GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BƯỚC VÀO NĂM 2000

(Kỳ 9)

Lm. Hồng Phúc (+)

PHẦN III. CÁC VẤN ÐỀ SÔI BỎNG

Bài 19: Giáo Hội & Luân Lý Tính Dục

A. Vấn Ðề Ðiều Hoà Sinh Sản:

Nhiều người không biết lập trường Giáo Hội như thế nào về vấn đề điều hoà sinh sản. Sau đây có thể đặt một cái nhìn chung về vấn đề này dựa trên những gì các Giáo hoàng và các giám mục đã công bố.

Trước hết, Hiến chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay ("Gaudium et Spes") kêu gọi những người làm cha mẹ hãy có trách nhiệm:

"Bổn phận truyền sinh và giáo dục phải được coi là sứ mạng riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thi hành bổn phận ấy, họ biết rằng mình cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa Tạo Hoá và như trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Ngài. Bởi vậy, họ sẽ chu toàn bổn phận mình với trách nhiệm của con người và của Kitô hữu. Tôn trọng, tuân phục Thiên Chúa, đồng tâm hiệp lực với nhau, họ sẽ tạo được cho mình một phán đoán ngay thẳng: biết xét đến lợi ích riêng của họ cũng như của con cái đã sinh hay tiên liệu sẽ có, nhận định về các hoàn cảnh vật chất hay tinh thần của thời đại và bậc sống, sau hết biết nghĩ đến lợi ích gia đình, của xã hội trần gian và của chính Giáo Hội. Sự phán đoán ấy, sau cùng chính đôi vợ chồng phải chọn lựa lấy trước mặt Thiên Chúa. Trong cách thế hành động, vợ chồng Kitô hữu hãy ý thức là mình không thể làm theo sở thích, nhưng phải luôn luôn theo tiếng nói của một lương tâm phải được khuôn đúc theo luật Chúa, hãy vâng phục Giáo huấn của Giáo Hội, vì Giáo Hội có thẩm quyền giải thích luật Chúa dưới ánh sáng Phúc Âm. Luật Chúa tỏ rõ ý nghĩa đầy đủ của tình vợ chồng, bảo vệ và khích lệ mối tình ấy đến mức hoàn thiện trên bình diện đích thực nhân loại. Bởi thế mà các vợ chồng Kitô hữu vinh danh Ðấng Tạo Hoá và tiến tới sự hoàn thiện trong Chúa Kitô, trong khi tin tưởng vào Chúa quan phòng và trau dồi tinh thần hy sinh, để chu toàn bổn phận sinh sản cách quảng đại trong tinh thần trách nhiệm của con người và của Kitô hữu. Trong số những đôi vợ chồng theo phương thức ấy để chu toàn bổn phận Thiên Chúa trao phó, phải đặc biệt kể đến những người, sau khi suy xét khôn ngoan và đồng chấp thuận, đã can đảm lãnh trách nhiệm dưỡng dục con cái cách xứng đáng, dầu số con cái ấy khá đông."  (GS,50)  

Theo nguyên tắc hướng dẫn ấy, các Giáo hoàng và các giám mục dựa trên quyền giáo huấn đã quảng diễn việc điều hoà sinh sản như sau:

1. "Chống lại sự bi quan và ích kỷ đang làm đen tối thế giới. Giáo Hội đề cao sự sống" (Thông điệp Familiaris Consortio của Ðức Gioan Phaolô II, 30). Sự sống chính là một món quà lớn lao mà Chúa nhân lành trao ban.

2. Lời mời gọi trao ban sự sống không phải là lời mời gọi thể xác sinh hạ thật nhiều con. Trái lại, các Giáo hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II đều chú ý đến sự quan trọng của vấn đề làm cha mẹ với trách nhiệm. Thật là thiếu trách nhiệm khi cho ra đời những đứa con mà theo sự thường không giáo dục nổi. Vì thế, điều hoà sinh sản--không phải hạn chế sinh đẻ--là điều nên làm.

