.

Ðể trả lời cho câu hỏi này đòi hỏi nơi chúng ta một sự hiểu biết thật thiết thân về Chúa Giêsu, sự trợ giúp của ơn thánh qua hoạt động của Thần Khí bên trong, và một sự dấn thân sống niềm tin bằng cả cuộc sống của mình. Có thể chúng ta cũng từng lập lại lời tuyên tín của Phêrô năm xưa: "Ngài là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống". Nhưng nếu đó chỉ là một sự lập lại không chứa đựng niềm xác tín của chính bản thân thì chúng ta vẫn chưa trả lời câu hỏi của niềm tin đích thực mà chỉ mới trả lời cho câu hỏi: "Phêrô nói Ta là ai?" hay "Giáo Hội dạy Ta là ai?"

Các thánh có thể làm chứng cho chúng ta về niềm tin vào Chúa Kitô bằng đời sống thánh thiện tuyệt vời của các ngài. Giáo Hội có thể trình bày cho chúng ta sự hiểu biết về Chúa Kitô bằng những lời giảng dạy dựa trên Thánh Kinh, bằng các bí tích và các giáo huấn tốt lành. Cha mẹ có thể đem chúng ta đến nhà thờ để được rửa tội và tham dự các nghi thức phụng vụ hay các lớp giáo lý.

Nhưng không ai có thể tin thay cho chúng ta được.

Chính chúng ta phải đích thân trả lời cho câu hỏi của niềm tin mà Chúa Kitô đã đặt ra cho chúng ta như đã đặt ra cho các môn đệ khi xưa.

Một khi như Phêrô, dưới sự hướng dẫn của Thần Khí, chúng ta tuyên xưng Chúa Giêsu là Ðức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống, chính Chúa Kitô sẽ tỏ cho ta biết rằng Ðức Kitô mà chúng ta tuyên xưng là Con Thiên Chúa Hằng Sống đã thực sự đã bị bách bớ, bị xét xử, bị kết án, bị đánh đòn, bị sỉ nhục, bị vác thánh giá, bị chết treo trên thập tự, đã thực sự sống lại rồi lên trời vinh hiển để ban cho chúng ta niềm hy vọng sẽ được sống đời đời, và một mai sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.

Như vậy, Ðức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống, đối tượng của niềm tin nơi Phêrô và trung tâm của lời rao giảng không ngừng của Hội Thánh Công Giáo qua mọi thời đại, luôn là Ðức Kitô Chịu Ðóng Ðinh Thập Giá và Phục Sinh để thực hiện chương trình cứu chuộc đầy tình thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại và cho mỗi người chúng ta.

Và lời tuyên xưng đức tin của ta vào một Ðức Kitô như thế bao gồm một sự chấp nhận để Chúa Kitô cho chúng ta tham dự vào cuộc thương khó, sự chết và sự sống lại của chính Người qua việc sống yêu thương phục vụ và hy sinh dâng hiến như Người đã sống, vui lòng đón nhận và thánh hóa mọi đau khổ của đời sống nhân thế qua việc liên kết với cuộc thương khó của Chúa Kitô, và luôn vững niềm hy vọng sẽ được tham dự vinh quang phục sinh của Người.

Ðó là tất cả cuộc sống của mỗi tín hữu đích thực của Chúa Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là người đầu tiên được Thiên Chúa qua lời sứ thần mạc khải cho biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa nơi biến cố truyền tin. Mẹ cũng là người được tham dự và chia sẻ trọn vẹn vào mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu khi Mẹ vững niềm cậy tin đứng kề bên thánh giá nhìn Chúa chết treo. Vì thế, Mẹ là người hiểu biết và yêu mến Chúa Giêsu cách hoàn hảo hơn cả. Xin Mẹ cầu cùng Chúa cho chúng con cũng được hiểu biết, cậy tin và yêu mến Chúa Giêsu cách hoàn hảo như Mẹ, qua việc tha thiết sống mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô. Amen.

