|
ÐỨC
MARIA Lm. Trịnh Ðức Hòa, C.Ss.R. Những chứng từ Tân Ước đã thể hiện sinh động Ðức Giêsu chính là nhập thể và hiện thân của lòng Chúa Cha thương xót. Nhưng không chỉ có thế! Tân Ước còn để lại một chứng tích đáng trân trọng và có tác dụng tôn cao lòng Cha thương xót đến tuyệt hảo. Chứng tá ấy hiển hiện nơi một thụ tạo ưu tuyển của Thiên Chúa và được tiền định để cưu mang cùng biểu lộ lòng thương xót vô biên của Cha trong cung cách người Mẹ. Mẹ Maria chính là chứng nhân được chọn giữa muôn tạo vật để công bố bằng chính đời mình Chúa Cha là Ðấng từ bi nhân hậu. Nếu Giêsu Con Mẹ là hiện thân của Cha thương xót, thì Mẹ Maria cùng lúc đã trở nên dấu chỉ của lòng Cha thương xót. Qua bài viết này, mời bạn cùng lặng ngắm chân dung Mẹ Maria, Mẹ của lòng thương xót mà thêm niềm tri ân cảm mến Chúa Cha nhân lành. Truyền Tin: Gặp Gỡ Lòng Thương Xót Ðã từng có những cuộc gặp gỡ thay đổi đời người, nhưng càng đáng kể là những cuộc gặp gỡ vô tiền khoáng hậu khiến xoay chiều lịch sử. Kỳ thực, thế giới và nhân loại đã biến đổi và thăng hoa cách lạ lùng sau những cuộc gặp gỡ kỳ diệu ấy. Một trong những sự kiện vĩ đại ấy đã được Sách Thánh ghi lại là biến cố sứ thần truyền tin Ðức Maria. Phải nhận rằng trong bốn thánh sử Phúc Âm, Luca là người có công lớn vì đã lưu truyền lại cho hậu thế dung mạo một Ðức Maria ngời sáng trong tư thế là người môn đệ đệ nhất của Chúa Kitô. Trong khi Matthêu ghi giữ những hồi ức về vai trò của Thánh Giuse qua những trình thuật thời niên thiếu của Chúa Giêsu, Luca lại bảo tồn những truyền thống quý báu về sứ mạng của Ðức Maria ngay từ những giờ phút đầu tiên của biến cố Ngôi Lời nhập thể. Cứ giở những chương đầu của Tin Mừng theo Thánh Luca mà xem! Ai cũng thấy ngay, đàng sau những áng văn linh thiêng và tươi sáng là một ngòi bút vô cùng trân trọng và yêu mến dành cho Mẹ Thiên Chúa. Phải là một tâm hồn thần hứng mới có thể cảm nhận trọn vẹn sứ mạng lớn lao và vinh quang tuyệt mức nơi Ðức Maria, nữ tỳ sủng ái của Chúa Cha! Thật vậy, ngay trong những chương đầu của Tin Mừng, Luca đã trân trọng giới thiệu Ðức Maria qua biến cố truyền tin, một cuộc gặp gỡ thay đổi cục diện nhân loại: "Tháng thứ sáu, sứ thần Gabriel được Thiên Chúa sai đến một thành xứ Galilê, tên là Nazarét, gặp một trinh nữ đã đính hôn . . . . và tên trinh nữ là Maria" (Lc 1:26). Phải chờ cả bao ngàn năm mới thấy giây phút trọng đại này! Có lẽ tổ mẫu nhân loại là bà Evà giờ đây mới nhẹ nhõm an lòng khi thấy nơi hậu duệ mình viên thành lời nguyền truyền kiếp thuở xưa vườn địa đàng: "Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đạp đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó" (St 3:15). Cả lịch sử cứu độ đằng đẵng bao thế hệ, bao thăng trầm cốt cũng chỉ để chuẩn bị cho cuộc hội ngộ kỳ diệu này thôi! Nỗi đợi chờ miên man này còn là của chính Chúa Cha. Người đợi từ ngày nguyên tổ sa ngã. Người chờ khi chọn các tổ phụ. Người dọn qua Dân Riêng. Người mong nơi dòng dõi Ða-vít. Người hứa qua các ngôn sứ . . . . Từng giây phút qua đi, nơi Chúa Cha là cả niềm thương thêm đầy, nỗi xót thêm sâu, tựa như lòng mẹ cưu mang nỗi đợi chờ suốt chín tháng mười ngày cho mầm thương xót thành hình nên dạng. Rồi khi buổi bình minh ấy ló dạng là bao bồi hồi sung sướng, những ngập ngừng hân hoan. Bạn có nghe trong lời chào của sứ thần Gabriel ăm ắp nỗi vui tở mở của Thiên Chúa: "Vui lên! Hỡi người đầy ơn phúc! Chúa ở cùng người!" (Lc 1:28). Chúa