3. Sự điều hoà sinh sản đó không được làm phương hại đến đời sống lứa đôi. Tình yêu chỉ có thể có khi là một sự trao đổi thể chất và tinh thần. Vấn đề đặt ra cho hai người là làm thế nào để điều hoà sinh sản để rồi trong sự giao hợp giữa hai phối ngẫu, họ trở nên cha mẹ với trách nhiệm trong tình yêu.

4. Hơn nữa, sau khi đã cứu xét cẩn thận về những hiệu quả tâm lý của những phương thức cơ học hay hoá học để ngừa thai, như dùng thuốc hoặc giải phẫu để triệt sản, Giáo Hội Công Giáo từ trước đã khuyến khích dùng những phương thức tự nhiên trong việc điều hoà sinh sản, như lựa chọn thời biểu tự nhiên nơi người phụ nữ theo kinh kỳ và việc đồng chấp nhận trách nhiệm chung, cũng như sự tiết độ (Familiaris Consortio, 32).

5. Việc giao hợp, như mọi tác động khác của con người, chỉ có ý nghĩa khi làm với trách nhiệm tự lãnh nhận và điều này đòi hỏi phải có một lương tâm trưởng thành.

6. Giáo Hội vì thế kêu gọi mỗi người tín hữu phải ý thức trách nhiệm của mình trong việc giáo dục và hành động theo một lương tâm biết phù hợp với luật Chúa và giáo huấn của Giáo Hội, nghĩa là "trong một tình yêu thật sự với ý nghĩa một cuộc trao ban cho nhau để có sự sinh sản xứng đáng con người" (Familiaris Consortio, 22).

7. Sau cùng, hàng Giáo phẩm Công Giáo luôn luôn chủ trương rằng việc điều hoà sinh sản cuối cùng ra là quyết định của vợ chồng. Vì thế, Giáo Hội mạnh mẽ chống lại các quốc gia nào áp đặt những chương trình hạn chế sinh sản. (Ở Trung Quốc, Nhà nước Cộng sản chỉ cho phép mỗi gia đình có một con và theo tập tục người Hoa thì "nhất nam thắng vạn nữ" nên việc giết hại trẻ nữ là một tai hoạ lớn ở đây khi họ chỉ muốn có một người con trai nối giòng).

Trong cái nhìn về vấn đề làm cha mẹ với trách nhiệm và tình yêu giữa hai vợ chồng, phương pháp điều hoà sinh sản theo phương pháp tự nhiên được Giáo Hội đồng ý. Các phương pháp tự nhiên gồm có:

a) Phương pháp Trứng rụng hay Phương pháp Billings: Mang danh hiệu hai vợ chồng Công Giáo Bác sĩ John và Evelyn Billings ở Úc. Phương pháp này dạy các cặp vợ chồng phải biết nhận ra những ngày có thể thụ thai và những ngày khôâng thể thụ thai trong chu kỳ kinh nguyệt của người vợ, qua việc quan sát những thay đổi của chất nhờn tiết ra từ âm đạo. Phương pháp này là một trong các phương pháp duy nhất có thể áp dụng lâu bền, không sợ phản ứng tâm lý và cơ thể. Vì thế, phương pháp này được Giáo Hội khuyến khích dùng. Phương pháp này đáng tin cậy, không cần thuốc men hay dụng cụ gì phức tạp đắt tiền, cũng không cần gặp bác sĩ. (Ðọc La méthode Billings par le Dr. Billings, Edit Mediaspaul-Rambouillet).

b) Phương pháp Triệu chứng Nhiệt độ: Thân nhiệt của người phụ nữ cao lên sau khi trứng rụng. Nếu nhiệt độ cứ giữ mức độ cao 2-3 ngày, đó là dấu hiệu giai đoạn trứng rụng đã qua. Mức độ hiệu nghiệm là 85-90%. Không có hậu quả tai hại hoặc nguy hiểm nào. Phương pháp tìm cách nhận ra ngày nào có thể thụ thai, ngày nào không.