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật XXII Thường Niên

29-08-1999
Jer 20:7-9; Rom 12:1-2; Mt 16:21-27

 ÐẶC TÍNH MÔN ÐỆ CHÚA KITÔ

"Nếu ai muốn đi sau Ta, thì hãy chối bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá của chính mình và hãy theo Ta"

Trong Tin Mừng của Chúa nhật tuần trước, Chúa Giêsu đã đặt ra cho các môn đệ câu hỏi của niềm tin thiết thân đối với chính Người: "Còn các ngươi, các ngươi nói Ta là ai?" (Mt 16:15). Phêrô đã trả lời và tuyên xưng Người là Ðức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống. Chúa Giêsu đã xác định lời tuyên tín đó của Phêrô qua việc đặt ông làm nền tảng của Hội Thánh. Rồi Người đã tỏ cho các môn đệ biết rõ hơn về việc Người phải đi Yêrusalem, chịu đau khổ, chịu chết và ngày thứ ba sẽ sống lại.

Như thế, câu hỏi của niềm tin dựa trên sự thật về căn tính của Chúa Giêsu đã được trả lời thỏa đáng.

Tin Mừng hôm nay tiếp theo Tin Mừng của Chúa nhật tuần trước với lời tuyên bố của Chúa Giêsu: "Nếu ai muốn đi sau Ta, thì hãy chối bỏ chính mình, hãy vác lấy khổ giá của mình và hãy theo Ta" (Mt 16:21).

Như vậy, nếu Tin Mừng của Chúa nhật tuần trước được coi như tập trung vào việc nhận biết căn tính đích thực của Chúa Giêsu, thì Tin Mừng của Chúa nhật tuần này có thể được coi như tập trung vào đặc tính của môn đệ Chúa Kitô dựa trên ba điều kiện do chính Người đưa ra:

1. Môn đệ Chúa Kitô là người biết chối bỏ chính mình. Chối bỏ chính mình ở đây không chỉ có nghĩa là phải dứt khoát khước từ tất cả những gì là xấu xa tội lỗi nơi mình, nhưng còn là thái độ sẵn sàng khước từ mọi cảm nghĩ, mọi dự án, mọi giá trị, mọi tập quán, mọi ước mơ khát vọng và thành đạt của riêng mình, để không còn nghĩ đến mình, để được tự do như một bình chứa trống rỗng và tinh sạch sẵn sàng đón nhận những gì Chúa đổ vào. Ðó là thái độ khiêm nhường nhìn nhận sự hư vô, yếu đuối, tội lỗi và bất toàn của mình và không còn cậy dựa vào chính mình nữa.

2. Môn đệ Chúa Kitô là người biết vác lấy khổ giá của mình. Môn đệ Chúa sẽ vui lòng đón nhận những bổn phận, những đau khổ, những khó khăn và thử thách trong cuộc đời như khổ giá Chúa Kitô đã ưu ái tặng ban để được thanh luyện và tham dự vào cuộc thương khó của chính Chúa hầu trở nên giống Người. Ðó là thái độ biết ơn nhìn cuộc đời với tất cả mọi buồn vui sướng khổ trong đó như một tặng ân của Thiên Chúa, để sống trong tâm tình tri ân yêu mến đối với Người.

3. Môn đệ Chúa Kitô là người biết theo Chúa luôn. Theo Chúa ở đây là bước đi trong đường lối của Chúa Kitô, là nỗ lực tìm hiểu và thực hiện thánh ý Chúa, là cố gắng tuân giữ các giới răn yêu thương của Chúa, là dấn thân sống theo các đòi hỏi của Tin Mừng, là đặt Chúa Kitô là gương mẫu cho mọi suy nghĩ, cảm xúc, hành động của mình, là chọn Chúa Kitô làm trung tâm và nền tảng của đời mình để Người trở nên tất cả trong mọi sự. Mức độ theo Chúa trọn hảo nhất là sẵn sàng cùng Người tiến lên đồi Calvary để cùng chịu đóng đinh và chịu chết trên thập tự làm một với Người và vì yêu mến Người. Ðó là thái độ tin yêu tuyệt đối nơi Chúa Giêsu Kitô, nhìn nhận Người là Con Thiên Chúa Hằng Sống đáng suy phục và thờ lạy, là Ðấng Cứu Thế duy nhất của mình.