chào vui vì lòng Người vui, khi đã tìm ra "ứng viên" xứng đáng nhất giữa muôn loài thọ tạo; từ đây nơi lòng dạ người, lời hứa cứu độ toàn thể nhân loại sẽ thành tựu viên mãn. Giờ đây, Chúa Cha thương xót đã tìm thấy ngay giữa hậu duệ Evà một ngọc quý vô tì tích đáng nên đền vàng cho Con Một Chúa Cha lưu ngụ. Hai câu chúc khen kế tiếp nhau đã minh chứng cho khám phá trên: "Hỡi người đầy ơn phúc! Chúa ở cùng người!" Cả hai gói gọn hai chữ then chốt là "phúc" và "Chúa" . "Phúc" đây là phúc gì vậy? Phải chăng là phúc vô nhiễm nguyên tội, phúc đồng trinh thanh khiết, hay phúc làm Mẹ Thiên Chúa? Cũng đúng thôi! Nhưng đúng hơn phải kể đến "phúc" lớn nhất, trọng nhất, cao cả nhất không gì khác hơn là chính "Chúa"! Chỉ duy "Chúa" mới đáng gọi là "phúc cả". Từ đó, người đầy "phúc" là người đầy "Chúa"! Và người được "Chúa ở cùng" chính là người "đầy ơn phúc". Thì ra hai câu chúc khen tuy khác lời nhưng cùng ý, bổ túc cho nhau để nhấn mạnh và khẳng định: Ðức Maria là người của Thiên Chúa! Có cùng dòng suy tưởng trên, ta mới có cơ may liên hệ đến ý nghĩa của lời minh định kế tiếp của sứ thần cùng Ðức Maria: "Người đã được ơn sủng nơi Thiên Chúa" (Lc 1:30). Nghĩa là, Ðức Maria đã trở nên nữ tỳ vô cùng sủng ái của Chúa Cha, vì Mẹ là người có thể cảm nhận được và truyền tải được một cách trọn vẹn và rõ ràng "tần số thương xót" của Cha, đến mức xứng đáng được chọn làm Mẹ Chúa Cứu Thế: "Và này, nơi lòng dạ, người sẽ thụ thai, và sinh con trai, và người sẽ gọi tên Ngài là Giêsu. Ngài sẽ nên cao cả và được gọi là Con Ðấng Tối Cao" (Lc 1:31-32). Lời truyền uy nghi này đã tỏ lộ ước muốn mãnh liệt của Chúa Cha khi chọn Ðức Maria nên cung thai cho Chúa Trời ngư, tức là nên thật Mẹ Thiên Chúa (Theotokos)! Với lời tiên báo này, sứ thần Gabriel đã bạch hóa ý định của Thiên Chúa về con người và vận mệnh của Ðức Maria. Mẹ được chọn để lãnh trọng trách đón lấy niềm thương xót vô hạn của Chúa Cha dành cho con cái loài người bằng cách cưu mang và khai sinh Con Ðấng Thương Xót. Từ đây, trong khi Ðức Giêsu là hiện thân cụ thể của Cha Thương Xót, thì Mẹ Ngài, Ðức Maria, là phản ánh rạng rỡ lòng Cha Thương Xót. Cả Con lẫn Mẹ đều truyền tải lòng Chúa Cha từ tâm độ lượng với muôn loài. Chỉ là nữ tỳ thấp hèn thôi, nhưng Mẹ sẽ đồng lao cộng khổ đến cùng với Chúa Con trong sứ mạng cứu chuộc nhân thế. Vì lẽ đó, Ðức Maria được các tín hữu âu yếm tôn phong là Mẹ Ðồng Công Cứu Chuộc. Cuối cùng, lời đáp trả vàng ngọc của Ðức Maria: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói " (Lc 1:38) là trọn vẹn mọi điều Chúa Cha chờ mong. Chỉ mong có thế! Lời ưng thuận trong tâm tình vô cùng khiêm nhu của phận tôi tớ nơi Ðức Maria như chiếc đũa thần chờ đợi bao kiếp nay đã hóa giải thái độ ngạo mạn bất phục của tổ mẫu Evà trong vườn địa đàng xưa. Lòng vâng phục sâu thẳm của Ðức Maria đã đền bù thái độ bất tuân đầy tai vạ của bà Evà. Nếu Evà xưa là biểu tượng của bất trung phản loạn, thì nay Mẹ Maria nên biểu tượng cho một nhân loại mới được tái sinh khỏi bóng tối sự chết và được thăng hoa nên làm hàng nghĩa tử của Cha trên trời. Tạ ơn Ðức Maria vì lời "Xin vâng" cải tử hoàn sinh! Chỉ vì thương đàn con muôn tội mà Mẹ cúi đầu nhận lãnh sứ mạng cưu mang và làm Mẹ Chúa Cứu Thế. Mẹ chẳng mảy may nghĩ đến vinh quang làm Mẹ Thiên Chúa, một chỉ thương nhớ chúng sinh là đoàn con yêu dấu đang ïtrông Mẹ phù trợ giải nguy. Mẹ luôn cứu giúp vì Mẹ là Mẹ của Lòng Thương Xót.
