PHI LUẬT TÂN, VIỆT NAM VÀ HỒNG KÔNG

Ðức Cha Joseph A. Fiorenza
Giám Mục Giáo Phận Galveston-Houston
Chủ Tịch Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ

 

LTS: Sau khi dẫn đầu Phái đoàn của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đi thăm Phi Luật Tân, Việt Nam, và Hồng Kông vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9 vừa qua, Ðức Cha Joseph A. Fiorenza, Giám mục Giáo phận Galveston-Houston và là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, đã viết lại những điều ngài đã trải qua trong chuyến đi này cho giáo dân của ngài ở Giáo phận Galveston-Houston và được đăng trong tờ báo Texas Catholic Herald của Giáo phận số ra ngày 10.09.1999. Ðọc qua bài viết này của Ðức Cha Fiorenza, ước gì chúng ta thêm lòng cảm tạ Thiên Chúa về đức tin và sức sống đạo mãnh liệt của Giáo hội Mẹ Việt Nam dù còn đang gặp rất nhiều khó khăn; và trong hướng nhìn về thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta hãy hiệp thông với Giáo Hội Việt Nam nói riêng và Giáo Hội Công Giáo Á Châu nói chung trong công cuộc Phúc Âm hoá bằng chính cuộc sống đức tin kiên vững và lòng phục vụ tha nhân của mình.

Theo lời mời của các Hội đồng Giám mục Phi Luật Tân và Việt Nam, tôi đã dẫn một phái đoàn gồm các Ðức Cha và nhân viên trong một chuyến viếng thăm huynh đệ những Giám Mục của hai nước này. Chúng tôi cũng thăm Ðức Hồng Y Ngô và Ðức Cha Tống ở Hồng Kông. Trong chuyến đi Việt Nam, chúng tôi đã gặp các giới chức chính phủ ở miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Vì chúng ta có một số đông những người Công Giáo Phi Luật Tân, Việt Nam và Trung Hoa trong Giáo phận, tôi nghĩ rằng báo cáo chuyến đi của chúng tôi đến quê hương họ là một điều thích hợp.

Bắt đầu ở Manila nơi chúng tôi có một cuộc họp với các chức sắc của Hội đồng Giám mục Phi Luật Tân. Chúng tôi đã thảo luận về bản chung kết của nghị định thư về việc nhận các linh mục Phi làm mục vụ tại Hoa Kỳ. Các Ðức Cha Phi Luật Tân cũng đưa cho chúng tôi hai yêu cầu đòi hỏi sự can thiệp của chúng tôi với Chính phủ Hoa Kỳ. Yêu cầu thứ nhất là yêu cầu Chính phủ Hoa Kỳ thu dọn độc chất thải còn để lại khi rút khỏi Căn cứ Không quân Clark và Căn cứ Hải quân Vịnh Subic. Chúng tôi đã không đưa ra hy vọng gì nhiều về việc Chính phủ Hoa Kỳ sẽ làm điều này bởi vì Chính phủ Hoa Kỳ còn không thu dọn sạch sẽ độc chất thải ở nước mình khi bỏ đi một căn cứ quân sự nữa là.

Yêu cầu thứ hai là kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ trả lại cho Phi Luật Tân hai cái chuông hiện đang đặt ở một căn cứ không quân tại Cheyenne, Tiểu bang Wyoming. Ðược biết dưới tên gọi là chuông Balangiga, hai chuông này bị lính Hoa Kỳ lấy từ một Nhà thờ ở Balangiga vào năm 1902 sau một trận chiến đẫm máu với những người khởi nghĩa bản xứ. Trước khi tấn công bất ngờ lính Hoa Kỳ, quân khởi nghĩa địa phương đã núp trong Nhà thờ. Những người lính Hoa Kỳ xem hai chuông này vật kỷ niệm chiến tích nhưng các giám mục Phi Luật Tân cho rằng đó là tài sản của Giáo hội. Chúng tôi đồng ý làm việc để đạt tới một thoả thuận, đó là một cái chuông sẽ được trao trả lại cho Nhà thờ Balangiga. Thoả thuận này xem ra làm hài lòng mọi người.