Một khi biết chối bỏ chính mình, vác khổ giá mình và theo Chúa Kitô, người môn đệ đã biến cuộc đời của mình nên giống cuộc đời Chúa Kitô. Ðúng hơn, cuộc đời người môn đệ đã được kết hợp làm một với cuộc đời Chúa Kitô và trở thành một lễ tế sống động dâng tiến Chúa, như lời khuyên của Thánh Phaolô trong Bài đọc hai của Phụng vụ hôm nay: "Vậy hỡi anh em, nhân vì lòng thương xót của Thiên Chúa, tôi khuyên anh em: hãy hiến dâng thân mình anh em làm lễ tế sống, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa. Ðó là sự thờ phượng thiêng liêng của anh em. Ðừng rập theo đời này, trái lại hãy canh tân lương trí, mà biến hình đổi dạng, làm sao anh em thẩm định được ý Thiên Chúa là gì, thật tốt lành, thú vị, trọn hảo" (Rom 12;1-2).

Ðể giúp các môn đệ sẵn sàng đón nhận ba điều kiện trên, Chúa Giêsu đã chỉ cho họ thấy rằng nguyên tắc của Tin Mừng chính là mất để được, trao ban để lãnh nhận, chết đi để sống lại, miễn là thực hiện tất cả vì Người. Người nói: "Vì kẻ muốn cứu lấy sự sống mình thì sẽ mất; còn kẻ nào mất sự sống mình vì Ta thì sẽ tìm được lại" (Mt 16:25).

Hơn nữa, Chúa Giêsu còn dạy các môn đệ phải biết đặt vấn đề và xác định mực thang giá trị cho cuộc sống như chính Người đã đặt ra trong Tin Mừng hôm nay: "Nào có ích gì cho người ta khi được lời lãi cả thế gian, mà lại thiệt mất sự sống mình! Hay người ta sẽ cho gì để chuộc lại sự sống mình?" (Mat 16:26).

Ðây là câu hỏi đã được thánh Ignatiô Loyola đặt ra cho Phanxicô Xaviê, một giáo sư đại học của thành phố Paris hoa lệ. Phanxicô đã suy tư và quyết định từ bỏ mọi sự để theo Chúa và đạt đến sự sống đời đời. Ngài đã nhập Dòng Tên, chịu chức linh mục, đi truyền giáo ở Á Châu và trở thành vị thánh truyền giáo vĩ đại nhất của Hội Thánh sau Thánh Phaolô Tông Ðồ.

Ðây cũng là câu hỏi Thánh Gioan Fisher đã hằng suy niệm và đặt ra cho những người xúi giục ngài chối bỏ sự hiệp thông với Tòa Thánh để a dua theo đám đông quần chúng chấp nhận hôn nhân bất chính của vua Henry VIII của nuớc Anh. Kết quả là ngài đã vui lòng chịu chết để giữ lòng trung thành với đức tin Công Giáo và lãnh nhận triều thiên Nước Trời.

Và đây cũng là câu hỏi mỗi người chúng ta phải suy niệm thường xuyên. Câu trả lời thích đáng nhất bao giờ cũng phải là thái độ quảng tâm dứt khoát từ bỏ mọi sư,ï nhất là những gì làm mất lòng Chúa, và dấn thân thực hiện các đòi hỏi của Chúa Kitô để trở nên những môn đệ đich thực của Người, để tìm được an vui trong cuộc sống hiện tại và đạt đến hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là người môn đệ hoàn hảo nhất của Chúa Kitô. Xin Mẹ dạy con và giúp con biết từ bỏ mọi sự nhất là từ bỏ chính mình con, vác khổ giá mình mỗi ngày và bước theo Chúa Kitô, để cùng chịu đóng đinh và chịu chết làm một cùng Chúa trên thập giá để trở thành môn đệ đích thực của Người.

Back to Top Back to Top


 

 

Chúa Nhật XXIII Thường Niên

05-09-1999
Ez 33:7-9; Rom 13:8-10; Mt 18:15-20

 LÀM NGƯỜI TUẦN CANH

 

"Nếu anh em ngươi trót phạm tội, thì hãy đi sửa lỗi nó..."

Trong hai Chúa nhật trước đây, chúng ta đã cùng các môn đệ nhận biết và tuyên xưng Chúa Giêsu là Ðức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống, Ðấng phải chịu đau khổ, chịu chết và sống lại để cứu chuộc thế gian. Vì vậy, muốn trở thành môn đệ của Người và được nên giống Người, chúng ta phải biết chối bỏ chính mình, vác thập giá mình và bước theo Người.

Và có lẽ một lúc nào đó chúng ta tự hỏi: Tại sao Chúa Giêsu phải "chịu nhiều đau khổ do hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục, và bị giết đi" (Mt 16:21) để rồi các môn đệ đích thực của Người cũng phải chịu chung số phận hẩm hiu như thế?