Kinh Magnificat: Tôn Vinh Lòng Thương Xót Thưa lời "Xin vâng" là ôm trọn lòng từ ái vô biên của Chúa Cha dành cho không những Dân Riêng mà còn cho toàn nhân loại. Bỗng chốc, Ðức Maria thấy mình vốn thật hèn mọn, nhưng sao lại được Cha ghé mắt nhìn giữa muôn người và chọn làm khí cụ cho ơn cứu độ. Vô phương hiểu thấu! Mẹ chỉ biết một điều thôi: Muôn đời tri ân Chúa. Tâm tình sâu đậm này đã được Ðức Maria bày tỏ qua lời Kinh Magnificat (Lc 1:47-55) khi Mẹ đến viếng thăm người chị họ Êlizabeth. Tuy ngạt ngào hương vị của những lời kinh Cựu Ước như bài ca ngợi của bà Anna khi lên đền thờ thánh hiến Samuel con mình cho Thiên Chúa (1 Sam 2:1-10), kinh Magnificat vẫn khởi sắc khác thường bởi dung mạo Chúa Cha là Ðấng Thương Xót thật đậm nét. Lời kinh vừa cho thấy chọn lựa dứt khoát của Thiên Chúa đứng về phía dân nghèo, vừa trình bày một Ðức Chúa hằng tín trung với giao ước cùng tổ phụ xưa. Ðộc đáo là thế! Stanley Jones, một học giả Kinh thánh, đến nỗi đã mạnh bạo gọi "Kinh Magnificat là văn kiện cách mạng nhất thế giới". Thật vậy, lời kinh nghe thì tha thiết mà vẫn âm vang hùng khí một manifesto, tức cương lĩnh hành động của sứ giả Thiên Chúa. Phải chăng Kinh Magnificat của Mẹ dự báo hành động giải thoát của con mình là Giêsu rồi đây sẽ thực hiện? Xét về nội dung, ta có thể tạm chia Kinh thành hai khổ. Khổ thứ nhất là lời tôn vinh Thiên Chúa vì diễm phúc Người dành cho Ðức Maria:
"Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa, Ý thức mình chỉ là "nữ tỳ hèn mọn" đứng trước một Thiên Chúa là "Ðấng cứu độ", là "Ðấng toàn năng" và là Ðấng "chí thánh chí tôn", Ðức Maria dạt dào niềm vui, chỉ biết ca ngợi, tạ ơn, tôn vinh kỳ công Người đang thực hiện nơi Mẹ. Việc Chúa làm trong Mẹ vượt quá mọi suy tưởng phàm nhân. Vì không một thọ tạo nào, dù công chính ra sao, lại dám tơ hào mơ nghĩ sẽ lãnh nhận "bao điều cao cả". Không phải do công trạng riêng hay công đức riêng mà được Chúa sủng ái đâu! Hơn ai hết, Ðức Maria đã cảm nhận sâu sa "tất cả là ân sủng" cho mọi điều xảy đến trong đời Mẹ. Ðộng cơ hành động của Thiên Chúa không đến từ con người, song chỉ xuất phát từ "lòng thương xót" nhưng không và vô điều kiện của Thiên Chúa, để không ai có thể tự phụ về công lênh riêng mình. Chính câu cuối của khổ đầu này mà chữ then chốt là "thương xót" đã tóm tắt lý do Thiên Chúa ra tay hành động. Nếu khổ thứ nhất kể đến điều Thiên Chúa làm nơi Ðức Maria, thì khổ thứ hai kế tiếp liệt kê một loạt những hành động cụ thể Người sẽ thực hiện nơi Dân Người:
"Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, Tinh ý một chút sẽ thấy, trong khi khổ đầu nêu bật
căn tính Thiên Chúa là ai: Người là "Ðấng cứu
độ", là "Ðấng toàn năng" và là Ðấng
"chí thánh chí tôn", thì khổ thứ hai đây lại
nhấn mạnh đến hành động Người sẽ làm gì. Một loạt
các động từ rõ mạnh như "giơ tay biểu dương",
"dẹp tan", "hạ bệ", "đuổi về"
đối chan chát với các động từ đầy nhân ái như
"nâng cao", "ban", "độ trì". Hai
thành phần đối lập thấy rõ: một bên là "phường
kiêu căng" và "người giàu có"; bên kia là
"kẻ khiêm nhường" và "kẻ đói nghèo".
