TRONG DÒNG ÐỜI

Lm. Phạm Quốc Hưng, CSsR.

ÐỨC GIOAN-PHAOLÔ CẢ:
GIÁO HOÀNG CỦA HY VỌNG

Cách đây ít lâu, trong một bài đăng trên tuần báo National Catholic Register, Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã được gọi là Ðức Gioan-Phaolô Cả. Ðây cũng chính là điều tôi đã được cha David Q. Liptak, giáo sư thần học của tôi, nói với chúng tôi khi còn học ở chủng viện cách đây gần cả chục năm. Tôi không ngạc nhiên trước nhận xét của tờ National Catholic Register và cha David Q. Liptak về Ðức Gioan-Phaolô II. Vì trước những thành quả lớn lao hiển nhiên Ðức Gioan-Phaolô II đã thực hiện cho Giáo Hội và nhân loại trong hơn hai chục năm trên ngôi giáo hoàng, không ai dám phủ nhận tầm vóc vĩ đại của ngài.

Ðiều làm tôi ngỡ ngàng hơn cả là những nhận xét của Ðức Cha Fulton J. Sheen về Ðức Gioan-Phaolô II được ghi trong cuốn tự truyện Treasure in Clay của Ðức Cha từ năm 1979, năm Ðức Cha từ trần và khi Ðức Gioan-Phaolô II mới lên ngôi giáo hoàng vỏn vẹn một năm.

Sau cuộc gặp gỡ giữa hai vị ngày 02-10-1979 tại St. Patrick’s Cathedral ở New York và sau khi nhận thư mừng kỷ niệm 60 năm linh mục của Ðức Gioan-Phaolô II đề ngày 11-10-1979, trong thư đề ngày 26-11-1979 gửi cho Ðức Gioan-Phaolô II, Ðức Cha viết những dòng sau:

"Cầu nguyện cho Ðức Thánh Cha ư? Con luôn làm thế cho Ðấng Ðại Diện Chúa Kitô, nhưng trong chu kỳ khủng hoảng lần thứ tư đang tấn công Thân Mình Chúa Kitô mỗi năm trăm năm này, con cầu nguyện cho Ðức Thánh Cha như cho một Ðức Gregory Cả khác, một Ðức Gregory VII khác, một Ðức Piô V khác, và cho thời đại chúng ta như thi sĩ Slowacki viết: ‘Một Giáo Hoàng người Slav sẽ quét sạch các giáo hội và làm chúng sạch tự bên trong’

"Mỗi đêm khi thinh lặng bao trùm không gian, con cầu nguyện với Chúa Giêsu Thánh Thể cho Vị Chủ Chăn Tối Cao của các linh hồn chúng con, và thẩm quyền luân lý duy nhất còn lại trên thế giới.

"Một mặt, trái tim con rỉ máu cho Ðức Thánh Cha, vì như Thánh Phêrô gõ nơi cửa chúng con, một số trong chúng con như Rhoda nghe tiếng cha nhưng không đón nhận cha vào tâm hồn chúng con.

"Mặt khác, có sự hoàn tất nơi Ðấng Ðại Diện điều đã được nói về Chúa: ‘Kìa, cả thế gian đã theo sau ông ấy’ (Jn 12:19).

"Con ước rằng con còn trẻ hơn để tận hưởng những phúc lành đang đến, vì như một trong những thi sĩ của chúng con đã viết:

"Hãy ngẩng đầu bạn lên và nghe đây

Những tiếng kêu trong đêm tối,

Vì Chân Người đang đến với bạn

Trên những làn sóng nước!"

Ðức Cha viết thêm trong tự truyện của ngài những nhận xét thật độc đáo và đầy tính ngôn sứ sau đây về Ðức Gioan-Phaolô II:

"Tôi tin rằng Ðức Gioan-Phaolô II sẽ đi vào lịch sử như một trong những Giáo Hoàng vĩ đại của mọi thời. Khi ta nhìn qua lịch sử của thế giới Kitô, dường như có một cuộc khủng hoảng khoảng mỗi năm trăm năm. Chu kỳ năm trăm đầu là sự sụp đổ của Rôma, khi Chúa đặt lên Ðức Gregory Cả, người đã từng là nghị viên ở Rôma. Ngài đã trở thành một tu sĩ Biển Ðức và rồi đã đem đến cuộc trở lại của man dân dọn đường cho một Âu Châu Kitô giáo. Chu kỳ năm trăm năm lần thứ hai đem ta đến gần năm 1.000, khi có sự ly giáo ở Ðông Phương và tình trạng sa sút về sự thánh thiện trong Hội Thánh. Ba sự dữ đứng đầu đang thắng thế lúc ấy là tình trạng lang chạ của giáo sĩ, nạn mại thánh hay việc mua bán các chức sắc trong Giáo Hội, và việc cắt cử các giám mục do các hoàng vương hay vua chúa. Ðức Gregory VII, người cũng là một tu sĩ Biển Ðức, đã được Chúa đặt lên để chữa trị cơn khủng hoảng này chống lại nhiều phản kháng từ bên trong và dọn đường cho nền văn minh trung cổ.

"Trong chu kỳ năm trăm năm lần thứ ba, đã có một sự đổ vỡ trong sự hiệp nhất Kitô giáo. Giáo sĩ lại bị hư hỏng, các nữ tu bị tục hóa và mọi người đều nhận thấy cần cải tổ. Một số người đã tiến hành việc cải cách đức tin. Ðâu có gì sai với đức tin. Ðiều cần cải đổi là lối sống. Vị Giáo Hoàng vĩ đại Dòng Ðaminh, Piô V, đã cứu Giáo Hội bằng việc áp dụng những sự cải tổ của Công Ðồng Trent và thiết lập các hoạt động truyền giáo khắp thế giới. Bây giờ chúng ta đang ở chu kỳ năm trăm năm lần thứ tư, với hai cuộc thế chiến trong vòng hai mươi mốt năm, và sự lo sợ khắp thế giới về hiểm họa nguyên tử. Lần này Chúa ban cho chúng ta Ðức Gioan-Phaolô II, người đã lôi kéo sự chú tâm của thế giới hơn bất cứ nhân vật nào trong lịch sử đã thực hiện.

"Tôi tin rằng sự giải thích phải được tìm thấy trong đặc điểm chính của thế kỷ hai mươi. Ðó là thuyết thần bí--không phải là thuyết thần bí đích thực cắm rễ trong Thiên Chúa nhưng là thuyết thần bí giả tạo. Theo ngôn ngữ của Charles Péguy: ‘thuyết thần bí giả tạo kết thúc bằng chính trị’. Thời đại của chúng ta đã thấy thuyết thần bí Ðỏ của giai cấp và đảng nơi chủ nghĩa cộng sản, thuyết thần bí Ðen của quốc gia nơi chủ nghĩa phát-xít, và thuyết thần bí Nâu của chủng tộc nơi Ðức Quốc Xã. Ở những nơi khác trên thế giới, một thuyết thần bí giả tạo không tên như một con rắn độc bóp nghẹt tự do ngôn luận , đàn áp đối lập và ám sát những ai khác mình.

"Ði vào một thế giới của thuyết thần bí giả tạo đầy chính trị, Ðức Gioan-Phaolô II có một thuyết thần bí không chính trị. Ngài không có quân đội, không có những giám đốc vận động quần chúng, không có guồng máy tuyên truyền và đến từ một nước nhỏ nhất trên thế giới. Thuyết thần bí mà ngài rao giảng là thuyết thần bí của tự do con người, tự do không có nghĩa là quyền làm bất cứ điều gì bạn thích, nếu không chỉ kẻ mạnh mới có tự do; tự do cũng không đi đến một thái cực khác của chủ nghĩa chuyên chế định nghĩa tự do là quyền làm bất cứ điều gì bạn buộc phải làm, nếu không chỉ có tự do của đảng. Thứ tự do mà ngài rao giảng là thứ tự do để làm những gì bạn phải làm cho hợp lẽ, và sự hợp lẽ bao gồm một mục tiêu, một mục đích trong đời sống và một ý nghĩa. Thuyết thần bí của ngài khẳng định sự thần thiêng của sự sống, quyền thờ phượng Thiên Chúa theo ánh sáng của lương tâm, và sự dấn thân phục vụ các nhân quyền, những điều như được viết trong Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập của chúng ta: rằng tất cả quyền và tự do của chúng ta đến với chúng ta từ Thiên Chúa.

"Thuyết thần bí không chính trị của ngài đã gợi sự chú ý chưa hề nghe thấy nơi dân chúng Hoa Kỳ một phần vì đất nước chúng ta đã trở thành một nền chính trị không thần bí. Chúng ta đã bị phân rẽ thành đảng phái, bè nhóm, băng hội.từ khi chúng ta phân rẽ hạt nhân bom nguyên tử. Mỗi người chỉ lo đánh nốt nhạc của riêng mình; không ai muốn hát bài ca ái quốc và hiệp nhất. Những đôi tay chúng ta thật đầy, nhưng những trái tim chúng ta thật trống rỗng; chúng ta phải mang cơn đói tâm linh trong khi nhiều nơi trên thế giới phải đói thể xác. Như chiên không có chủ chăn, chúng ta bỗng nhìn thấy giá trị thiêng liêng nơi một con người mặc áo trắng. Với những ai đã tìm được hướng đi, ngài đã trở thành người hướng đạo của họ trong đức tin và luân lý; với những ai đang lạc hướng, ngài đã trở thành một tia hy vọng.

"Hơn một thế kỷ trước, một thi sĩ Balan tên là Slowacki đã viết những lời tiên tri này:

Chúa đã dọn sẵn ngai cho một Giáo Hoàng người Slav

Ngài sẽ quét sạch các giáo hội và làm chúng sạch từ bên trong

Chúa sẽ được bày tỏ, trong suốt như ban ngày, nơi thế giới tạo thành.

"Một phụ nữ Balan chết năm1972 ở tuổi 92 đã biết Cha Wojtyla khi còn là một linh mục trẻ. Trong số những ảnh hưởng của bà ta lúc qua đời là việc người ta tìm thấy trong cuốn sách kinh của bà những lời tiên tri trên của Slowacki, ở dưới bà đã ghi thêm những hàng này: ‘Giáo Hoàng này sẽ là Karol’

".Liền sau Công Ðồng Vatican II, Công Ðồng đã dọn một văn kiện sáng chói về Giáo Hội trong Thế Giới Hiện Ðại, một số người đã biến sự quan tâm của Giáo Hội đối với việc phát triển nhân loại trên thế giới thành chủ nghĩa duy tục, với kết quả là sự sa sút về tâm linh, sự đổ vỡ của đời sống tu trì và sự mất đi tính cách thần thiêng của ơn thiên triệu.

"Nhiệm vụ trước mắt của Ðức Gioan-Phaolô II là khôi phục sự quân bình thánh thiện giữa Nước Thiên Chúa ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian..

".Như tôi thấy mỗi Giáo Hoàng kính trọng Thánh Kinh, Thánh Truyền và Huấn Quyền của Hội Thánh thế nào, tôi coi đó là một bộ ba nhờ đó Lời Chúa đến với chúng ta; và tôi đã nhận thấy được vui chừng nào không những chỉ nghĩ ‘với Hội Thánh’ nhưng còn ‘trong Hội Thánh’. Chúa chúng ta đã nói với Thánh Phêrô: ‘Simon, con Gioan, hãy chăn các chiên của Thày’. Ngài đã không nói: ‘Hãy chăn các chiên của con’. Chúng ta luôn luôn là chiên của Chúa Kitô. Và khi nói về việc được chăn dắt, tôi đã luôn được chăm sóc kỹ lưỡng về tâm linh bởi Thánh Phêrô và từng Ðấng Ðại Diện Chúa Kitô".

Những nhận xét trên đây của Ðức Cha Fulton J. Sheen càng giúp tôi cảm nhận sâu xa sự quan phòng thật huyền diệu của Chúa qua việc ban tặng cho Giáo Hội và thế giới hôm nay Ðức Gioan-Phaolô II. Sự hiện diện và ảnh hưởng của ngài đã làm cho mọi người nhận biết Bàn Tay Yêu Thương Toàn Năng của Thiên Chúa đang tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội và nhân loại trong những ngày cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai và tiến vào thiên niên kỷ thứ ba.

Sự quan phòng huyền diệu của Thiên Chúa nơi con người vĩ đại của Ðức Gioan-Phaolô II còn nhắc tôi nhớ rằng sự quan phòng huyền diệu của Thiên Chúa không phải chỉ dành cho những vĩ nhân trong lịch sử nhân loại, nhưng còn dành cho từng người dù nhỏ bé và thầm lặng đến đâu. Sự vĩ đại đích thực của Ðức Gioan-Phaolô II không phải dựa trên những công việc lớn lao cả thể ngài đã thực hiện cho Giáo Hội và nhân loại, nhưng chính là dựa trên nỗ lực của ngài trong việc nhận biết và thực hiện kế đồ cứu độ đầy yêu thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại nói chung và cho bản thân ngài nói riêng.

Những nhận xét trên đây từ 20 trước của Ðức Cha Fulton J Sheen ngày nay đã trở thành hiện thực. Như vậy, đúng như nhận xét của Ðức Giáo Hoàng Piô XII về Ðức Cha Sheen: Ngài quả là "một ngôn sứ của thời đại".

Tôi sung sướng vì được sống trong triều đại giáo hoàng của Ðức Gioan-Phaolô II và được học hỏi với Ðức Cha Fulton J Sheen về lòng yêu mến và gắn bó với Hội Thánh và Ðấng Ðại Diện Chúa Kitô.

Ước gì tôi biết noi gương Ðức Gioan-Phaolô II, Vị Giáo Hoàng của Hy Vọng, về lòng biệt kính Mẹ Maria cách sâu xa của ngài như chính ngài đã viết trong cuốn Vượt Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng của ngài: "Vào ngày 22 tháng Mười 1978, khi tôi lãnh nhận sứ mạng kế nghiệp Thánh Phêrô, thì hành trang tôi mang theo từ quê nhà, chính là lòng tôn sùng Mẹ Maria, chứ không một thứ gì khác". Nhờ vậy, mong rằng chính tôi cũng trở nên một con người của hy vọng, một người con yêu của Mẹ Maria, như ngài.

(Aug 26, 1999)

 

ÐỌC BA KINH MỖI NGÀY

 

"Mỗi ngày tớ đọc ba kinh."

Ðó là chia sẻ của Cha Giuse Trịnh, một người anh em cùng dòng với tôi, từ cả gần mười năm nay khi cả hai chúng tôi còn là chủng sinh. Vậy mà đến nay tôi vẫn nhớ hoài. Càng suy nghĩ về ba kinh này, tôi càng thấy thú vị và hữu ích biết chừng nào.

Nói đến việc "đọc ba kinh mỗi ngày", nhiều người nghĩ ngay đến ba Kinh Kính Mừng; hay Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và Kinh Sáng Danh; hoặc Kinh Tin, Kinh Cậy và Kinh Mến.

Nhưng đó không phải là "ba kinh mỗi ngày" mà Cha Giuse muốn nói. Ngài nói: "Ba kinh đó là Kinh Thánh, Kinh Nguyện và Kinh Nghiệm".

Ðó cũng là ba kinh mà mỗi người Kitô hữu và bản thân tôi phải đọc mỗi ngày để có thể sống đúng với ơn gọi Kitô hữu cao cả của mình và sống trọn liên hệ yêu thương với Thiên Chúa và tha nhân. Chính vì không quan tâm đọc ba kinh tối cần này mỗi ngày mà nhiều Kitô hữu đã đánh mất niềm tin hay sống một cách bất xứng với thiên chức là nghĩa tử Thiên Chúa của mình.

Kinh Thánh: Thánh Jerome nói: "Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô". Ðọc Kinh Thánh là đọc chính Lời Chúa, là nghe Chúa nói với tôi. Qua Thánh Kinh, Chúa tỏ cho tôi biết Người là ai, Người yêu thương tôi thế nào, và tôi phải làm gì để lãnh nhận và đáp trả tình yêu ấy. Nhưng điều tôi phải lưu ý là Kinh Thánh đã được viết bởi những người có niềm tin, được viết cho những người có niềm tin, và được viết để củng cố niềm tin của họ. Và Kinh Thánh đã được viết dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, được viết trong lòng Giáo Hội, được viết cho Giáo Hội, và được viết để xây dựng Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô. Vì vậy, muốn được hữu ích khi đọc Kinh Thánh, tôi phải đọc với tinh thần đức tin, đọc dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và đọc trong sự vâng phục và hiệp nhất với Giáo Hội.

Thế giới hôm nay sách báo thật là vô số. Biết đọc cuốn nào, bỏ cuốn nào đây? Tôi nhớ đến câu truyện một ông vua muốn các nhà bác học thu gọn tất cả sự khôn ngoan trên thế gian vào một cuốn sách, rồi sau đó sẽ thu lại thành một câu. Và tôi chợt nhận ra rằng Kinh Thánh đáng được coi là một cuốn (hay một bộ) sách chứa đựng không những tất cả mọi sự khôn ngoan trên thế giới mà còn có cả sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Và tên Chúa Giêsu Kitô là bản tóm gọn toàn bộ nội dung Kinh Thánh. Vì Chúa Giêsu Kitô chính là Ðức Khôn Ngoan Nhập Thể, là Thiên Chúa làm Người ở giữa chúng ta.

Kinh Nguyện: Với lời hứa "Hãy xin, thì sẽ được; hãy tìm thì gặp; hãy gõ, thì sẽ mở cho" (Lc 11:9) của Chúa Giêsu, kinh nguyện hay cầu nguyện đã trở thành chiếc chìa khóa thần để mở cửa kho tàng mọi ơn phúc Thiên Chúa dành sẵn cho tôi. Có lẽ không mấy người diễn tả tầm quan trọng của việc cầu nguyện trong đời sống tín hữu cách chính xác hơn Cha Thánh Anphong, Tổ Phụ Dòng Chúa Cứu Thế. Ngài viết "Ai cầu nguyện sẽ được cứu rỗi, ai không cầu nguyện sẽ hư mất". Ngài còn nói: "Nếu phải giảng một bài giảng mà thôi, thì tôi sẽ giảng về cầu nguyện". Với tôi, cầu nguyện chính là sống liên hệ yêu thương với Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô trong Chúa Thánh Thần với sự hiệp nhất với Mẹ Maria, Hội Thánh và tất cả mọi tạo vật đẹp lòng Chúa. Thánh Lễ chính là hình thức cầu nguyện cao quý nhất trong đời sống tín hữu. Các thánh đã không nói quá khi gọi cầu nguyện là hơi thở của người Kitô hữu.

Kinh Nghiệm: Nếu đọc Kinh Thánh là gặp gỡ Chúa nơi Lời Hằng Sống của Người và kinh nguyện hay cầu nguyện là gặp gỡ Chúa trong tâm hồn, thì kinh nghiệm chính là gặp gỡ Chúa trong đời sống hàng ngày nơi mọi người, mọi vật, mọi biến cố Chúa gửi đến cho tôi. Chỉ khi có đời sống thân mật với Thiên Chúa qua việc siêng năng suy gẫm Kinh Thánh và liên lỉ cầu nguyện, tôi mới có thể nhận biết sự hiện diện đầy quyền năng và tình thương của Chúa trong cuộc đời nơi mọi sự việc xảy đến với tôi. Kinh nghiệm trở thành một lời kinh, một lời cầu, khi được đón nhận với cái nhìn tin yêu dưới ánh sáng Lời Chúa. Chính ý thức và cảm nhận sâu xa về sự hiện diện liên lỉ đầy yêu thương của Chúa trong cuộc đời qua việc đọc kinh nghiệm sống dưới ánh sáng đức tin và trong liên hệ với Chúa Kitô mà tôi đã, đang và sẽ tìm được niềm vui sâu xa và bình an vững chắc trong cuộc sống của mình.

Mẹ Maria chính là người đã biết đọc ba kinh này một cách hoàn hảo hơn bất cứ ai. Vì Mẹ là con người của Kinh Thánh; Mẹ là mẫu gương của cầu nguyện; và Mẹ là người hằng theo sát Chúa Kitô trong từng chặng đường đời.

Chính Mẹ sẽ giúp tôi trung thành đọc Kinh Thánh, Kinh Nguyện và Kinh Nghiệm mọi ngày suốt đời tôi. Cũng chính Mẹ sẽ cùng tôi cất lời cảm tạ, ngợi khen, yêu mến Chúa đời đời sau khi hoàn tất cuộc sống dương gian với "ba kinh mỗi ngày".

(Aug 26, 1999).


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com