Câu trả lời chúng ta thường được nghe là: Vì Người muốn chứng tỏ tình yêu vô biên của Người dành cho chúng ta và để đền bù tội lỗi cho chúng ta.

Nhưng trong bình diện tự nhiên, lý do dẫn đến cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Kitô chính là việc Người đã khiển trách sự cứng lòng tin và lối sống giả hình của những người biệt phái và luật sĩ Do Thái, những bậc thày dạy trong dân thời ấy, cốt để họ nhận biết lỗi lầm và cải đổi đời sống. Nhưng vì tự ái, kiêu ngạo và cố chấp, những người này đã bất mãn và căm thù Chúa Giêsu nên đã tìm mọi cách để giết Người.

Chúa Giêsu đã biết rõ điều ấy nhưng Người vẫn không ngại lên tiếng cảnh tỉnh họ và sẵn sàng chấp nhận mọi hậu quả. Khi làm thế, Chúa Giêsu đã thực hiện sứ mạng ngôn sứ của Người như các ngôn sứ thời trước đã từng thực hiện. Ðó là làm bổn phận của một người tuần canh, lên tiếng báo động cho mọi người nhận biết tội lỗi của họ để thống hối ăn ăn và cải thiện đời sống hầu thoát khỏi án phạt đời đời và được ơn cứu rỗi. Ðây là điều Thiên Chúa đã phán với ngôn sứ Êzêkiel trong Bài đọc một của Phụng vụ hôm nay:

"Chính ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm tuần canh trên Nhà Israel, hễ ngươi nghe lời nào từ miệng Ta, ngươi phải cảnh giác chúng cho Ta. Giả như Ta phán với kẻ vô đạo: ‘Quân vô đạo, đã hẳn ngươi sẽ phải chết’, mà ngươi lại không nói lên để cảnh giác kẻ vô đạo để nó bỏ đường nó theo, nó, kẻ vô đạo, sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi. Còn giả như ngươi đã cảnh giác kẻ vô đạo để nó bỏ đường nó theo, song nó không chịu bỏ đường nó theo mà trở lại, nó sẽ chết vì tội của nó, còn ngươi sẽ được thoát mạng" (Ez 33:7-9).

Như vậy, việc lên tiếng vạch ra tội lỗi của người khác để sửa lỗi cho họ chính là một trong những việc căn bản của tình yêu cứu thế. Vì thế, Chúa Giêsu đã truyền dạy các môn đệ phải thực hiện điều ấy trong Tin Mừng hôm nay: "Nếu anh em ngươi trót phạm tội, thì hãy đi sửa lỗi nó..." (Mt 18:15).

Hơn nữa, Chúa Giêsu còn dạy các môn đệ phải sửa lỗi cho nhau thế nào cho phù hợp với đức yêu thương. Người nói: "Nếu anh em ngươi trót phạm tội, thì hãy đi sửa lỗi nó, riêng ngươi và nó thôi. Nếu nó nghe ngươi, ngươi đã lợi được anh em ngươi. Nếu nó không nghe, hãy kèm theo ngươi một, hai người nữa, để tất cả công việc được đoán định do miệng hai, ba nhân chứng. Nếu nó không màng nghe họ, hãy thưa với cộng đoàn. Còn nếu cộng đoàn, nó cũng chẳng màng nghe, ngươi hãy kể nó như người ngoại, người thu thuế" (Mt18:15-17).

Ðiều cần lưu ý ở đây là khi nói "hãy kể nó như người ngoại, người thu thuế", Chúa Giêsu không có ý bảo chúng ta chấm dứt yêu thương những người tín hữu cố chấp trong tội. Nhưng người muốn chúng ta nhận biết rằng tình trạng của những người ấy là tình trạng không còn được hiệp thông với kho tàng ơn thánh Hội Thánh cũng giống như những người ở ngoài Hội Thánh. Vì vậy, chúng ta lại càng phải có tình yêu lớn lao hơn và quan tâm hơn đến họ, phải gia tăng cầu nguyện và hy sinh với hy vọng có ngày họ sẽ được ơn hối cải.