Và Thiên Chúa đã đứng lên bênh đỡ hạng khiêm
nhường đói nghèo khỏi quyền uy của hạng kiêu căng
giàu có. Ðời nào cũng thế thôi, Thiên Chúa luôn
đứng về phía lớp người thấp cổ bé miệng. Họ
chẳng còn ai ngoài Chúa; mất hết mọi sự, họ chỉ còn
Người. Ở bậc thang đáy cùng, họ mới có cơ may thấm
thía: chẳng ai thương mình bằng Chúa và cũng chẳng có ai
trên đời đáng tin đáng cậy bằng Chúa. Nhân nghĩa con
người sao mà phù du . . . ; duy chỉ "lòng thương xót"
Chúa Cha là bất biến! Cho dù "kiêu căng giàu
có"ù có làm thay lòng đổi dạ, thì Thiên Chúa vẫn
chung tình trước sao sau vậy, một lần thương là vạn lần
nhớ: "vì Người nhớ lại lòng thương xót, dành cho
tổ phụ Abraham, và con cháu đến muôn đời". Cũng
như câu cuối khổ trên, một lần nữa từ "thương
xót" lại xuất hiện ở câu cuối khổ dưới để
lý giải nguyên do Thiên Chúa hành động cũng là vì
lòng thương xót mà thôi. "Thương xót" là tất
cả nỗi lòng của Chúa. Toàn lời Kinh Magnificat ngát hương "thương xót"
là thế! Ðọc lên là thấy ngọt ngào, phấn chấn cũng
vì một lẽ ấy thôi! Có một dạo, vài chế độ độc
tài quân phiệt tại châu Mỹ La-tinh đã khó chịu kinh
này, đến nỗi gây áp lực giáo quyền để con Chúa
đừng đọc, đừng hát, đừng rao Kinh Magnificat đầy
cách mạng này! Kể cũng lạ, mình đầy súng ống, mà
sợ bà lão đọc kinh! Phải chăng kinh không nòng mà
vẫn mạnh hơn súng? Tự coi là chân chính, lẽ nào cấm
niệm kinh? Không biết Ðức Maria có lường trước,
đoán hết sức vạn năng của lời Kinh Magnificat chăng,
thế mà lời tôn vinh lòng thương xót của Thiên Chúa
lại trở thành hồi chuông báo tử cho bạo chúa. "Này Là Con Bà . . . . Này Là Mẹ
Con": Tâm tình "Xin vâng" của Ðức Maria một lần
nữa được biểu lộ khi Mẹ đứng dưới chân thánh
giá. Thánh Gioan ghi lại: "Ðứng bên khổ giá Ðức
Giêsu có Mẹ Ngài . . . . Ðức Giêsu thấy Mẹ Ngài và
môn đồ Ngài yêu mến, thì Ngài nói với Mẹ: ‘Hỡi
bà, này là con bà!’ Ðoạn Ngài nói với môn đồ: ‘Này
là mẹ con!’. Và từ giờ đó, môn đồ đã lĩnh lấy
bà về nhà mình" (Ga 19:25-27). Trọn đời Ðức Maria
là một hành trình môn đệ không ngơi nghỉ. Mẹ không
chỉ là Mẹ Chúa, nhưng đặt mình làm môn đệ của Ngài.