Dĩ nhiên các phương pháp nhân tạo hay không tự nhiên như thuốc viên (The Pill), vòng xoắn, mũ chụp, thuốc diệt tinh trùng, "áo mưa", giao hợp nửa chừng,... là những phương cách mà Giáo Hội ngăn cấm như trong Thông điệp Humanae vitae ("Sự Sống Con Người") ban hành ngày 25.07.1968 của Ðức Phaolô VI. (Tìm đọc Preparing for Marriage của Dr. John Marshall do Lm. Vũ Hùng Tôn phiên dịch, Xuân Tâm xuất bản, 1976).

 

B. Tôn Trọng Sự Sống Thai Nhi

1. Vấn Ðề Ðiều Khiển Bào Thai:

Khi noãn sào kết hợp với tinh trùng, một tiến trình khởi đầu đưa đến sự cấu tạo những tế bào, bộ phận và chi thể của một em bé trong trứng nước bào thai. Em bé từ bào thai sinh ra lớn lên trở thành một con người trưởng thành, đó là một tiến trình duy nhất. Bào thai đã là khởi điểm của một con người. Vì thế, Giáo Hội kết án việc phá thai vì phá thai là giết hại một mạng sống mà không ai có quyền dù đó là cha mẹ, xã hội hay nhà nước.

Vì thế, Giáo Hội Công Giáo hoàn toàn ủng hộ mục 4 của Qui chế Quyền của Gia đình: "Sự sống con người phải được triệt để kính trọng và bảo vệ ngay từ khi tượng thai". Vì quan niệm như thế nên Giáo Hội không thể chấp nhận những luận điệu bào thai là một phần u bướu của cơ thể người mẹ hay là một phần của cơ thể mẹ. Bào thai được coi từ đầu là một con người dù cơ thể chưa phát triển trọn vẹn. Bởi vậy, Giáo Hội từ chối việc điều khiển bào thai (manipulation de l’embryon) như một vật thể. Bào thai không được cất trữ để làm thí nghiệm.

2. Thụ Thai Nhân Tạo:

Vấn đề điều khiển bào thai còn liên hệ đến việc thụ thai nhân tạo (insémination artifficielle), việc "các bà mẹ mướn". Chúng ta hãy lắng nghe Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Thông điệp Evangelium Vitae ("Phúc Âm Sự Sống") nói về điều này như sau:

"Nhận định luân lý về việc phá thai cũng được áp dụng cho những hình thức điều khiển bào thai con người gần đây, tuy rằng có mục đích xem ra hợp pháp, nhưng thật ra là việc giết người. Ðó là trường hợp thí nghiệm trên các bào thai, hiện đang được thực hiện nhiều trong lãnh vực tìm tòi sinh vật y học và được một số quốc gia công nhận. Nếu ‘phải coi việc điều khiển bào thai như có thể chấp nhận được, miễn là biết kính trọng sự sống và sự nguyên vẹn của nó, không có sự nguy hiểm quá đáng, nhưng chỉ nhằm chữa lành, tăng trưởng điều kiện sức khoẻ hhay sự tồn tại cá nhân’ (Donum Vitae 22.08.1987) thì trái lại, việc điều khiển bào thai con người như vật liệu khảo cứu là một tội ác đối với phẩm giá con người, có quyền được tôn trọng cả nơi trẻ con đã sinh ra cũng như mọi người lớn.