Sau cuộc họp, chúng tôi về nhà của Ðức Hồng Y Jaime Sin. Ngài đã khoản đãi chúng tôi một bữa ăn tối. Chúng tôi có một buổi chiều tối thoải mái với Ðức Hồng Y dù rằng ngài vẫn còn ốm thấy rõ và mất nhiều cân. Tuy nhiên, ngài vẫn mạnh mẽ và công khai chống đối việc thay đổi Hiến pháp Phi Luật Tân được Tổng thống Estrada ủng hộ.

Chiều hôm sau, chúng tôi đến Hà Nội trong một cơn mưa bão lớn. Ngày hôm sau, chúng tôi gặp Ðức Hồng Y Phaolô Phạm Ðình Tụng và các giám mục ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi được tóm tắt về tình trạng Giáo hội Việt Nam và mối quan hệ với Chính phủ hiện đã được cải thiện. Bốn năm trước đây, các chủng viện bị đóng cửa từ năm 1975 được phép mở lại. Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế về số chủng sinh vào học mỗi năm, và hạn chế về số linh mục được thụ phong hằng năm. Ðại Chủng viện Hà Nội có 163 chủng sinh theo học cho năm giáo phận.

Chúng tôi có hẹn với Thứ trưởng Ngoại giao và các ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân và Trưởng ban Tôn giáo. Họ tiếp chúng tôi một cách thân tình và chúng tôi có cuộc thảo luận với từng cơ quan. Chúng tôi cảm ơn vì quan hệ với Giáo hội được cải thiện, nhưng còn rất nhiều điều cần phải sửa đổi trước khi có tự do tôn giáo thật sự. Chúng tôi cảm thấy phấn khởi khi đi thăm các văn phòng của Cơ quan Cứu trợ Công Giáo (CRS) và xem thành quả kỳ diệu các văn phòng này đang thực hiện, nhất là với trẻ em tàn tật.

Chính quyền Việt Nam cho phép chúng tôi dâng Thánh Lễ công khai mà chỉ mới một năm trước đây thôi người ngoại quốc khó mà được phép. Ở Nhà thờ Chính toà Hà Nội chúng tôi đồng tế Thánh Lễ Chúa nhật với Ðức Hồng Y Tụng và có hơn 2.500 giáo dân tham dự. Ðây là một kinh nghiệm tuyệt vời cho cả chúng tôi và các tín hữu. Tôi giảng bằng tiếng Anh và được một linh mục Việt Nam đi cùng với chúng tôi dịch ra. Hai ngày sau, bài giảng của tôi được đưa lên mạng lưới điện toán toàn cầu (internet). Chỉ có điều khó chịu là nóng ướt cả người và độ ẩm thì tệ hơn ở Houston. Các nhà thờ không có máy điều hoà không khí.

Sau Thánh Lễ, chúng tôi bay đến Cố đô Huế. Một đoàn tín hữu đông đảo có hơn 3.000 người chờ đợi chúng tôi ở Nhà thờ Chính toà. Chúng tôi dâng Thánh Lễ đồng tế với Ðức Tổng Giám mục Nguyễn Như Thể. Trời nóng gay gắt nhưng phụng vụ thật hay và cả cộng đoàn đông đảo đều cất tiếng hát các phần trong Thánh Lễ. Thật tuyệt diệu và rất cảm động.

Ngày hôm sau, chúng tôi gặp gỡ với các linh mục Huế và sau bài nói mở đầu về thiên chức linh mục cho thiên niên kỷ thứ ba, các cha đặt câu hỏi về Giáo hội tại Hoa Kỳ và cảm tưởng của chúng tôi về Việt Nam. Chúng tôi cũng có gặp các viên chức chính quyền ở Huế và cuộc thảo luận về căn bản giống như những điều chúng tôi nêu ra với giới chức chính phủ tại Hà Nội.

Chúng tôi được phép thăm viếng Ðền Ðức Mẹ La Vang, cách Huế 30 dặm Anh. Chính quyền không cho phép chúng tôi dâng Thánh Lễ tại Ðền nhưng chúng tôi có buổi cầu nguyện và chầu Thánh Thể. Có 400 người tiếp đón và trình diễn cho chúng tôi các điệu vũ sắc tộc của vùng. Tối hôm đó, chính quyền Huế khoản đãi chúng tôi và Ðức Tổng Giám mục Huế một bữa ăn tại một khách sạn địa phương. Sau đó, chúng tôi xem các màn vũ do đoàn múa của tỉnh trình diễn.