Mẹ đã từng ấp ủ lời giáo huấn của Ðức Giêsu
và đã đi trọn con đường thánh giá của Ngài. Trong
giờ phút bi thương nhất của Ðức Giêsu, khi các đồ
đệ thân thiết nhất đều sợ hãi tháo chạy, chỉ duy
Ðức Maria vẫn đứng đó. Ðau thương nhưng dũng cảm.
Nát tan nhưng trung tín. Mẹ yêu Con và trung tín với Thầy.
Cả hai tâm tình quyện vào nhau để làm nền cho một sứ
mạng mới được Ðức Giêsu ủy thác cho Mẹ. Với lời "Này là con bà . . . . Này là mẹ
con", Chúa Giêsu đã ủy thác Giáo Hội là cộng
đoàn những môn đệ của Ngài cho Mẹ Maria, đồng thời
cũng ủy thác Mẹ Maria cho Giáo Hội. Ðây không phải là
những lời thường tình, cũng không phải chuyện riêng
tư. Nhưng đây đích thực là lời trối trăn liên quan
đến vận mệnh của mọi môn đệ Ðức Kitô. Ðến giờ
phút này, hai thực thể đáng yêu nhất của Ðức Giêsu
không gì khác hơn là Mẹ Ngài và cộng đoàn môn đệ.
Ngài muốn ôm ẵm cả hai trong một tình yêu cứu độ.
Chúa không muốn thấy hai phân chia, song muốn liên kết hai
nên một. Ngài muốn thấy Mẹ Maria nhập thân vào Giáo
Hội là nhiệm thể của Ngài, cũng như muốn thấy Giáo
Hội hiệp thông trong Mẹ. Từ ước nguyện thiêng liêng
ấy, lịch sử Giáo Hội hai ngàn năm qua đã tỏ rõ Mẹ
Maria luôn có mặt với Giáo Hội qua mọi biến cố thăng
trầm. Tình yêu dành cho Con Mẹ là tình yêu Mẹ dành cho
Giáo Hội. Mẹ âm thầm nhưng hiện diện sống động giữa
cộng đoàn các kẻ tin ngay từ ngày lẽ Hiện Xuống. Vì
thế, không thể hiểu được một Giáo Hội Chúa Kitô
mà vắng bóng Mẹ. Cũng không thể hiểu được một
Ðức Maria mà không có Giáo Hội. Như mẹ con nối liền
bằng khúc nhau, Mẹ Maria và Giáo Hội nối liền bằng tình
yêu Chúa Kitô. Ai là người môn đệ Ðức Kitô, thì
cũng là con Mẹ Maria rồi. Vậy nếu Công Ðồng Vatican II
có tôn Ðức Maria là Mẹ Giáo Hội thì quả là điều
chính đáng và hợp tình. Tự nhiên như thở khí trời
ấy thôi! Kết Luận Qua ba mốc điểm đời Ðức Maria, bạn đọc được
mời hội ra vai trò và sứ mạng đặc biệt của Mẹ trong
chương trình cứu độ của Chúa Cha dành cho nhân loại.
Chúa Cha thương xót đã tìm thấáy phản ánh tuyệt tác
của lòng Cha yêu nơi Mẹ lành. Cha trên trời tìm Mẹ
dưới thế làm máng thông chuyển hồng ân sự sống. Cha
đã chọn từ giữa muôn thụ tạo một nữ tỳ hèn mọn
làm Mẹ của Con Cha. Từ đây, Ðức Maria vừa là nữ
tỳ sủng ái của Cha, vừa là đại diện ưu việt của
nhân loại. Khi đón nhận Ðức Maria là Cha tiếp nhận cả
nhân loại. Vinh quang Người dành cho Ðức Maria là tiên
báo vinh quang dành cho các kẻ tin. Vì thế, người tín
hữu khi chuẩn bị tâm hồn đón mừng Năm Thánh 2000, kỷ
niệm biến cố nhập thể của Chúa Kitô, không thể không
tìm đến Mẹ Maria để học và sống những tâm tình tha
thiết của Mẹ Ngôi Lời từng chờ đón Chúa giáng sinh.
Ðức Maria chính là mẫu gương tinh tuyền cho nỗi đợi
chờ cứu chuộc. Vinh quang của Mẹ là nên dấu chỉ của
lòng Cha thương xót chúng sinh. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |