GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BƯỚC VÀO NĂM 2000

Lm. Hồng Phúc (+)

PHẦN III. CÁC VẤN ÐỀ SÔI BỎNG

Bài 17: Vấn Ðề Ðức Tin

1. Làm Sao Biết Mình Có Ðức Tin?

Thật là khó để trả lời những câu hỏi nhân sinh. Tôi sinh ra để làm gì? Tôi có đức tin không? Mỗi người có thể tìm ra một cách trả lời nào đó. Con người, vào một lúc nào trong đời, có thể trả lời cách rõ rệt . nhưng cũng có người chỉ biết tự hỏi hoăc trả lời cách mông lung .

Sự nhận thức ấy cho ta hai cảm nghĩ sau đây:

Tin ở Thiên Chúa không ở trên một bình diện như nhìn thấy màu sắc sao trời hay đặt một công lệ khoa học. Không ai có thể tin ở Thiên Chúa như một Ðấng xa xôi; tin ở Thiên Chúa là tin rằng Ngài là căn bản sự sống, tin rằng đời có một ý nghĩa và con người có trách nhiệm với ý nghĩa đó.

Tin ở Thiên Chúa là tin Ngài hằng hữu. Và đối với người Kitô hữu là tin rằng Thiên Chúa đã phán truyền, đã cất tiếng nói. Có người cho đó khó hiểu. Nhưng đối với ngưới có đức tin, Thiên Chúa đã nói qua vũ trụ, qua những dữ kiện cá nhân hay tập thể, qua sự sống, sự tốt đẹp của thế giới. Ðó là điều mà chúng ta gọi là Thánh Kinh trong Giáo Hội.

Dựa trên hai nhận thức ấy, chúng ta có thể nói Tin là một cuộc đối thoại đặc biệt và thật sự giữa Thiên Chúa và loài người. Ðặc biệt vì cuộc đối thoại đó là cuộc đối thoại giữa hai người bạn hữu, giữa Ngài và chúng ta, kẻ nhờ Ngài mà có.

Làm sao biết chắc: chúng ta có Ðức Tin? Không thể trả lời chung cho mọi người đặt câu hỏi. Nhưng chúng ta có thể quả quyết rằng người tín hữu có Ðức Tin là người đi tìm, đón nhận, lắng nghe Ðấng là Thiên Chúa, là Ðức Giêsu, Người chỉ đường cho chúng ta. Thiên Chúa thương yêu, giao hảo, nói với chúng ta qua Ðức Tin. Ðó là điều then chốt. Cảm nghiệm rõ rệt hay trong đêm tối không phải là việc chủ yếu.

 

2. Ðức Tin Có Thay Ðổi Gì Không?

Có người nói: Tin ở Thiên Chúa hay không, việc đó không can hệ lắm khi mà người ta "tranh đấu" cho con người. Ðại loại có nhiều người phát biểu như vậy, ngụ ý rằng Ðức Tin là vấn đề cá nhân không liên hệ gì trong hoạt động đời sống.

Tân Ước nói chung và Thánh Phaolô nói riêng hoàn toàn phủ nhận quan niệm ấy. Người biết Thiên Chúa khác biệt hẳn với người không nhận biết Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói với giáo dân: "Hãy dùng thể xác cách tôn trọng và thánh thiện, đừng để cho dục tính lấn át như những dân ngoại không biết Thiên Chúa" (1 Th 4:5).

Ðối với Phaolô, không nhận biết Thiên Chúa là không nhận biết con người và đi đến chỗ khinh miệt con người. Nhìn nhận Thiên Chúa là dấn thân vào một lối sống mới trong xã hội.

Trong lịch sử Dothái từ đầu, Môisê nhận ra thánh danh Thiên Chúa (Xh 3) và dấn thân phục vụ dân người . đặt cho một hướng đi lịch sử mới.

Giáo Hội cũng có cùng một quan niệm và một hướng đi.

