Lm. Phạm Quốc Hưng, CSsR.

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN.   17-10-1999 : ÐÁNH BẪY CHÚA.

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN.   24-10-1999 :  THIÊN CHÚA PHẢI LÀ TẤT CẢ.

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN.   31-10-1999 : CHỈ CÓ MỘT THẦY. 

CHÚA NHẬT XXXII  THƯỜNG NIÊN.   07-11-1999 :  NGƯỜI KHÔN KẺ DẠI.

 Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật XXIX Thường Niên

17-10-1999
Is 45:1,4-6; 1Thes 1:1-5; Mt 22:15-21

ÐÁNH BẪY CHÚA

 

"Thấu suốt lòng hiểm ác của họ, Ðức Yêsu nói: ‘Tại sao lại đánh bẫy Ta? Ðồ giả hình!’"

Liên tiếp trong Tin Mừng của Phụng vụ bốn Chúa nhật trước đây qua dụ ngôn chủ vườn trả lương bằng nhau cho các thợ được mướn ở những thời điểm khác nhau, dụ ngôn người cha sai hai con đi làm vườn nho với một người chối trước làm sau và một người trước nhận mà sau không làm, dụ ngôn những tá điền bất lương không chịu nộp hoa lợi cho chủ vườn nho và dụ ngôn nhà vua mời khách dự tiệc cưới cho hoàng tử, Chúa Giêsu đã cảnh giác những thượng tế và biệt phái về hậu quả của sự cứng lòng tin của họ đối với Người. Thánh Matthêô viết, "Nghe các ví dụ của Ngài, các thượng tế và biệt phái hiểu là Ngài nhắm đến họ" (Mt 21:45). Nhưng thay vì ăn năn hối cải, họ đã để tâm thù ghét Chúa Giêsu và "tìm phương bắt Ngài, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng coi Ngài như một tiên tri" (Mt 21:46).

Tin Mừng hôm nay cho thấy việc những thượng tế và biệt phái đã thực hiện ác tâm trên của họ qua việc "bàn mưu để làm Ngài lỡ lời mắc bẫy" (Mt 22:15) khi đặt ra cho Ngài câu hỏi thật hóc búa: "Vậy xin nói cho chúng tôi hay: Thầy nghĩ thế nào? Ðược phép nộp thuế cho hoàng đế hay không?" (Mt 22:17). Nếu Chúa Giêsu trả lời rằng họ phải nộp thuế cho hoàng đế, họ sẽ rêu rao với dân chúng rằng Chúa Giêsu là kẻ thỏa hiệp với ngoại bang và không có tinh thần dân tộc để dân chúng khinh ghét Ngài. Nếu Ngài nói không được phép nộp thuế cho hoàng đế, họ sẽ báo cáo với giới cầm quyền Rôma rằng Ngài là kẻ dấy loạn vì đã chống lại chính sách thuế má của hoàng đế để người ta bắt Ngài.

Nhưng họ đã thất bại. Chúa Giêsu đã "thấu suốt lòng hiểm ác của họ" (Mt 22:18) vì Ngài là chính Sự Thật, là Ðức Khôn Ngoan Nhập Thể, là Thiên Chúa, Ðấng thông biết mọi sự. Sau khi bảo họ đưa cho Ngài xem đồng tiền nộp thuế có mang hình hoàng đế, chẳng những Chúa Giêsu không mắc bẫy họ, mà Ngài còn dùng dịp này để vạch trần sự giả hình và ác tâm của họ. Ðồng thời, Chúa Giêsu đã nhắc nhở họ về bổn phận trước tiên và trên hết của họ. Ðó là bổn phận phải sống công chính, bổn phận phải "trả của hoàng đế cho hoàng đế; và của Thiên Chúa cho Thiên Chúa" (Mt 22:21).

Qua sự kiện những thượng tế và biệt phái thất bại trong việc đánh bẫy Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể rút ra ít là ba bài học sau đây:

Trước hết, như nhận xét thật xác đáng của Ðức Cha Fulton J Sheen: "Ðiều quan trọng không phải là những gì người ta nói xúc phạm đến Chúa, hay Con Thiên Chúa, hay Nhiệm Thể của Ngài, nhưng là tại sao họ nói thế. Những gì họ nói thường là một cách lý sự để biện minh cho lối sống của họ. Như một khi người Công Giáo khô khan nói: ‘Tôi không thể tin Bí Tích Giải Tội nữa’, người ấy thực sự đang nói: ‘Tôi đang sống một đời bê bối, và tôi không muốn bỏ lối sống tội lỗi để giao hòa với Chúa".

Thật vậy, khi đến với Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay và đặt cho Ngài câu hỏi về việc có nên nộp thuế cho hoàng đế hay không, những thượng tế và biệt phái không chủ tâm học hỏi với Ngài về bổn phận công dân hay tinh thần dân tộc nhưng là để đánh bẫy Chúa Giêsu, Nhưng khi chủ tâm đánh bẫy Chúa Giêsu, họ đã tự đánh bẫy chính mình. Kết quả là họ đã bị rơi vào cạm bẫy do chính họ đưa ra khi bị Chúa Giêsu vạch trần sự giả hình của họ cũng như tội cứng lòng tin của họ vì đã không chấp nhận giáo lý và con người của Ngài, Ðấng mà chính họ cũng phải nhìn nhận "là người ngay thật, và Thầy dạy đường lối Thiên Chúa một cách chân thành" (Mt 22:16).