"Luân lý cũng lên án phương cách lợi dụng phôi thai và thai nhi còn sống, nhiều khi để đạt đến mục đích được cấu tạo bằng lối thụ tinh gọi là in vitro ("trong ống nghiệm"), hay như vật liệu sinh lý để dùng thí nghiệm, hay bằng cách thí bộ phận hay cấy tế bào để chữa một số bệnh lý. Thật ra là giết chết những con người vô tội, cả khi để đem lại lợi ích cho kẻ khác, đó là môät tác động hoàn toàn không thể chấp nhận được.

"Cũng cần phải xác định tính cách luân lý của tác động chẩn đoán trước khi sanh, để biết rõ trước những bất thường của đứa trẻ sắp chào đời. Vì chưng, việc khẳng định ấy đòi hỏi nhiều kỹ thuật phức tạp, nên phải thực hiện cách cẩn thận và chắc chắn. Những kỹ thuật ấy được luân lý cho phép khi không có những nguy hiểm cho người con và cho người mẹ, và nhắm đến việc chữa trị kịp thời hay để giúp đón nhận cách bình tĩnh và ý thức đứa con sắp chào đời.

"Tuy nhiên, vì những khả năng săn sóc đứa bé trước khi sanh, ngày nay còn ít oi, nhiều khi người ta lợi dụng kỹ thuật ấy để đạt đến thuyết ưu tuyển và chấp nhận việc phá thai, để chống lại sự ra đời của những đứa trẻ mang phải dị tật. Quan niệm như thế thật là kinh tởm và luôn đáng trách, vì muốn đặt giá trị một đời người dựa trên tiêu chuẩn bình thường và trên sức khoẻ thể xác, mở đường đưa tới việc hợp thức hoá giết hại trẻ con và vấn đề an tử (euthanasia) cho người già...

"Giáo Hội rất gần gũi những đôi vợ chồng chấp nhận những đứa trẻ tàn tật với khắc khoải và nhiều đau khổ. Giáo Hội cũng biết ơn những gia đình chấp nhận con nuôi, những đứa trẻ bị cha mẹ ruồng bỏ, vì bệnh hoạn tật nguyền"

(Evangelium Vitae, 63)

2. Vấn Ðề "Mẹ Bao Thuê" (Surrogate Mother)

Với những phát triển trong kỹ thuật sinh học, hiện khoa học can thiệp rất sâu vào trong đời sống vợ chồng cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực. Về mặt tiêu cực, chúng ta có thể kể đến vấn đề "mẹ bao thuê" khi một người đàn bà mang bào thai giùm cho một phụ nữ khác không thể mang bầu vì có những bất thường trong cơ quan sinh sản, hoặc, vì muốn có con nhưng lại thích rảnh rang khỏi thời gian 9 tháng mang bầu. Một cách đơn giản, thường trứng của một phụ nữ được cho kết hợp với tinh trùng của người chồng trong ống nghiệm và sau đó đặt vào trong tử cung của một phụ nữ khác, có khi là của người thân như mẹ hay chị em (!) Trong trường hợp này, đứa trẻ sinh ra là con ai? Nếu "người mẹ bao thuê" coi việc ấy là phương tiện sinh nhai thì đó là một hành động hạ cấp. Còn nếu cho dù đó là tự nguyện thì cũng không thể nào chấp nhận được về mặt luân lý bởi vì phân cách làm mẹ thể xác và làm mẹ vì tình. Như thế, trong bất kỳ trường hợp nào, việc "mẹ bao thuê" là xúc phạm đến phẩm giá con người. Người đàn bà bị coi như là một thể xác để "bao thuê" và "cho mướn". Vì thế, có người gọi các bà mẹ mang bầu giùm cho kẻ khác là "những chiếc bụng cho mướn". Ngoài ra, việc truyền sinh không thể được xem như một tiến trình sản xuất hàng hoá. Một em bé không phải là một sản phẩm nhưng là một con người và phải được sinh ra qua tác động yêu thương dành riêng của cặp vợ chồng.