Người giáo dân không phải ai cũng đáp lại hay đáp lại một cách hờ hững ơn gọi của mình. Nhất là ngày nay, nhiều người không muốn cho mình hơn người khác hay tỏ niềm tin của mình mình ra, cho rằng sự ấy không đem lại lợi ích gì! Ðó là thái độ của những người không sống Ðức Tin. Ðức Tin là một cuộc gặp gỡ Chúa. Và Chúa không để yên đâu! Người sống đức tin sẽ cảm nghiệm rằng Chúa đòi hỏi họ đi đến một nơi họ không nghĩ tới. Ðức Tin luôn luôn đổi mới và hoạt động.

Sự đổi mới của Ðức Tin là ban cho chúng ta một niềm vui. Phúc Âm là một Tin Mừng. (Lc 2:10). Phaolô mời gọi tín hữu hằng ở trong sự vui mừng (1 Th 5:16).

Tin mừng Phúc Âm cũng là một mời gọi nhập cuộc trong một cộng đồng là Giáo hội trong đó mọi người đón nhận Lời Chúa, lời yêu thương, hợp với Mình Chúa, để thương giúp nhau tranh cảnh cô đơn buồn tủi.

 

3. Các Công Ðồng Dạy Về Ðức Tin Như Thế Nào?

Vào thế kỷ XVI, Giáo Hội phải chống lại các mệnh để của Cải cách Thệ phản, cũng như vào thế kỷ XVIII và XIX, phải đối phó với Phong trào Duy lý hoặc Vô lý tính.

Công đồng Triđentinô (1545-1563) tuyên bố Ðức Tin là ơn sủng căn bản thật sự của phần rỗi, của sự công chính hoá chúng ta trước Thiên Chúa. trong khi người thệ phản cho rằng đức tin chỉ là một sự trông cậy nơi ơn tha thứ của Thiên Chúa. Công đồng tuyên bố sự công chính hoá không thể hiện mà không có một sự đáp ứng bằng tình yêu thật sự nơi ta: Ðức Tin không có việc làm là đức tin chết. Cũng để chống lại lý thuyết thệ phản, Công đồng tuyên bố việc công chính hoá nhờ Ðức Tin cũng đòi hỏi sự cần thiết của các Bí tích, cách riêng Bí tích Rửa tội, vì do các Bí tích mà sự sống mới phát triển nơi ta.

Sau đó, khi phải chống lại luận điệu cho rằng đức tin chỉ là sự chấp nhận của lý trí không cần ơn thánh hoặc trái lại đức tin không cần lý trí (Chủ nghĩa Duy tín, Cổ điển), Công đồng Vatican I (1869-1870) định nghĩa hành động đức tin vừa là một hành động của lý trí và ý chí.

Công đồng Vatican II nhấn mạnh rằng hành động đức tin không chỉ là tác động riêng tư thôi mà phải là tác động chia sẻ của Cộng đồng Dân Chúa là Giáo Hội, do Chúa Kitô lập nên. Một tác động hỗ tương với chiều kích nhân loại, trong đó, Dân Chúa là "men dậy lên rất mạnh của sự hiệp nhất, hy vọng và cứu rỗi" (Lumen gentium số 9). Ðức Tin là một sự nối kết cá nhân với Thiên Chúa, đồng thời có chiều kích hoàn vũ.

 

4. Ðức Tin Trong Cựu Ước.

Trong Cựu Ước, có hai danh từ Hêbrơ diễn tả niềm tin: Aman gợi ý sự bền vững và chắc chắn vì thế có từ Amen nghĩa là chúng tôi tuyên xưng như vậy; batah gợi ý sự trông cậy, yên tâm.

Khi nói về Ðức Tin, người Hêbrơ hay nghĩ đến đức tin của Tổ phụ Abraham, người có đức tin, người cha của kẻ tin, người có liên hệ cá nhân với Thiên Chúa, tin tưởng vào lời của Thiên Chúa. Ðược mời gọi, Abraham tin rằng lời Chúa sẽ thực hiện, sẽ ban cho ông một phần đất, một miêu duệ đông đúc. Ông tin tuởng chắc chắn bỏ tất cả để đi theo một lời hứa còn xa vời.

Lời kêu gọi của Abraham mở màn cho cuộc giao hảo giữa Ðức Giavê và Dân Ngài. Tuy rằng, tường thuật về sự tạo dựng còn nhắc đến một cuộc tương giao có từ ban đầu giữa Thiên Chúa và nhân loại. Chẳng may, mối giao hảo ấy bị tội lỗi làm tan vỡ. nhưng dẫu sao vẫn còn một sự hoài vọng.

Rồi đến cuộc Giao ước Israen, trên núi Sinai, Israen trở nên dân Chúa. đó là căn bản niềm tin của đạo Dothái. Lời của Giavê được thể hiện trong lề luật, được các tiên tri nhắc nhở tới. Dân Chúa vâng theo, đáp lại mối tin tưởng hay lại từ bỏ và đi vào bóng tối. Ðó là lịch sử Israen trải dài trên 4000 năm.

 

5. Ðức Tin Và Sự Xác Thực.

Người tín hữu quả quyết sống đức tin của mình cách mạnh mẽ, đến độ có thể thí mạng sống hơn là chối bỏ đức tin. Các vị tử đạo đã có can đảm làm việc ấy. Ðức Tin là một sự xác thực.

Xác thực làm sao? Ðâu là căn bản?

Bản chất Ðức Tin là chấp nhận lời của Thiên Chúa mạc khải, qua Dân chúa và Giáo Hội. Như vậy, khi Thiên Chúa nói với chúng ta và chúng ta tin thì niềm tin dựa vào một căn bản thật vững chắc.

Phải nhận thức rằng ngoài sự xác thực do khoa học, còn những sự xác thực khác gắn liền với đời sống con người, trên một bình diện khác, cũng quan trọng không kém.

Sự xác thực của Ðức Tin không dựa trên sự hiển nhiên.

Là hiển nhiên thì ta chứng minh được một bài toán học. Nhưng Ðức Tin ở trên một bình diện khác, là sự hiểu biết của một nguời đối với người khác. Một người đàn ông gặp một người đàn bà trong mối tình chân thật, hiểu biết nhau bằng những hành động cử chỉ không cần phải chứng minh. Sự hiểu biết ấy làm nên cuộc đời, những lý do sinh sống và hoạt động. Người này hiểu biết người kia hoặc cho người kia không phải vậy. Hiểu biết và chấp nhận nhau trong cả sự khác biệt.

Tuy nhiên, sự xác định của Ðức Tin không phải là trong phạm vi tình cảm.

Có người cho rằng Ðức Tin là kết quả của một xúc cảm, một cảm nghiệm nội tâm, có hay không có, không chia sẻ và duy nhất.

Giáo Hội luôn phủ nhận chủ nghĩa duy tín cho rằng chỉ có đức tin không cậy nhờ vào lý tính. Ðức Tin phát xuất từ một sự gặp gỡ, đối tượng ấy tỏ ra bằng những dấu chỉ khách quan mà mọi người có thể thấy và xác định. Nhưng còn phải muốn gặp gỡ. Ðức Tin không thể có, nếu không thực sự muốn gặp gỡ Ðấng muốn giao hữu với chúng ta.

Ðức Tin cũng không phải là sự cuồng tín. Người có Ðức Tin không có tham vọng bắt buộc mọi người phải theo mình bằng mọi giá, kể cả việc dùng đến áp lực hay bạo lực trên tinh thần hay thể xác người khác.

Người có Ðức Tin chân thật cảm thấy hạnh phúc vì được gặp gỡ Ðấng mời gọi họ đến "một cuộc sống mới". Họ đáp lại cách tự do chân thật và riêng tư. Họ mong ước cho mọi người cũng đón nhận ánh sáng soi rọi cuộc đời. và vì thế, họ khẩn khoản xin được quyền phổ cập cho mọi người biết đường đưa đến cuộc gặp gỡ ấy. Không phải vì mình tự cho là cao siêu hơn mọi người khác. Nhưng vì cuộc gặp gỡ ấy sẽ mở đường cho một cuộc sống mới: Gặp gỡ Ðấng đã tuyên bố, "Ta là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống".