Ngày nay, việc vạch lỗi để sửa lỗi cho nhau, một chiều kích quan trọng và thiết yếu của đức ái, thường bị bỏ qua trong đời sống gia đình, học đường, cộng đoàn, xã hội và Giáo Hội. Ðó là một trong những lý do chính khiến đời sống luân lý của con người thời nay ngày càng tồi tệ. Ðặc biệt, sự thiếu sót này là một lỗi lầm nghiêm trọng của các bậc cha mẹ, thày dạy, các nhà lãnh đạo trong xã hội và Giáo Hội, và những người có trách nhiệm trong các hoạt động truyền thông, văn hóa và giáo dục.

Trong kinh nguyện của Giáo Hội khi mừng kính các thánh mục tử, Hội Thánh lập lại lời Chúa trong Thánh Kinh: "Ta sẽ đặt lính canh trên tường thành ngươi, Giêsusalem hỡi". Như thế, Giáo Hội muốn dạy rằng một trong những bổn phận chính yếu nhất của một chủ chăn là phải đóng vai trò người tuần canh, phải lên tiếng cảnh tỉnh dân chúng để họ nhận biết tội lỗi của mình và cải đổi đời sống cũng như khỏi sa vào mưu chước của ma quỷ nơi các tà thuyết và lạc giáo.

Khi một chủ chăn chân chính trung thành thực hiện bổn phận làm người tuần canh noi gương Chúa Chiên Lành, chắc chắn họ sẽ phải chia sẻ cùng một số phận với Người. Họ sẽ bị tẩy chay, chê trách, xuyên tạc, ghét bỏ và có khi bị giết.

Vì lên tiếng phản đối hôn nhân bất chính của Vua Henry VIII, Thánh Giám mục Gioan Fisher đã bị mất đầu.

Vì lên tiếng khẳng định thẩm quyền của Giáo Hội trong việc giảng dạy luân lý hôn nhân và tuyên bố việc ngừa thai nhân tạo là vô luân tự bản chất trong thông điệp Humae Vitae, Ðức Thánh Cha Phaolô VI đã bị những nhà thần học lầm lạc như Bernard Haring, Charles Curran, Richard McBrien... lên tiếng phản đối cho rằng Ðức Giáo Hoàng không biết thông cảm và thích ứng với các nhu cầu của con người thời đại, không biết tôn trọng lương tâm của mỗi người.

Vì không mỏi mệt trong việc lên tiếng bênh vực phẩm giá và sự sống của con người và trình bày toàn bộ các giáo huấn tốt lành chân thực của Hội Thánh, nhất là các giáo huấn về luân lý tính dục, nơi Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã bị một số người cho là không có tầm nhìn sâu rộng và là người bảo thủ vì được đào tạo theo kiểu xưa.

Nhưng tất cả những cố gắng của các chủ chăn tốt lành và những ngôn sứ đích thực của Tin Mừng Chúa Kitô khi vạch trần các tội lỗi của con người đương thời với hy vọng cảnh tỉnh họ và sửa lỗi cho họ, đều phát xuất từ tình yêu cứu thế, một tình yêu dám chấp nhận thù ghét, khước từ, phản đối, bách hại, xuyên tạc, khổ đau, nhục nhã và cả cái chết để cứu rỗi người khác.

Ðây chính là điều mà chúng ta thường cảm thấy ngại ngùng và dễ tìm cách tránh né.

Phải chăng bổn phận sửa lỗi cho nhau và làm tuần canh cho nhau chính là món nợ yêu thương mà ngày nay chúng ta phải trả cho nhau, như lời Thánh Phaolô trong bài đọc hai của phụng vụ hôm nay (Rom 13:8-10)?

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Nữ Vương Các Thánh Tông Ðồ và Các Thánh Ngôn Sứ. Xin Mẹ cầu nguyện cùng Chúa Giêsu là Chúa Chiên Lành cho chúng con được thêm can đảm, khôn ngoan và bác ái, để biết noi gương Chúa làm tuần canh thực hiện việc xây dựng và sửa lỗi cho nhau hầu cùng nhau đạt đến ơn cứu độ. Amen.

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật XXIV Thường Niên

12-09-1999
Sir 27:30-28:7; Rom 14:7-9; Mt 18:21-35

PHẢI THỨ THA LUÔN

 

"Ta không nói: đến bảy lần, mà: đến bảy mươi lần bảy lần"

Trong Tin Mừng Chúa Nhật tuần trước, chúng ta đã học biết từ chính đời sống và lời giảng dạy của Chúa Giêsu là việc sửa lỗi cho nhau chính là một hành động không thể bỏ qua của tình yêu chân thực dành cho người khác.