Ngày hôm sau, chúng tôi đi vào TP HCM với những công viên và hồ nước lớn thật đẹp. Chúng tôi được Ðức Tổng Giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn tiếp đón. Ngài đã đến thăm tôi ở Houston tháng rồi. Ngài cùng đi với chúng tôi đến gặp các viên chức chính quyền và có một cuộc thảo luận lâu về tự do tôn giáo. Sau này, Ðức Cha Phạm Minh Mẫn bày tỏ sự hài lòng về tinh thần cuộc họp.

Tại TP HCM, chúng tôi gặp gỡ nhiều linh mục và nữ tu tại Trung tâm Tổng Giáo phận. Một lần nữa, chúng tôi có phần hỏi đáp thắc mắc sau bài nói chuyện về chứng tá quan trọng của những người tận hiến trong thế giới tục hoá và chạy theo vật chất. Chiều hôm đó, chúng tôi cử hành Thánh Lễ trong Nhà thờ Chính toà với 4.000 người dự. Ðể hạn chế và kiểm soát lượng người, các vé vào cửa được phân phối đến 235 giáo xứ trong Tổng Giáo phận. Khi chúng tôi ra khỏi Nhà thờ Chính toà, chúng tôi đúng là bị tấn công bởi đoàn người đang chờ đón.

Tại Phi trường, lúc rời đi Hồng Kông, một đoàn người thật đông tụ họp để tiễn đưa và tặng chúng tôi những món quà thật đẹp. Chúng tôi rời Việt Nam với những kỷ niệm tuyệt vời về một dân tộc nồng nhiệt và hiếu khách, và một Giáo hội kiên vững có tổ chức đang hoạt động dưới sự hạn chế của chính phủ.

Ở Hồng Kông, chúng tôi thăm Ðức Hồng Y Gioan Baotixita Ngô và Ðức Cha Phụ tá Gioan Tống. Hồng Kông có 350.000 người Công Giáo trong đó có 120.000 là người Phi Luật Tân. Ðức Hồng Y nói về tình hình Giáo hội kể từ khi Hồng Kông được trao trả dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc. Về căn bản, không có nhiều khác biệt, nhưng Ðức Hồng Y rất thất vọng về việc Ðức Thánh Cha không được phép thăm Hồng Kông trong chuyến đi Ấn Ðộ sắp đến của ngài. Chẳng có gì để nói thêm về lời hứa của Trung Quốc là một khi Hồng Kông được trao trả, sẽ có "một nước và hai chế độ".

Chúng tôi được thông báo về tình hình ở Hoa Lục, cả Giáo hội công khai (Giáo hội yêu nước) và Giáo hội hầm trú. Tình hình không hoàn toàn tiêu cực, và mặc cho sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính phủ, Giáo hội vẫn hoạt động, Phúc Âm được rao giảng, và các bí tích được cử hành. Vài chủng viện đang hoạt động và Chính phủ cho phép ít chủng sinh theo học ở ngoại quốc, kể cả ở Hoa Kỳ.

Cơ quan Caritas Hồng Kông (một dạng của cơ quan Bác Ái Công Giáo Hoa Kỳ với tầm vóc quốc tế) có thể bảo trợ một số chương trình xã hội tại Hoa Lục. Caritas còn hoạt động và phối hợp chương trình thực phẩm cho Bắc Hàn. Ðây là những hoạt động thêm vào của Caritas ngoài việc điều hành nhiều trung tâm giáo dục, gia cư, và y tế ở Hồng Kông.

Suy nghĩ cảm tưởng của chúng tôi về Giáo hội ở các nước đã viếng thăm, chúng tôi hiểu tại sao Ðức Thánh Cha tin rằng trong thiên niên kỷ thứ ba, đức tin Kitô giáo sẽ loan truyền khắp Châu Á như đã loan truyền khắp Châu Âu trong thiên niên kỷ thứ nhất, Châu Mỹ và Châu Phi trong thiên niên kỷ thứ hai. Giáo Hội có một tương lai xán lạn tại Á Châu.

Dịch từ Texas Catholic Herald số ra ngày 10.09.1999

Bản dịch của Duy Linh


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com