 

6. Ðức Tin Không Ðứng Nguyên Một Chỗ.

Nhà thần học Henri de Lubac, giải thích tư tưởng của Thánh Augustinô về Ðức Tin, có viết:

"Tin ở Thiên Chúa là một tác động khởi đầu bằng sự trở lại. Bí tích Rửa tội là Sacramentum conversionis et fidei - bí tích trở lại và đức tin, nhưng tác động trở lại ấy mới chỉ là bước đầu. Do đó, một động lực mới nhóm lên; một cuộc hành trình mới mở đầu và phải chuyển tiếp. Người tín hữu không đứng nguyên một chỗ lúc khởi đầu, không chỉ cố đừng thối lui, không chối bỏ đức tin khi lãnh bí tích Rửa tội, mà phải đi lên, tiến tới."

Ðó là điều mà Augustinô diễn tả qua bốn động từ sau đây:

"Tin vào Thiên Chúa
Là hướng về Ngài
Là đi đến cùng Ngài
Là mỗi ngày tiến lên trên đường dẫn đến Ngài
Và sau cùng thừa hưởng Ngài"

Henri de Lubac - La Foi Chrétienne- Aubier

 

7. Ðức Tin Và Ngờ Vực.

Nghi ngờ là một trạng thái mà mọi tín hữu có thể gặp trong đời mình. Có thể, một lúc nào đó, họ nói lên lời Chúa Kitô trên thập giá: "Lạy Chúa tôi, Lạy Chúa tôi, sao Chúa bỏ tôi?" (Mc 15:34).

Tín nhiệm vào Chúa, hoàn toàn phó thác và qua Ngài tin cậy vào Cha Ngài, không phải là loại bỏ mọi ngờ vực, giải quyết được mọi vấn đề, trở nên một bàn thạch. Nhưng là dấn thân vào một cuộc mạo hiểm Tình yêu, là đặt cả cuộc đời vào lời của Thiên Chúa, là tuyên bố rằng mọi người đều có thể yêu và sự sống mạnh hơn sự chết.

Sự ngờ vực có thể đưa đến trạng thái hoài nghi, nhưng cũng có thể là một năng động để đào sâu Ðức tin. Nhiều vị thánh và nhà chiêm nghiệm đã trải qua cơn thử thách ấy để trở nên mạnh mẽ và đi sâu vào tình yêu Thiên Chúa.

 

8. Ðức Tin Phải Ðược Bảo Vệ.

Do Tông thư Ad tuendam fidem ("Ðể Gìn Giữ Ðức Tin") ra ngày 18 tháng 5 năm 1998, Ðức Gioan Phaolô II đã quyết định thêm vào những qui tắc trong Bộ Giáo Luật Công Giáo Lamã và Bộ Giáo Luật các Giáo Hội Công Giáo Ðông phương. Ðoạn đầu và đoạn kết tông thư quan trọng ấy như sau:

"Ðể bảo vệ đức tin của Giáo Hội Công Giáo chống lại những sai lầm phát biểu do một số giáo hữu, nhất là bởi những người chuyền về thần học. Tôi thiết nghĩ tôi có phận sự đầu tiên là "củng cố anh em tôi trong đức tin." (Lc 22:32) và cần phải bổ khuyết các bản văn đang áp dụng của Bộ Giáo Luật Công Giáo Lamã và Bộ Giáo Luật của các Giáo Hội Công Giáo Ðông phương, bởi những qui tắc cần thiết nói rõ về bổn phận phải chấp nhận các chân lý do Huấn quyền của Giáo hội dạy một cách chung quyết, cũng nói đến cá hình phạt theo Giáo luật về vấn đề .

"...Vì thế, thúc đẩy do sự cần thiết như tôi nói trên, tôi quyết định bổ sung sự thiếu sót về pháp chế hoàn vũ như sau:

A. Ðiều khoản 750 của bộ Giáo luật [Giáo Hội Công Giáo Lamã] từ đây sẽ có hai tiết mục; tiết mục thứ nhất gồm văn bản của Ðiều khoản hiện hành, nay điều khoản kia có môt văn bản mới; văn bản trọn vẹn điều khoản 750 sẽ như sau:

Ðiều khoản 750

1. Phải tin nhận với Ðức Tin thần linh và Công Giáo hết tất cả những gì hàm chứa trong Lời Chúa được ghi chép hay truyền tụng lại, nghĩa là trong kho tàng Ðức Tin đã được ký thác cho Giáo Hội; và đồng thời được công bố là đã được Chúa mạc khải do quyền Giáo huấn trang trọng, hay quyền giáo huấn thông thường và phổ cập cuả Giáo hội được biểu lộ qua sự đồng thanh chấp nhận của các tín hữu dưới sự hướng dẫn của quyền giáo huấn. Bởi vậy, mọi người phải xa tránh những giáo thuyết nào trái ngược với những điều phải tin.

2. Cũng phải chấp nhận mạnh mẽ và cho mình, mọi điểm và mỗi điểm riêng, về giáo lý đức tin và luân lý mà quyền giáo huấn của Giáo hội đã đề xướng như xác định, nghĩa là cần thiết để bảo tồn cách thánh thiện và trình bày cách trung thực với kho tàng đức tin; ai chối bỏ những điểm phải được coi là xác định ấy thì cũng được coi là kẻ chống đối lại giáo lý của Giáo hội Công giáo.

Trong điều khoản 1371, số 1 của Bộ Giáo Luật, phải thêm một tham chiếu với điều khoản 750 @2. Bản văn của điều khoản 1371 ấy sẽ như sau: Ðiều khoản 1371: Sẽ bị phạt xứng đáng:

1. Kẻ nào, ngoại trừ trường hợp nói đến ở điều khoản 1364 @1, dạy một giáo lý do Giáo Hoàng Lamã hoặc Công đồng chung kết án, hay chối bỏ một cách cố chấp một giáo lý nói ở diều khoản 750 @2 hay ở điều khoản 752, và sau khi đã nhận một cảnh cáo của Toà Thánh hay của Giáo quyền Giám mục mà không đính chính lại;

2. Hoặc, một cách khác, không vâng phục Toà thánh, hay Giáo mục hay Bề trên, khi họ theo pháp lý truyền lệnh hay ra một biện hộ và người ấy sau khi đã bị cảnh cáo, cứ tiếp tục không vâng phục.

 Làm tại Lamã, gần Toà Thánh Phêrô, ngày 18.5.1998, năm 20 của giáo triều của Ta.

Gioan Phaolô II  -   (Trích 30 Jours số 8.8.1998)

 

Bài 18: Bình Ðẳng Giữa Ðàn Ông & Phụ Nữ.
Người Phụ Nữ Với Chức Linh Mục

Nhìn lại lịch sử các đạo giáo cổ xưa nhất là ở Ðông phương, địa vị người đàn bà xem ra không kém gì người đàn ông. Việc tôn thờ các vị thần Sémites nhất là tôn thờ thần sinh sản thường phân loại các thần thánh từng đôi, thần nữ trọng hơn thần nam. Ví dụ, "hòn đá trắng" là thần sinh sản nguyên thủy, "hòn đá đen" chỉ là con. Tục lệ loạn dâm trong các đền thờ được coi là thánh thiêng, do đàn bà chỉ huy, gọi là Kalin, thượng tế trong đạo cổ.

Vào thời ấy, người ta lẫn lộn tôn giáo và chính trị. Nhiều tôn giáo ngoại lai được nhập địa do các bà vợ nhà vua. Maaka, bà vợ của vua Asa, vua Giuđa, đã đưa việc tôn thờ thần Ashena-Astarté vào xứ Giuđêa (1 V 15:13); bà hoàng hậu Jezabel và Athalie đã nhập cảng các vị thần xứ Phênêcia (1 V 18:1-21:6; 2 V 3:30-37; 2 Ks 23).

Quan niệm Cựu Ước như thế nào?

Cũng như các tác giả Ðông phương cổ, các tác giả Cựu Ước xem ra thận trọng khi đề cập đến đàn bà. Hai lý do: Một là sợ nhắc đến việc tôn thờ sự sinh sản rất thịnh hành ở các nước láng giềng. Như có luật cấm chiến sĩ không được giao hợp với vợ trong thời chinh chiến, bất tuân mắc phải sự ô uế theo lề luật; việc chiến thắng phải được coi là do Thiên Chúa ban, chứ không phải do thần sinh sản nào khác (1 Sam 21:5; 2 Sam 11:11).

Lý do thứ hai là việc ngờ vực đối với các người đẹp ngoại bang mà các vua hay lấy làm vợ. Họ dựa thế để đem đạo ngoại lai vào.

Nhưng theo Cựu Ước, việc người đàn ông làm, đối với đàn bà, không phải là cấm kỵ. Họ cũng dâng của lễ (Thp 13:20), là ca viên (Ezr 2:65), là tiên tri (Xh 15:20; 12:2), là quan án hay thủ lãnh dân, cả khi người chồng còn sống (Thp 4:4), cố vấn thầy cả thượng phẩm (2 V 22:14).

Trong Cựu Ước có nhiều bà vị vọng, như bà vợ các tổ phụ hay những bà như Giuđích, Este, Rút...

Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng việc xem thường đàn bà càng ngày càng sâu đậm. Vào thời Chúa Giêsu, trong dân chúng, đàn ôâng đã có câu hát: "Xin cám đội ơn Chúa, vì Ngài cho tôi sinh ra không phải là người ngoại bang, không phải là đàn bà, không phải là người ngu dốt!"

Sách Phúc Âm và Công Vụ Tông Ðồ nói như thế nào?

Phúc Âm Luca và Gioan dành cho các bà một chỗ quan trọng.

Hai chương đầu của Luca đề cập đến hai khuôn mặt phụ nữ lớn là Êlisabét, mẹ của Gioan Tiền Hô, và Maria là Mẹ Chúa Giêsu. Ngoài ra, Luca còn nhắc đến nữ tiên tri Ana.

Nếu trong Nhóm 12 môn đệ chỉ có đàn ông thì trong Nhóm 72 không biết có đàn bà không? Chỉ biết là Luca nhắc đến các người phụ nữ như Maria Mađalêna đi theo Chúa Giêsu trong cuộc lưu giảng ở Galilê để giúp đỡ Ngài và các tông đồ (Lc 8:1-3). Họ là chứng nhân đầu tiên về ngôi mộ trống và đi báo cho các tông đồ khác biết việc Chúa Giêsu đã phục sinh. Maria Mađalêna là người đầu tiên nhìn thấy Chúa sống lại. Sách Công Vụ cho thấy các người phụ nữ nhất Ðức Maria đã có mặt khi Chúa lên trời và khi Chúa Thánh Thần hiện xuống (Cv 1:9-14, 21).

Dựa theo văn bản Luca, chúng ta không thể nói là Chúa quan niệm hai giới như nhau. Ngài chỉ nói đến sự riêng biệt. Ðối với Chúa, không phải sự liên hệ bà con máu mủ, vai trò trong xã hội, và giới tính là quan trọng mà là sự hiện diện đối với Thiên Chúa (Lc 11:28).

Trong Giáo Hội tiên khởi, người được rửa tội đầu tiên ở Âu Châu do Phaolô ban là một người phụ nữ, bà Lyđia (Cv 16:14). Một đôi vợ chồng dạy đạo và chinh phục một tân tòng sốt sắng là Apollo, thì Priscilla được nói đến trước, chứ không phải người chồng Aquila (Cv 18:26).

Quan niệm của Phaolô như thế nào?