Hành động "đánh bẫy Chúa" theo lối những thượng tế và biệt phái khi xưa được lập lại không ngừng trong cuộc sống của nhiều tín hữu hôm nay. Bao người nhìn nhận Ðức Giáo Hoàng là Ðại Diện Chúa Kitô; Hội Thánh chính là Nhiệm Thể của Người; và vì được Chúa Thánh Thần hướng dẫn nên Hội Thánh không thể sai lầm trong các giáo huấn về đức tin và luân lý; nhưng họ lại tìm cách bắt bẻ, chê bai, phản đối các giáo huấn tốt lành của Hội Thánh để bào chữa cho lối sống bê tha tội lỗi của mình.

Khi một linh mục tỏ sự bất mãn với luật buộc các linh mục phải độc thân vì Nước Trời, có lẽ linh mục ấy đang ở trong thế kẹt về tình cảm phái tính. Khi một người trẻ nghi vấn tính cách vô luân của việc sống chung chạ ngoài hôn nhân, người trẻ ấy chắc đang sống trong đam mê xác thịt. Khi một người sống bậc vợ chồng phản đối giáo huấn về sự vô luân tự bản chất của việc ngừa thai nhân tạo hay triệt sản, người ấy rất có thể chưa biết trân quý sự tự chế trong việc vợ chồng và coi con cái như gánh nặng hơn là hồng ân của Chúa. Những người tìm cách đả phá luật bất khả phân ly của hôn nhân thường là những người thất bại trong tình yêu hôn nhân gia đình. Trong những người bất mãn với các giáo huấn về công bình xã hội của Hội Thánh, người ta dễ gặp được những người thuộc giới chủ nhân và giàu có không muốn nâng đỡ giới công nhân và giới nghèo hay những kẻ muốn làm giàu bằng những việc gây hại cho người khác.

Như vậy, thái độ nghi vấn, phàn nàn hay chê trách các giáo huấn của Hội Thánh nơi những người này không làm giảm bớt sự chân thật tốt lành của các giáo huấn của Hội Thánh nhưng đã tố cáo lối sống bê tha phóng túng hay thiếu khiêm nhu quảng đại của chính họ.

Từ đó, chúng ta có được bài học thứ hai: Ðừng "đánh bẫy Chúa" như những thượng tế và biệt phái trong Tin Mừng hôm nay hay như những tín hữu có đầu óc chống báng và bất phục các giáo huấn của Hội Thánh. Ðúng như Ðức Cha Fulton J Sheen thường nói: "Tôn giáo không phải là vấn đề của tranh luận nhưng là vấn đề của quyết định". Quyết định ở đây là quyết định nỗ lực thực hiện các giới răn Chúa và các giáo huấn của Hội Thánh với lòng yêu mến biết ơn hay quyết định tự hủy đời mình và đánh mất ơn cứu độ qua việc phản đối và nghi ngờ các giáo huấn chân thật tốt lành này qua các lý lẽ ngụy tạo để bào chữa cho một lương tâm mờ ám và một đời sống không xứng với phẩm giá con người.

Không phải chúng ta là người chất vấn Tin Mừng Sự Sống của Chúa Kitô và các giáo huấn chân thật của Hội Thánh. Nhưng chúng ta phải để cho ánh sáng Tin Mừng của Chúa và lời giảng dạy của Hội Thánh soi sáng, sửa dạy và uốn nắn đời sống chúng ta. Vì như lời Thánh Phaolô trong phụng vụ hôm nay, "Tin Mừng chúng tôi loan báo không chỉ đến với anh em bằng lời nói mà thôi, nhưng một cách quyền năng, bằng Thánh Thần và sự dồi dào mọi thứ" (1Thes 1:5). Chúa chân thật không lừa dối ai, nhưng những ai muốn "đánh bẫy Chúa" thì quả thực họ là những kẻ đang tự đánh lừa và hủy hoại chính mình.