Tại Pháp, ngày 31.10.1984, Ủy ban Tư vấn Ðạo đức do Giáo sư Jean Bernard cầm đầu, đã lên tiếng mạnh mẽ chống lại cái gọi là "việc cho thuê bụng". Theo Ủy ban này, việc nhận một trẻ em để dưỡng nuôi là một việc tốt, không có vấn đề. Ðứa trẻ có nhiều cơ hội thăng tiến. Còn đối với đứa trẻ được cấu tạo chỉ để người mẹ đem cho từ khi tượng thai, là một vấn đề khác. Vấn đề chính yếu là lợi ích của đứa trẻ không được giải quyết, không được chú trọng. Ðứa trẻ là một con người có nhân phẩm.

 

Bài 20: Phá Thai & An Tử

A. Phá Thai: Một Tội Ác

Trong các tội ác mà con người có thể lỗi phạm đến sự sống thì tội phá thai dụng ý là tội rất nặng và đáng lên án. Công đồng Vatican II coi như một tội ác ghê tởm, như tội giết trẻ con.

Việc phá thai dụng ý là một sự giết người. Kẻ bị thủ tiêu là một con người mới bắt đầu sống, một con người vô tội. Thai nhi rất yếu đuối, không chống cự được, ngay cả không thể than khóc phản đối hành động phá thai vô luân của người mẹ. Nó hoàn toàn phó thác và cậy trông vào người mẹ mang nó trong dạ. Thế mà chính người mẹ quyết định thủ tiêu nó.

Giáo Hội vẫn luôn dạy rằng, từ giây phút đầu tiên của cuộc sống, con người phải được tôn trọng vô điều kiện về mặt luân lý. Ðó là con người phải được tôn trọng và đối xử như một nhân vị từ khi tượng thai, được nhìn nhận những quyền của con người, nhất là quyền được sống là quyền bất khả xâm phạm. Từ trong dạ mẹ, con người thuộc về Thiên Chúa, Ðấng soi dọi và hiểu biết mọi sự, Ðấng đã cấu tạo nó trong bào thai, đã thấy nó trưởng thành, ngày sống của nó được đếm và số mạng được ghi trong "Cuốn sách đời sống" (Thánh vịnh 38 & 138).

Thánh truyền Kitô giáo rõ ràng và đồng nhất coi việc phá thai là một lỗi phạm luân lý đặc biệt nghiêm trọng. Sách Didache (thế kỷ II) nói: "Ngươi chớ giết trẻ con bằng việc phá thai và đừng giết nó sau khi sinh." Các giáo phụ như Athénagore và Tertulliian đều đồng ý: "Ðó là một con người rồi trước khi trở nên một người trưởng thành" (Apologia IX, 8 của Tertullian).

Gần đây, quyền giáo huấn của các giáo hoàng đã khẳng định lại giáo lý chung ấy rất mạnh mẽ. Nhất là Ðức Piô XI trong Thông điệp Casti connubii. Ngài lên án việc trực tiếp phá thai. Ðức Gioan XXIII khẳng định sự sống là thánh thiêng "từ đầu do hành động tạo dựng của Thiên Chúa". Công đồng Vatican II đã lên án việc phá thai rất thẳng nhặt: "Sự sống phải được bảo vệ thật chu đáo từ khi thụ thai. Việc phá thai và giết hại trẻ con là những tội ghê tởm" (Gaudium et Spes, 51).

Ðức Phaolô VI tuyên bố việc truyền dạy ấy là bất biến và không bao giờ thay đổi (Diễn văn 9.12.1972 cho các luật gia).

Từ những thế kỷ đầu, luật Giáo Hội đã ra hình phạt cho những ai phạm tội phá thai. Giáo luật hiện hành cũng cho thấy thái độ thái độ rõ rệt trước sau như một của Giáo Hội về tính cách nghiêm trọng của tội phá thai, đó là: "Ai thực hành việc phá thai và việc phá thai có kết quả thì bị vạ tuyệt thông ngay lập tức" (#1398).