Phaolô bị một số người coi như là kẻ ghét phụ nữ bởi vì ngài viết: "Hãy tùng phục nhau trong sự kính sợ Thiên Chúa. Các người vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa; vì người chồng là chủ của vợ như Chúa Kitô là chủ của Giáo Hội" (Eph 5:21); hay "Chủ của mọi người là Ðức Kitô; chủ của phụ nữ là người đàn ông" (1 Cor 11:3-6).

Tuy nhiên, các bản văn ấy được viết cho một xã hội liên hệ và phải được hiểu như thế, cũng như được chấp nhận như vậy (Eph 5:25...). Cũng như khi Phaolô bảo các người nô lệ vâng phục chủ, đồng thời cũng nhắn nhủ chủ biết, chủ cũng như nô lệ đều được Chúa phán xét tùy cách cư xử hành động. Thánh nhân không chấp nhận chế độ nô lệ, tìm cách bãi bỏ chế độ nô lệ là khác. Và người mạnh mẽ nói: "Không có người nô lệ, người tự do, đàn ông, đàn bà, vì anh em tất cả là một trong Ðức Kitô Giêsu (Gal 3:28). Vào thời ấy, tuyên bố như vậy thật là can đảm. Ðối với Phaolô, đức bác ái ngăn cản sự xáo trộn, nhưng cũng là mầm mống mọi cải cách.

Chúng ta có thể gồm tóm tư tưởng Thánh Kinh như sau: Người đàn bà ngang hàng với đàn ông nhưng có những vai trò xã hội khác nhau. Thánh Kinh chỉ quảng giải sách Khởi Nguyên theo đó "Thiên Chúa dựng nên người ta giống hình ảnh của Ngài, giống hình ảnh Ngài, Thiên Chúa dựng nên có nam, có nữ" (Kn 1:27).

Lúc khởi đầu, Ađam gọi bạn là Issah nghĩa là "bởi đàn ông" (Kn 2:23) nhưng rồi gọi vợ bằng một tên riêng rẽ là Eva nghĩa là "mẹ các kẻ sống" (Kn 3:20). Trong bản văn, loài người và chỉ loài người, mới có tên của đàn bà riêng, không dựa theo đàn ông. Ðàn ông, đàn bà giống nhau mà riêng rẽ. Và, cả hai giống hình ảnh Chúa. Vì Thiên Chúa là tình yêu.

Hiểu được sự giống nhau và khác biệt giữa đàn ông và phụ nữ, chúng ta sẽ không đặt vấn đề tại sao phụ nữ lại không thể làm linh mục như một số người đòi hỏi. Ngày 15.08.1988, ngày khai mạc Năm Thánh Mẫu, Ðức Gioan Phaolô II đã ra tông thư nói về địa vị và ơn gọi của chị em phụ nữ. Tông thư có đoạn nói về Thánh Thể và vấn đề phụ nữ với chức linh mục như sau:

"Trong bản văn dài về ‘Mầu nhiệm cao cả’ bàn về mối giao hảo phu thê giữa Giáo Hội và Chúa Kitô, cũng có thể hiểu rõ hơn về ơn gọi của Nhóm Mười Hai. Khi chỉ kêu gọi các người đàn ông làm tông đồ, Chúa Kitô đã làm trong tư thế hoàn toàn tự do và đầy quyền năng... Chỉ có các tông đồ mới lãnh nhận sứ điệp: ‘Các con hãy làm việc này để nhớ đến Ta.’ Nếu Chúa Kitô, khi lập phép Thánh Thể đã liên kết rõ rệt thánh vụ linh mục với các tông đồ, thì rất có lý để nghĩ rằng Chúa đã muốn biểu lộ sự liên hệ giữa người đàn ông và đàn bà, giữa nữ tính và nam tính, trong Mầu nhiệm tạo dựng.Trong phép Thánh Thể, tác động cứu chuộc của Chúa Kitô được diễn tả dưới hình thức Bí tích. Ngài là Hôn phu của Giáo Hội bạn trăm năm. Ðiều này xác tính rõ rệt và không sai lầm rằng sứ vụ Bí tích Thánh Thể phải được thực hiện bởi người nam, làm thay thế Chúa Kitô" (số 16).


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com