Bài học thứ ba mà chúng ta có thể rút ra từ Tin Mừng hôm nay là chúng ta phải "trả của hoàng đế cho hoàng đế; và của Thiên Chúa cho Thiên Chúa" (Mt 22:21); nghĩa là chúng ta phải nỗ lực thi hành bổn phận thờ phượng đối với Thiên Chúa cũng như thực thi các nghĩa vụ đối với xã hội và tha nhân. Cụ thể về bổn phận đối với Thiên Chúa là lòng tin yêu vâng phục đơn thật đối với Chúa Kitô và Hội Thánh Người; việc sốt sắng tham dự Thánh Lễ ít là các lễ buộc; siêng năng đến với Bí Tích Giải Tội để giao hòa cùng Thiên Chúa và canh tân liên hệ yêu thương với Người; chuyên cần cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa hàng ngày. Cụ thể trong nghĩa vụ đối với xã hội là việc thi hành các bổn phận công dân như đóng những loại thuế chính đáng; không kiếm tiền cách bất chính bằng việc gian tham trợ cấp xã hội dành cho người nghèo khi đã có thể sống tự lập hay bằng việc buôn bán phim ảnh khiêu dâm và các thứ cần sa ma túy; ủng hộ các ứng viên dân cử có lập trường phù hợp với tinh thần Phúc Âm. Nghĩa vụ cụ thể đối với tha nhân có sẵn trong bảy điều răn cuối trong Thập Giới và Mười Bốn Mối Thương Người. Một khi trung thành với ơn Chúa để thực hiện những điều này, chính chúng ta sẽ trở nên những người thuộc về Chúa, thuộc về Nước Thiên Ðàng. Còn gì đáng ta khao khát hơn điều đó!

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Tòa Ðấng Khôn Ngoan. Xin Mẹ cầu cùng Chúa giúp con đừng bao giơ dại dộtø "đánh bẫy Chúa" và giúp con biết khôn ngoan đón nhận Tin Mừng Chúa Kitô và Huấn Quyền của Hội Thánh với lòng yêu mến vâng phục, biết trung thành với ơn Chúa để dấn thân sống theo các yêu sách của Tin Mừng Sự Sống, biết can đảm và nhiệt tâm bênh vực, trình bày và quảng bá các chân lý cứu độ ấy cho mọi người giữa một thế giới đang bị ảnh hưởng của một thứ "văn hóa tử vong". Amen.

Back to Top Back to Top


 

 

Chúa Nhật XXX Thường Niên

24-10-1999 
Ex 22:20-26; 1 Thes 1:5-10; Mt 22:34-40

THIÊN CHÚA PHẢI LÀ TẤT CẢ

 

"Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi và hết trí khôn ngươi"

Trong một khóa tĩnh huấn nọ, một thuyết trình viên nói với các tham dự viên: "Chúng ta phải đặt Thiên Chúa và đức tin là một phần của cuộc sống chúng ta". Ý ngay lành của thuyết trình viên này là chúng ta không thể loại bỏ Thiên Chúa và đức tin ra khỏi cuộc sống của mình. Nói khác đi, Thiên Chúa và đức tin phải thực sự ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi người chúng ta. Và điều này thật phải lẽ.

Nhưng nếu đặt Thiên Chúa và đức tin chỉ là "một phần trong cuộc sống của chúng ta" mà thôi thì không đúng, cho dù đó là một phần quan trọng hay phần thật lớn đi nữa.

Thật vậy, trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu đã trả lời cho một luật sĩ rằng giới răn lớn nhất và trọng nhất chính là "Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi và hết trí khôn ngươi" (Mt 22:37). Ở đây, Chúa Giêsu đã nhắc lại mệnh lệnh chính Thiên Chúa đã truyền dạy dân Do Thái qua Môsê được ghi trong sách Thứ Luật như sau: "Ngươi sẽ yêu mến Yavê Thiên Chúa của ngươi hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết sức lực ngươi" (Deut 6:5). Tin Mừng của Matthêô ghi nhận Chúa Giêsu đã nhắc lại mệnh lệnh này và thay cụm từ "hết sức ngươi" bằng cụm từ "hết trí khôn", như muốn nhấn mạnh đến ảnh hưởng của trí tuệ trong đời sống đức tin Kitô giữa nền văn hóa La-Hy thời ấy. Tin Mừng Marcô và Luca bao gồm cả hai cụm từ này nhưng theo thứ tự khác nhau (Mc 12:28-34; Lc 10:25-28).

Với những lời này, Chúa Giêsu đã xác quyết rằng Thiên Chúa, niềm tin và tình yêu dành cho Người không phải chỉ là một phần trong cuộc sống chúng ta, nhưng phải là tất cả.

Ðây chính là điều mỗi người tín hữu cần phải ghi nhớ, suy niệm và nỗ lực thực hiện suốt đời. Sở dĩ nhiều tín hữu chưa cảm nhận được sức mạnh của niềm tin, quyền năng của ân sủng và niềm vui của tâm hồn trong cuộc sống là vì họ chưa đặt Thiên Chúa, Ðức Kitô và niềm tin yêu nơi Người là tất cả cho họ.

Nói khác đi, căn bản và cốt lõi của đời sống Kitô hữu được gói trọn trong việc thực hiện giới răn trọng nhất này: Phải yêu mến Thiên Chúa bằng tất cả con người và cuộc sống của mình.