Cuối cùng, Thông điệp Evangelium Vitae ("Sự Sống Con Người") của Ðức Gioan Phaolô II đã khẳng định rằng: "Không hoàn cảnh nào, không mục đích nào, không luật pháp trên trần gian nào có thể cho phép một hành động vốn dĩ xấu tự bản chất, vì lỗi phạm luật Chúa ghi khắc trong lòng mỗi người, mỗi người đều biết do lý trí và sự công bố của Giáo Hội" (EV, 61&62).

B. Vấn Ðề An Tử:

An tử (Euthanasia), theo nguyên ngữ có nghĩa là "chết êm dịu", không phải đau đớn.

Theo lịch sử, nhà độc tài Hitler của Ðức Quốc Xã đã giết hại nhiều người và coi đó như là một ân huệ. Hàng ngàn người già cả, tàn tật, bệnh thần kinh đã bị cho chết tốt. Từng đoàn xe buýt phủ màn đen, đến các nhà thương và viện dưỡng lão, chở họ lên xe đến những trung tâm gọi là "Trung tâm Bệnh xá Xã hội", ngầm hiểu là đến phòng hơi ngạt và lò thiêu sinh.

Ngày 31.8.1941, Ðức Cha Von Galen mệnh dan là "Sư tử Munster" đã gầm thét trên toà giảng Vương Cung Thánh Ðường, lên án việc giết hại tập thể này. Giáo dân khóc khi nghe Ðức Tổng Giám mục kêu gọi "xa lánh những kẻ sát nhân để khỏi bị án phạt của Thiên Chúa công minh". Hitler đã phải chùn bước vì sợ vùng Westphalie nổi loạn, vội rút lệnh tiêu diệt "những người ăn bám xã hội, không giá trị".

Ngày nay việc an tử lại được đặt ra nhiều nơi, đi đầu là nước Hoà Lan. Tại Hoa Kỳ, tiểu bang Oregon đi tiên phong trong việc bỏ phiếu thành luật.

An tử là một quyết định cho thuốc những người trọng bệnh để họ ra đi không đau đớn, không ý thức, hoặc cho trẻ con "bất thường", những người bệnh nan y, thần kinh, để họ không trở nên gánh nặng cho chính họ cũng như gia đình và xã hội.

Người ta nại ra nhiều lý do như "ích gì phải kéo dài một cuộc sống không có lợi gì cả", "bệnh nhân thất vọng và tự ý xin được chết mà!"

Ngày 5.5.1980, Bộ Truyền bá Ðức Tin đã ra một tuyên ngôn về vấn đề an tử. Và trong Thông điệp Evangelium Vitae ("Phúc Âm Sự Sống") Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đưa ra hôm 25.3.1995, ngài đã đề cập về vấn đề này như sau:

1. Nếu phải khen ngợi những người tự nguyện lãnh nhận mọi đau khổ để thông phần vào cuộc tử nạn Chúa Kitô, thái độ "anh hùng" ấy không nên được coi như là một bổn phận cho mọi người. Ðức Piô XII đã tuyên bố có thể loại bỏ đau đớn bằng thuốc giảm đau (narcotique), cho dầu có hiệu quả giảm bớt ý thức và rút ngắn sự sống "nếu không còn phương thức nào khác và nếu trong hoàn cảnh ấy, vẫn thực hiện những bổn phận tôn giáo và luân lý (Diễn văn cho các y sĩ hôm 24.2.1957).

Trong trường hợp đó, không có vấn đề cố tìm sự chết, chỉ muốn bớt đau đớn cách hiệu nghiệm nhờ những thuốc giảm đau mà y khoa cho phép dùng, nhưng "không được làm cho người sắp chết mất ý thức, nếu không có lý do quan trọng".