Nhưng sau bao nỗ lực sửa dạy người khác, họ vẫn sa đi ngã lại cùng một lỗi lầm ấy, chúng ta sẽ phải làm gì? Ðó chính là câu hỏi Phêrô đặt ra cho Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay: "Thưa Ngài, nếu anh em tôi có lỗi với tôi, tôi phải tha mấy lần? đến bảy lần không?" (Mt 18:21).

Chúa Giêsu đã trả lời: "Ta không nói: đến bảy lần, mà: đến bảy mươi lần bảy lần" (Mt 18:22).

Con số bảy trong ngôn ngữ Thánh Kinh tượng trưng cho sự hoàn hảo và trọn vẹn. Và khi dùng cách nói "bảy mươi lần bảy lần", Chúa Giêsu đã nhấn mạnh đến mức tối đa sự cần thiết của việc chúng ta, các môn đệ của Người, phải tha thứ luôn cho những người có lỗi với chúng ta.

Như cho rằng nói thế chưa đủ để các môn đệ nhận biết và ghi nhớ tầm quan trọng của việc phải luôn tha thứ lỗi lầm cho nhau, Chúa Giêsu còn đưa ra dụ ngôn về người bầy tôi bị nhà vua bắt lại tra vấn và trao cho lý hình trừng phạt cho đến khi trả hết nợ, chỉ vì người ấy không biết tha thứ cho bạn đồng liêu món nợ một trăm đồng, một món nợ quá nhỏ nhặt so với món nợ khổng lồ của một vạn nén vàng mà chính người bày tôi không biết thứ tha kia đã được nhà vua tha thứ trước đó. Rồi Chúa Giêsu kết luận: "Cũng vậy Cha Ta, Ðấng ngự trên trời, sẽ xử với các ngươi, nếu mỗi người các ngươi không thật lòng tha thứ cho anh em mình" (Mt 18:35).

Như vậy, Chúa Giêsu muốn coi việc tha thứ lỗi lầm cho nhau trước hết là hoa trái phải được trổ sinh nơi chúng ta, những con người đã được Thiên Chúa tha thứ tội lỗi. Vì khi suy đến món nợ vô cùng của chúng ta đối với Thiên Chúa do những thiếu sót và tội lỗi của chúng ta đối với Người, những lỗi lầm hay sơ xuất của người khác đối với ta chẳng đáng kể chút nào.

Kế đến, Chúa Giêsu muốn chúng ta nhận biết rằng việc chúng ta phải luôn tha thứ lỗi lầm cho tha nhân chính là điều kiện cần thiết để chúng ta có thể lãnh nhận sự tha thứ vô cùng của Thiên Chúa. Nhưng đó không phải là điều kiện buộc Chúa tha thứ tội lỗi cho chúng ta, bởi lẽ chúng ta không đáng được Chúa tha thứ. Người tha thứ cho chúng ta chỉ vì lòng thương xót vô biên của Người.

Trên thực tế, với bản tính yếu đuối của con người đã bị thương tích bởi tội tổ tông và các tội riêng ta đã phạm trong quá khứ, chúng ta luôn có những thiếu sót lỗi lầm trong tương quan yêu thương với Chúa. Chúng ta luôn là những tội nhân trước mặt Chúa. Chúng ta luôn cần đến lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa. Và Thiên Chúa luôn là Cha Giàu Lòng Thương Xót đối với chúng ta. Lòng thương xót tha thứ của Người như một mạch suối hằng tuôn đổ dạt dào trên chúng ta. Khi chúng ta tha thứ cho tha nhân là lúc chúng ta mở rộng tâm hồn của chính mình để được mạch suối của lòng thương xót Chúa tuôn trào vào lòng ta và thanh tẩy mọi vết nhơ tội lỗi nơi ta. Khi ta cố chấp không chịu tha thứ lỗi lầm cho tha nhân, ta đã tự đóng tâm hồn mình lại không để mạch suối của lòng thương xót Chúa đổ vào lòng ta và tự mình khước từ ơn Chúa thứ tha.

Ðó là lý do Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tha thứ luôn cho những người có lỗi với chúng ta. Ðó cũng là lý do Chúa dạy chúng ta cầu nguyện trong Kinh Lạy Cha "Xin tha tội nợ chúng tôi, như chúng tôi cũng tha khách nợ" (Mt 6:12). Và đó cũng chính là lý do Thánh Phanxicô Assisi trong Kinh Hòa Bình đã xin Chúa dạy cho biết "chính lúc tha thứ là lúc được thứ tha".

Việc phải tha thứ luôn cho những người lỗi phạm đến mình để có thể lãnh nhận ơn Chúa thứ tha cũng đã được ghi nhận trong Cựu Ước nơi sách Ðức Huấn Ca trong phụng vụ hôm nay như sau:

Oán hận, giận hờn, thảy là quái gở,
kẻ có tội, chủ nhân các điều ấy.
Kẻ báo thù sẽ gặp báo trả nơi Chúa,
các tội lỗi nó, Người sẽ cầm giữ không tha.
Hãy trút cả đi, mọi điều con có trong lòng, đoạn con hãy cầu xin.

Như vậy mọi lỗi lầm của con sẽ được buông tha

(Sir 27:30-28:2).

Chúa Giêsu chính là Hiện Thân Của Lòng Thương Xót của Thiên Chúa và là chính Ơn Cứu Ðộ và Tha Thứ của Thiên Chúa tặng ban cho nhân loại. Vì vậy, Người đã không ngừng giảng dạy về lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa, dạy các môn đệ phải có lòng thương xót và tha thứ noi gương Chúa Cha là Ðấng Giàu Lòng Thương Xót. Chính Người đã tha thứ cho những người tội lỗi đến cùng Người như người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Bài học yêu thương tha thứ đã được Người ghi vào lòng ta, buộc ta phải ghi nhớ và thực hành, bằng chính dòng máu cứu độ Người, khi Người cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đã giết Người lúc hấp hối trên thánh giá: "Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm" (Lc 23:34).

Như vậy, khước từ việc phải tha thứ luôn cho tha nhân chính là khước từ bài học yêu thương và chúc thư đẫm máu của Chúa Kitô, là khước từ chính Chúa Kitô, là khước từ chính ơn cứu độ và tha thứ của Thiên Chúa ban cho chúng ta nơi Người. Ðó là quyết định tự giam mình trong hỏa ngục của hận thù ghen ghét.

Ðiều này đã được minh họa thật tỏ tường trong câu truyện sau mà người viết luôn ghi nhớ và muốn nhắc lại mỗi khi nói đến chủ đề tha thứ.

Mùa thu 1992, tôi có dịp thăm một cụ già người Tin Lành phái Baptist ở một viện dưỡng lão tại Connecticut. Cụ mang nỗi bực dọc căm hờn với người vợ đã ly dị với cụ từ nhiều năm trước. Cụ nói rằng sẽ không bao giờ tha thứ cho người vợ khốn nạn ấy và không bao giờ muốn gặp lại bà. Sau khi lắng nghe và khuyên giải cụ nên noi gương Chúa Kitô trong Phúc Âm mà tha thứ cho bà cụ để được bình an trong tâm hồn và chuẩn bị về đời sau với Chúa, tôi thấy cụ vẫn không thay đổi. Tôi liền hỏi cụ: "Giả sử bây giờ bà cụ đang hấp hối muốn gặp cụ để xin lỗi và làm hòa, cụ có chịu đến gặp bà không?" Ông cụ đáp: "Không." Tôi liền hỏi thêm: "Nhưng giả sử bà cụ mất trước ông và lên thiên đàng. Sau đó ông cũng qua đời và lên thiên đàng. Lúc ấy, gặp bà cụ ở sẵn trên ấy thì ông tính sao?" Ông cụ trả lời thật gọn: "Tôi sẽ bước ra!"

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Suối Nguồn Thương Xót và Tha Thứ vì đã cưu mang và dưỡng nuôi chính Chúa Giêsu là Hiện Thân của Lòng Thương Xót và Tha Thứ của Thiên Chúa. Xin Mẹ cầu cùng Chúa ban cho chúng con nhận biết và ghi nhớ rằng chúng con luôn cần đến lòng thương xót và tha thứ của Chúa biết chừng nào, để chúng con biết luôn thương xót và sẵn lòng tha thứ cho những ai xúc phạm đến mình hầu được lãnh nhận dồi dào lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa hằng ban tặng cho chúng con nơi Chúa Giêsu, Con Mẹ. Amen.

  Back to Top Back to Top


   Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com