Các Phúc Âm nói đến bốn phương diện để chúng ta thể hiện lòng yêu mến đối với Chúa như sau:

1. Chúng ta phải yêu mến Chúa hết lòng: "Lòng" hay "trái tim" hoặc "tâm hồn" là từ ngữ được dùng rất nhiều trong Thánh Kinh để nói đến chỗ sâu thẳm nhất trong linh hồn người ta. Cũng có tác giả cho rằng chữ "lòng" trong Thánh Kinh còn đồng nghĩa với lương tâm trong luân lý học. "Lòng" ở đây còn dùng để chỉ ý chí là quan năng cao trọng nhất vì nắm phần quyết định và chỉ huy mọi hành vi nhân linh của mỗi người. Theo cách hiểu của đông đảo quần chúng, "lòng" tượng trưng cho tình yêu và cảm xúc của mỗi người. Như thế, yêu mến Chúa hết lòng nghĩa là chúng ta phải đặt Chúa làm đối tượng duy nhất và tuyệt đối của tất cả tình yêu nơi ta và phải quyết định chọn Chúa trước tiên và trên hết trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta. Nếu chúng ta có yêu mến người nào hay vật nào, chúng ta phải yêu người ấy hay vật ấy vì Chúa và trong Chúa. Còn khi yêu mến Chúa, chúng ta phải yêu Chúa vì chính Chúa, Ðấng chính là Tình Yêu và Chân-Thiện-Mỹ.

2. Chúng ta phải yêu mến Chúa hết linh hồn: Trong triết học, linh hồn được định nghĩa là nguyên lý của sự sống nơi con người. Trong Thánh Kinh, linh hồn như được đồng nghĩa với sự sống của một người, sự sống được chính Thiên Chúa tác tạo và vì vậy phải thuộc trọn về Chúa để có thể tìm được sự viên mãn theo kế đồ yêu thương của Người. Yêu mến Chúa hết lòng vì vậy có nghĩa là chúng ta phải hướng cả cuộc sống về Chúa, lấy Chúa làm lẽ sống của mình. Ðiều này được minh họa rõ nét nhất nơi các thánh tử đạo, những con người đã sẵn sàng hy sinh mạng sống của họ để chứng thực tình yêu dành cho Chúa Kitô. Những hành vi hy sinh hãm mình vì lòng mến Chúa trong đời sống hàng ngày cũng được coi như những cái chết nho nhỏ để biểu lộ sự yêu mến Chúa hết linh hồn của người Kitô hữu.

3. Chúng ta phải yêu mến Chúa hết trí khôn: Con người khác con vật ở chỗ có trí khôn biết suy tư và sáng tạo. Yêu mến Chúa hết trí khôn nghĩa là phải biết vận dụng trí khôn trong việc tìm hiểu Chúa và biết sáng tạo trong việc biểu lộ tình yêu đối với Người. Siêng năng đọc Thánh Kinh và các sách thiêng liêng, tham dự các lớp giáo lý hay các cuộc tĩnh tâm, nhất là trau giồi tinh thần cầu nguyện qua việc thường xuyên suy nghĩ về Chúa và sự thiên hảo vô cùng của Người để nhận biết và thi hành Ý Chúa cũng như để giục lòng yêu mến Người, chính là những việc làm để cụ thể hóa bổn phận phải yêu mến Chúa hết trí khôn nơi ta.

4. Chúng ta phải yêu mến Chúa hết sức: Sức ở đây có nghĩa là tất cả khả năng, phương tiện và ảnh hưởng của một người. Yêu mến Chúa hết sức vì thế có nghĩa là chúng ta phải xử dụng tất cả thời giờ, sức khỏe, tài năng, của cải, công việc hay địa vị trong xã hội của ta để chứng thực tình yêu của ta đối với Chúa qua việc xử dụng tất cả những phương tiện này để thực hiện thánh ý Người. Việc đóng góp công của và hy sinh thời giờ để tham dự Thánh lễ hay các buổi cầu nguyện, xây dựng nhà thờ hay giúp các xứ truyền giáo, và tham gia các công tác tông đồ bác ái là những hình thức giúp chúng ta thực hành bổn phận phải yêu mến Chúa hết sức.

Một khi chúng ta thực sự nỗ lực yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức, chúng ta không thể không yêu mến tha nhân. Chúa Giêsu đã xác định rằng giới luật mến Chúa không thể tách rời giới luật yêu người vì con người được tạo dựng nên giống hình ảnh Chúa và luôn là đối tượng của tình yêu Chúa. Liền sau khi truyền mệnh lệnh phải yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã nói tiếp: "Thứ đến cũng giống như điều ấy: Ngươi phải yêu mến đồng loại ngươi như chính mình ngươi. Toàn thể lề luật và các tiên tri đều qui vào hai giới răn ấy" (Mt 22:39-40). Việc yêu người là hệ quả tất yếu của lòng mến Chúa. Nếu chúng ta mến Chúa mà không yêu người thì lòng mến Chúa của chúng ta không phải là thứ lòng mến chân thật.

Chúa Giêsu đã thực hiện điều này cách trọn hảo nơi cuộc đời yêu thương phục vụ và nhất là nơi cuộc tử nạn và phục sinh của Người. Và chính Người đã trở nên mẫu mực cho chúng ta về lòng yêu người: "Các ngươi hãy yêu mến nhau như Ta đã yêu mến các ngươi" (Jn 15:12). Bài đọc một trích sách Xuất Hành trong phụng vụ hôm nay đã cho thấy những việc làm cụ thể để thực hành lòng yêu người: không ngược đãi và áp bức khách ngoại kiều và người goá bụa; không cho vay lấy lời và không bắt chẹt người mang nợ (Ex 22:20-26). Nhưng đây chỉ là một vài khía cạnh tiêu cực của lòng yêu người. Lòng yêu người chỉ đạt đến mức trọn hảo nơi chính Chúa Giêsu Kitô vì "Không có lòng mến nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu" (Jn 15:13).