2. "Sau những phân biệt ấy, hiệp với giáo huấn của những vị tiền nhiệm của tôi và hiệp thông với các giám mục của Giáo Hội Công Giáo, tôi xác định việc an tử (euthanasia) là một lỗi phạm lớn lề luật của Thiên Chúa, như một việc giết người dụng ý, không thể chấp nhận theo luân lý được. Giáo lý đó có căn bản trên luật tự nhiên, trên lời của Thiên Chúa ghi trong Thánh Kinh, và Thánh Truyền của Giáo Hội, được quyền giáo huấn bình thường và phổ quát truyền dạy. Hành động an tử có thể là bệnh nhân tựï hủy diệt mình hay bị người khác giết hầu tránh đau đớn vì bệnh hoạn.

Vậy, việc tự tử theo luân lý luôn là hành động không thể chấp nhận được. Theo nguyên lý sâu xa, đây là việc phủ nhận quyền tối thượng của Thiên Chúa trên sự sống và sự chết, như lời nguyện của nhà khôn ngoan của Do Thái: "Chính Ngài có quyền trên sự sống và sự chết, Ngài đưa xuống cửa Hades và đưa lên" (Kngoan 16:13).

Chấp nhận ý muốn tự tử của một người và giúp họ thực hiện là cộng tác, nhiều khi còn là trực tác một sự bất công mà không thể nào đưa ra một lý do giải thích được. Vào thế kỷ thứ 4, Thánh Augustinô đã viết một câu mà vẫn còn ám hạp cho ngày nay: "Giết một người khác, kể cả khi họ muốn, hơn nữa cả khi họ xin, là việc không thể làm được."

Nếu sự sống là một ân huệ Chúa ban và sự chết không thể tránh được, thì phải chấp nhận nó cách tôn nghiêm và với trách nhiệm. Với sự cầu nguyện người tín hữu lãnh nhận trong tinh thần tin cậy mến "khi này và trong giờ lâm tử".

Có những người nói rằng, cũng như phá thai, an tử được luật pháp cho phép. Dù vậy, chúng ta nên biết rằng đây là những tội ác giết người. Từ đầu trong Giáo Hội, các tông đồ dạy các giáo hữu có bổn phận vâng lời đại diện chính quyền hợp pháp (Rm 13:1-7). Nhưng các ngài cũng mạnh mẽ tuyên bố: "Phải vâng lời Thiên Chúa trước khi vâng lời người ta" (Cv 5:29).

Trong Cựu Ước, có một gương sáng đầy ý nghĩa về việc chống lại một mệnh lệnh bất công của người có quyền. Các bà đỡ người Do Thái chống lại mệnh lệnh của truyền giết chết mọi nam nhi sinh ra: "Họ không làm theo điều vua Ai Cập dạy và để cho các con trai được sống" vì "các bà đỡ kính sợ Thiên Chúa" (Xh 1:17).

Các luật cho phép hoặc cổ võ phá thai và an tử, không những chống lại cá nhân mà cả công ích, nên không có giá trị thật sự về pháp luật và do đó không buộc lương tâm. Trái lại, người tín hữu phải theo bổn phận lương tâm không được cộng tác vào những tội ác này. Phải nhận thức các nguyên tắc chung về việc cộng tác vào các tác động xấu. Người tín hữu và những người có thiện chí, được mời gọi theo một bổn phận lương tâm, để từ chối việc cộng tác thật sự vào những hành động trái với luật của Thiên Chúa, cho dầu luật đời cho phép. Theo luân lý, không bao giờ được cộng tác trực tiếp và thật sự vào việc xấu (Rom 2:6; 14:12).

Việc chống lại sự chết và việc đón nhận sự chết là hai thái độ không tách rời nhau của một lối sống của con người, lối sống được mầu nhiệm Phục Sinh của sứ điệp Tin Mừng đem lại cho một ý nghĩa và một niềm hy vọng vĩnh cửu: "Tôi tin xác loài người sẽ sống lại và sự sống đời sau."


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com