Vì vậy, cùng với lòng mến Chúa với tất cả con người và cuộc sống, lòng yêu người cũng phải luôn là mối quan tâm trước tiên và trên hết trong cuộc đời của người Kitô hữu.

Lạy Mẹ Maria là Mẹ sinh ra lòng mến tinh ròng, ơn con tha thiết nài xin Mẹ cầu cùng Chúa ban cho con mỗi ngày là được yêu mến Chúa với tất cả tấm lòng, với tất cả linh hồn, với tất cả trí khôn, với tất cả sức lực và lòng yêu mến mọi người như chính mình con, như Chúa đã yêu con. Ðây là cuộc sống của chính Mẹ năm xưa. Vì vậy, xin Mẹ hãy ban cho con lòng mến Chúa yêu người của chính Mẹ, để con cũng được mến Chúa như chính Mẹ mến Chúa và yêu mọi người như chính Mẹ yêu họ. Amen.

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật XXXI Thường Niên

31-10-1999 
Mal 1:14-2:2,8-10; 1Thes 2:7-9, 13; Mt 23:1-12

CHỈ CÓ MỘT THẦY

 

".Thầy của các ngươi chỉ có một, còn các ngươi hết thảy đều là anh em."

Trong Tin Mừng hôm nay, sau khi Chúa Giêsu đã vạch trần sự giả hình của những người biệt phái vì họ chỉ nói mà không làm, chỉ dạy mà không giữ, Người đã ân cần khuyên dạy các môn đệ những lời sau:"Còn các ngươi thì chớ cho gọi mình là Rabbi, vì Thầy của các ngươi chỉ có một, còn các ngươi hết thảy đều là anh em. Và các ngươi đừng xưng hô ai dưới đất là ‘Cha’ của các ngươi, vì Cha của các ngươi chỉ có một, Cha trên trời. Các ngươi cũng chớ cho gọi mình là ‘vị chỉ đạo’, vì vị chỉ đạo của các ngươi chỉ có một: Ðức Kitô" (Mt 23:8-10).

Ở đây, chắc chắn Chúa Giêsu không có ý đả phá việc chúng ta gọi người đàn ông đã góp phần với mẹ chúng ta để sinh ra chúng ta là "cha"; việc các tín hữu Công Giáo gọi các linh mục là "cha", hay việc các học sinh gọi những người giáo dục họ trong các trường học là "thầøy". Ðiều mà Người muốn chúng ta phải ghi nhớ từ những lời khuyên dạy ân cần trên đây là tính cách duy nhất, ưu việt và tuyệt đối của Thiên Chúa và Ðức Kitô trong đời sống của mỗi người chúng ta.

Thật vậy, khi đọc thấy việc Chúa Giêsu vạch trần sự giả hình của những người biệt phái, những người được coi là những bậc thày được trọng vọng trong xã hội Do Thái thời ấy, những người trong chúng ta có bổn phận thay mặt Thiên Chúa để lãnh đạo, hướng dẫn và dạy bảo kẻ khác trong vai trò là chủ chăn, cha mẹ, anh chị hay thầy cô không khỏi chột dạ. Và một cách nào đó, chúng ta có cảm nghĩ như những lời ấy đang nói với chính ta. Vì với bản tính yếu đuối của con người đã bị ảnh hưởng của tội tổ và tội riêng ta đã phạm, chúng ta cảm thấy có sự cách biệt không ít thì nhiều giữa lý tưởng và thực tại, giữa lời giảng dạy và cuộc sống nơi chính mình. Nếu sự cách biệt ấy được gọi là sự giả hình, thì dường như chúng ta đều giả hình, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Ðúng như lời Thánh Phaolô: "Sự lành tôi muốn, tôi không làm; còn sự dữ không muốn, tôi lại làm" (Rom 7:19).

Như vậy, không ai trong chúng ta có thể tự nhận là một người cha hoàn hảo, một người thầy trọn lành, một người chỉ đạo thông suốt vì tất cả chúng ta đều có những yếu đuối và lầm lạc do bản tính nhân loại nơi ta đã bị tổn thương bởi tội lỗi. Vì cha mẹ sinh ra con cái nhưng cha mẹ không phải là chính Sự Sống. Vì thầy cô chuyển thông kiến thức cho học trò, nhưng thầy cô không phải là chính Sự Khôn Ngoan và Chân Lý. Vì người chỉ đạo dẫn lối đưa đường cho ta đến nơi nọ nơi kia, nhưng người chỉ đạo không phải là chính Ðường dẫn đến cùng đích của đời ta.

Ðiều Chúa Giêsu chê trách ở đây không phải là sự yếu đuối bẩm sinh bởi tội nguyên tổ nhưng là thái độ kiêu ngạo đến mù quáng của những người biệt phái, khi họ cố tình chối bỏ tình trạng bất toàn tội lỗi nơi họ, không cảm thấy cần được chữa lành hay cần hối cải, tự đặt mình vào vị trí của Thiên Chúa khi đòi hỏi sự suy phục kính tôn của dân chúng, nhất là đã không nhìn nhận Chúa Giêsu là Ðức Kitô--Thiên Chúa làm Người và Hiện Thân của chính Sự Thật, Tình Yêu và Sự Sống.

Thánh Phaolô cũng từng là một người biệt phái nhưng nhờ ơn Chúa ban và với thiện chí đi tìm Chân-Thiện-Mỹ, ngài đã thú nhận tình trạng yếu hèn của mình để hướng về Chúa Kitô và nhận ra chính Người là Ðấng duy nhất đem lại ơn cứu độ. Thánh nhân viết: "Vô phúc thay con người tôi! Ai sẽ cứu tôi khỏi cái xác chết này? Ðội ơn Thiên Chúa, nhờ Ðức Yêsu Kitô, Chúa chúng ta! (Rom 7:24-25).

Như thế, chỉ những ai biết noi gương Thánh Phaolô khiêm nhường nhìn nhận tình trạng tội lỗi và bất toàn của mình và thành tâm tìm đến Chúa Giêsu Kitô với lòng khao khát kiếm tìm Chân-Thiện-Mỹ mới có thể gặp được nơi Người ơn cứu độ là sự sống đời đời, chung cánh của cuộc đời. Lúc đó, họ sẽ lập lại lời tuyên bố của Chúa Giêsu với tất cả niềm xác tín của mình: Chỉ có một Thiên Chúa là Cha vì Người vừa là Ðấng tác tạo sự sống cho mọi sinh vật vừa chính là Sự Sống Vĩnh Hằng. Chỉ có một Ðức Kitô là Thầy và là Vị Chỉ Ðạo vì Người là Thiên Chúa làm Người để dạy mọi người biết đường về Cõi Sống như chính Người đã tuyên bố: "Ðàng và Sự Thật, Sự Sống, chính là Ta! Không ai đến với Cha mà lại không nhờ Ta" (Jn 14:6)

Tất cả những khủng hoảng và xáo trộn trên thế giới, ngay trong lòng Giáo Hội và tâm hồn mỗi người ngày nay đều bắt nguồn từ việc người ta phủ nhận tính cách duy nhất, ưu việt và tuyệt đối của Chúa Kitô và giáo huấn của Người trong cuộc sống của mình, cũng như thái độ tự đặt mình vào chỗ độc nhất và tối thượng của Thiên Chúa.

Thật vậy, ngày nay nhiều tín hữu đang dại dột phủ nhận quyền giáo huấn của Hội Thánh nơi Ðức Thánh Cha, Ðấng Ðại Diện Chúa Kitô, và các chủ chăn hiệp thông với ngài, để nghe theo ý kiến sai lạc của những nhà thần học đi ngược lại giáo huấn của Hội Thánh hay những lời tuyên bố của một nhân vật nổi tiếng nào đó. Cũng vậy, nhiều người tự nhận mình là Kitô hữu nhưng lại không nhìn nhận Chúa Kitô là Cứu Chúa duy nhất khi chủ trương "đạo nào cũng tốt như nhau".

Vì vậy, chúng ta phải khẳng định rằng bất cứ thái độ nào nhằm tuyệt đối hóa một nhân vật không phải là Ðức Kitô dù vĩ đại đến đâu đi nữa, hay tương đối hóa Chúa Kitô và giáo huấn của Người, đều là những thái độ phản Kitô và khiến con người rời xa Thiên Chúa là chính Nguồn Chân-Thiện-Mỹ. Những như thế không thể chấp nhận được.

Việc nhìn nhận tính cách duy nhất, ưu việt và tuyệt đối của Chúa Kitô không có nghĩa là phủ nhận sự đóng góp cần thiết và cao quý của những người có trách nhiệm lãnh đạo, giáo dục hay hướng dẫn người khác. Nhưng sự nhìn nhận này sẽ giúp các bậc bề trên nhận định đúng chỗ đứng của mình trong chương trình yêu thương của Thiên Chúa. Như vậy, một mặt họ cố gắng noi gương Chúa Kitô trong việc cố gắng sống thực sát với niềm tin và lời giảng dạy của họ để giúp những người do họ hướng dẫn tìm đến Chúa Kitô là chính nguồn Chân-Thiện-Mỹ, Thầy Dạy Tối Cao và Cứu Chúa Duy Nhất của mọi người. Mặt khác, họ sẽ biết khiêm nhường nhìn nhận các giới hạn của mình để tránh xa mọi hình thức tự mãn hay đòi hỏi sự suy phục ngưỡng mộ tuyệt đối của người khác, một điều chỉ dành riêng cho Thiên Chúa.

Những người bề dưới cũng nhờ niềm xác tín rằng chỉ có một Thầy Duy Nhất là Chúa Kitô, sẽ cố gắng nhận ra sự hiện diện của Người nơi gương sáng và những lời giảng dạy tốt lành của các đại diện của Người là những bề trên như cha mẹ, thày cô và những người lãnh đạo. Ðồng thời, họ sẽ dễ dàng cảm thông với những yếu đuối lỗi lầm của các bề trên chứ không bị vấp phạm bởi những sự bất toàn ấy. Vì họ đã biết các vị ấy cũng chỉ là những con người bất toàn như chính họ, những con người luôn cần được Chúa Kitô chữa lành, soi sáng và cứu giúp. Như vậy, họ sẽ luôn bền vững và thẳng tiến trên con đường cứu độ trong mọi hoàn cảnh.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ được gọi là Tòa Ðấng Khôn Ngoan vì Mẹ đã cưu mang Chúa Giêsu là Ðức Khôn Ngoan Nhập Thể. Mẹ được gọi là Mẹ Chỉ Bảo Ðàng Lành vì Mẹ luôn hướng chúng con về Chúa Giêsu là chính Sự Trọn Lành. Xin Mẹ giúp chúng con luôn nhìn nhận Chúa Giêsu là Cứu Chúa Tuyệt Ðối và Thầy Dạy Duy Nhất của chúng con qua việc nỗ lực sống theo các nguyên tắc của Tin Mừng Sự Sống và các giáo huấn chân thật của Hội Thánh, Nhiệm Thể Chúa Kitô. Amen.

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật XXXII Thường Niên

07-11-1999 
Sap 6:12-17; 1Thes 4:12-18; Mt 25:1-13

 NGƯỜI KHÔN KẺ DẠI

 

"Vì bọn khờ cầm đèn mà lại không lấy dầu đem theo mình; còn những người khôn thì đã lấy dầu trong chóe, đem theo với đèn"

Chỉ còn hai tuần nữa chúng ta sẽ kết thúc Năm Phụng vụ với Lễ Chúa Kitô Vua và chuẩn bị bước vào Mùa Vọng để bắt đầu một Năm Phụng vụ mới. Và thật là thích đáng khi nhân những ngày cuối Năm Phụng vụ này, Giáo Hội mời gọi chúng ta hướng về ngày cánh chung của nhân loại cũng như giờ chết của mỗi người, để giúp ta chuẩn bị gặp gỡ Chúa Kitô trong thời điểm định mệnh ấy, qua dụ ngôn mười trinh nữ cầm đèn của mình đi đón lang quân trong Tin Mừng hôm nay.

Cũng như mỗi trinh nữ trong dụ ngôn của Tin Mừng hôm nay được trao ban một ngọn đèn và được mời gọi để chuẩn bị đi đón lang quân, mỗi người chúng ta được Chúa ban cho một cuộc đời nơi trần gian và được Chúa mời gọi để nhận biết, yêu mến và phụng sự Người, ngõ hầu tìm được ý nghĩa đích thực cho cuộc sống đời này và đạt đến hạnh phúc vĩnh hằng sau khi hoàn tất cuộc hành trình dưới thế.

Nhưng không phải mọi người đều giống nhau trong sự đáp trả lời mời gọi bước vào liên hệ yêu thương với Thiên Chúa và chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ Người bên ngưỡng cửa đời đời của cái chết. Chính sự khác biệt trong việc đáp trả lời mời gọi bước vào liên hệ yêu thương với Thiên Chúa và chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ Người nơi cuối đường đời của mỗi người sẽ xác định ai là người khôn và ai là kẻ dại.

Trong dụ ngôn của Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ ra sự khác biệt giữa người khôn và kẻ dại như sau: "Năm cô trong bọn thì khờ, năm khác lại khôn: Vì bọn khờ cầm đèn mà lại không lấy dầu đem theo mình; còn những người khôn thì đã lấy dầu trong chóe, đem theo với đèn" (Mt 25:2-4).

Ở đây chúng ta nhận thấy sự khác biệt cụ thể giữa năm cô khôn và năm cô khờ chính là số dầu trong choé được các cô khôn mang theo dự phòng để dùng khi dầu đang có sẵn trong đèn đã hết trong lúc đón chờ lang quân. Và số dầu này chỉ đủ dùng cho người mang theo chứ không thể chia bớt cho kẻ khác được. Ðiều đáng lưu ý hơn cả là chính việc có hay không có số dầu dự phòng này là yếu tố quyết định việc các trinh nữ được hay không được dự tiệc với lang quân khi người đến.

Như vậy, việc mang theo dầu dự phòng của các trinh nữ trong dụ ngôn này cũng tương tự như việc phải mặc chiếc áo cưới của những khách được mời trong dụ ngôn nhà vua mời khách dự tiệc cưới cho hoàng tử trong Tin Mừng theo Thánh Matthêô đoạn 22:1-14. Vì vậy, số dầu dự phòng này có thể được hiểu như ơn thánh sủng hay sự sống siêu nhiên được thông ban cho ta nhờ liên hệ yêu thương của Thiên Chúa với mỗi người chúng ta trong Chúa Kitô.

Những chi tiết về số dầu dự phòng mang theo trong dụ ngôn của Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ơn thánh sủng hay sự sống siêu nhiên được Thiên Chúa thông ban cho ta nơi Chúa Kitô.

Trước hết, số dầu dự phòng mang theo được các cô khờ coi là không cần thiết khi dầu có sẵn trong đèn của họ vẫn còn. Cũng vậy, ơn thánh sủng hay sự sống siêu nhiên thường bị những con người thế tục và duy vật coi là không cần thiết khi họ đang sống ở trần gian. Như những cô khờ chỉ mang theo đèn với dầu sẵn có mà không nghĩ đến lúc dầu trong đèn sẽ cạn, những người đam mê thế tục chỉ quan tâm đến đời sống hiện tại và sự sống tự nhiên mà không thèm nghĩ đến lúc cuộc đời sẽ chấm dứt. Họ là những người khờ dại vì chỉ biết đến đời tạm mà không thiết tha với đời đời, chỉ biết quan tâm hiện tại mà không biết dự phòng tương lai, chỉ biết chăm lo phần xác sẽ chết mà lãng quên phần rỗi của linh hồn bất tử.

Kế đến, số dầu dự phòng của các cô khôn mang theo chỉ đủ dùng cho chính họ chứ không thể cho kẻ khác được. Cũng vậy, sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa thông ban cho mỗi người nơi Chúa Kitô chính là mối liên hệ yêu thương thiết thân của Thiên Chúa với từng người. Do đó, mối liên hệ thân mật thiết thân này không thể chuyển giao cho người khác được. Mỗi người phải tự lo cho mình. Không ai có thể tin Chúa Kitô, yêu Chúa Kitô và gắn bó cuộc sống của mình với Chúa Kitô thay cho tôi được.

Cuối cùng, vì không mang theo dầu dự phòng trong khi chờ đón lang quân, các trinh nữ dại khờ đã không được dự tiệc cùng tân lang và bị tân lang nói với họ: "Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta không biết các ngươi" (Mt 25:12). Cũng vậy, những người khước từ Chúa Kitô là chính Nguồn Sống Siêu Nhiên, không chấp nhận tin yêu và gắn bó cuộc sống với Người, không muốn thuộc về Người, sẽ đánh mất phần phúc Thiên Ðàng là sự hiệp thông trọn vẹn trong Tình Yêu với Chúa Ba Ngôi, cùng đích của mỗi người chúng ta.

Chắc chắn, không ai trong chúng ta muốn làm kẻ dại cả. Chúng ta tất cả đều muốn làm người khôn. Vì vậy, noi gương các trinh nữ khôn ngoan biết mang theo dầu dự phòng đi đón lang quân, chúng ta hãy mau mắn mở rộng lòng cho Chúa Kitô là chính Ðức Khôn Ngoan Nhập Thể ngự đến và trao ban cho ta sự sống siêu nhiên của chính Người, qua việc kiếm tìm Người, tin yêu Người và gắn bó cuộc sống hiện tại của ta với Người. Nếu chúng ta thực tâm muốn tìm kiếm Chúa Kitô, chắc chắn chúng ta sẽ gặp gỡ Người. Vì Người hằng tha thiết tìm kiếm và mong mỏi gặp gỡ ta ngay cả trước khi ta khởi công kiếm tìm Người. Tất cả hạnh phúc đích thực đời này và đời sau của ta đều ở trong cuộc gặp gỡ này. Bài đọc một trích sách Khôn Ngoan trong Phụng vụ hôm nay đã xác định điều đó như sau:

Khôn ngoan sáng láng, và không hề tàn úa,
những ai mến chuộng, tất sẽ dễ dàng nhìn thấy (dung nhan),
những ai tìm kiếm, khôn ngoan sẵn sàng cho gặp.
Những ai ước muốn, khôn ngoan đã vội đón trước tỏ mình,
Ai ngay sáng sớm đến với khôn ngoan sẽ không phải khổ công,

vì nó đã gặp khôn ngoan ngồi bên cổng nhà mình.
Tâm niệm khôn ngoan là lão luyện tuyệt vời,
ai vì khôn ngoan thức khuya dạy sớm sẽ kíp trút được lo âu.
Vì những ai xứng đáng với mình,
khôn ngoan rảo quanh tìm kiếm,
trên các nẻo đi, khôn ngoan đon đả hiện hình,
mỗi ý nảy ra, khôn ngoan liền ra đón gặp.
Khởi điểm đích thật nhất của khôn ngoan là ước ao học hỏi,
còn lo lắng học hỏi là mến chuộng (khôn ngoan)
(Sap 6:12-17)

Lạy Mẹ Maria là Trinh Nữ Khôn Ngoan Vẹn Toàn, xin Mẹ giúp chúng con biết noi gương Mẹ, luôn mong mỏi kiếm tìm, tha thiết tin yêu và gắn bó cuộc sống với Chúa Giêsu là chính Ðức Khôn Ngoan Nhập Thể, để được trở thành những người khôn thực sự trước mặt Chúa, những người thuộc trọn về Chúa cả đời này và đời sau. Amen.

  Back to Top Back to Top


   Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com