GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BƯỚC VÀO NĂM 2000

(Kỳ 10)

Lm. Hồng Phúc (+)

PHẦN III. CÁC VẤN ÐỀ SÔI BỎNG

Bài 21: Giáo Hội và Gia Ðình

Suy tư về gia đình ngày nay được thể hiện trong bản văn của Ðức Gioan Phaolô II nhan đề: "Chức Vụ Gia Ðình Kitô Trong Thế Giới Ngày Nay" (1981).

Trong khuôn khổ gia đình, con người được mời gọi sống và thực hiện một cách đặc biệt ơn gọi yêu thương nhau. Gia đình Kitô giáo được gọi là "Tiểu Giáo hội" hay "Giáo hội gia tộc". Là một cộng đồng nhiều người hình thành một Giáo hội nhỏ, nơi người ta được đón nhận, được chia sẻ, được xác nghiệm tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Gia đình được coi là một cộng đoàn tình thương sâu xa và mạnh mẽ, giúp cho từng cá nhân cởi mở, phát triển để thực hiện ơn gọi riêng của mình, là phục vụ sự sống, là làm cho xã hội có nhân bản hơn, là tham gia vào sứ mạng của Giáo Hội.

Khi đề cao giá trị gia đình Kitô giáo như vậy, Giáo Hội không có tham vọng lý tưởng hoá gia đình. Giáo Hội biết rõ gia đình cũng có những tranh chấp, những thương đau, những thất bại thật đáng buồn khi họ muốn trở nên một cộng đoàn yêu thương. Nhưng Giáo Hội vẫn hy vọng khi nhận thức các dữ kiện này, Giáo Hội chỉ báo con đường phải đi, có khi lâu dài, đầy cam go, để không tự khép kín mà biết cởi mở chia rẽ với mọi người khác. Giáo Hội dám khẳng định rằng không gì lợi ích cho xã hội bằng gia đình, với điều kiện nó phải dựa trên tình yêu, chấp nhận, tha thứ và tôn trọng nhau, cả những phần tử yếu đuối èo uột nhất, những trẻ con, người tàn tật và già cả.

Tóm lại gia đình là một "tổ chức tình thương" bắt rễ sâu từ nơi Thiên Chúa và mở rộng vòng tay đón nhận tất cả anh em.

 

Bài 22: Ðời Sống Tận Hiến

 

Toà Thánh đã công bố ngày 28.03.1996 Tông hiến Vita consecrata ("Ðời sống Tận hiến"), đúc kết Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới IX về đời tu.

Chúng ta biết trong Giáo Hội đời sống tận hiến hay tu trì giữ một vai trò trọng yếu, từ ngày xa xưa khi những ai muốn tìm lối sống trọn lành đã đi vào tu trong rừng vắng Ai Cập, cho đến ngày hôm nay, lối sống tu trì diễn ra dưới thiên hình vạn trạng. Nguyên trong giới nữ đã có trên 1 triệu nữ tu, với nhiều tu phục khác nhau, đến nỗi có người nói: Chỉ có Thiên Chúa Ba Ngôi mới nhận ra hết được các dòng tu nữ trên thế giới.

Nhưng bộ áo không làm nên thầy tu như người ta thường nói. Ðời sống tu trì hay tận hiến, bao quát nhiều hình thức, từ đời sống chiêm niệm thuần túy cho đến đời tu hoạt động, các tu hội đời, các vị ẩn tu và các trinh nữ được thánh hiến, như được mô tả trong bộ Giáo luật. Nhưng tất cả đều dựa trên việc thực thi ba lời khuyến dụ Phúc Âm hay ba lời khấn, trong một đời sống chung, với mục đích đạt đến sự trọn lành, bắt chước Chúa Giêsu.

Ðức Thánh Cha viết: "Ðời thánh hiến quả thực là một ký ức sống động về lối sống và hoạt động của Chúa Giêsu trong tư cách là Ngôi Lời nhập thể, trong quan hệ với Chúa Cha và với các anh em của Ngài. Ðời thánh hiến là một lưu truyền sống động về cuộc sống và sứ điệp của Chúa Cứu Thế" (số 22).

Dựa trên nền tảng và hướng đi tổng quát ấy, Tông hiến rút ra nhiều hệ luận cụ thể. Là những chứng nhân Chúa Kitô trong thế giới, người tu sĩ có bổn phận truyền giáo dưới nhiều hình thức khác nhau. Trong công tác truyền giáo đó, họ là dấu chỉ đích thực của Chúa. Tông hiến nói đến dấu chỉ bên trong và cả dấu chỉ bên ngoài cho thấy mình thuộc về Chúa trong mọi hoàn cảnh. Ðức Thánh Cha nhắc đến việc mặc áo dòng. Tuy rằng khi có những đòi hỏi tông đồ chính đáng, có thể mang y phục đơn sơ với một huy hiệu đích thực. Về điều này, kinh nghiệm cho thấy, sau Công đồng Vatican II, các dòng tu, nhất là dòng tu nữ, đã thay đổi y phục, nhưng nhiều khi đã đơn sơ hoá quá mức đến độ cả huy hiệu cũng không còn. Vì thế, Tông hiến nhắc lại "cần phải làm sao để y phục xứng đáng và đơn sơ của các phần tử tương ứng với ơn gọi của mình" (số 25).

Khi đề cập đến đời sống tận hiến như một dấu chỉ huynh đệ hiệp thông của Giáo Hội, Tông hiến nhấn mạnh và cảnh giác về sự kiện một số cộng đoàn tu trì coi nhẹ vai trò của Bề trên. Ðức Thánh Cha nói: "Trong những năm biến chuyển sau Công đồng Vatican II, đôi khi người ta cảm thấy cần phải duyệt lại chức năng của Bề trên... Tuy nhiên, cần phải tái khẳng định tầm quan trọng của trách vụ Bề trên, vì đây là điều cần thiết, để củng cố tình hiệp thông huynh đệ và để khỏi làm cho việc tuyên khấn vâng phục trở thành một điều hư vô. Mặc dầu trước hết quyền bính phải có tính chất huynh đệ và thiêng liêng, và do đó bề trên phải biết đối thoại, biết để anh chị em tu sĩ thuộc quyền tham gia vào tiến trình quyết định. Nhưng cần phải nhắc lại rằng quyền quyết định chung kết là điều thuộc về bề trên và chính bề trên có nhiệm vụ phải làm cho các quyết định đó được tôn trọng" (số 43).

Dòng tu là một phần tử Giáo Hội. Công đồng Vatican II dạy các tu sĩ phải hiệp thông với Giáo Hội, cùng cảm thức, suy tư, hành động với Giáo Hội. Tông hiến gợi lại gương tích của các thánh Phanxicô Assisi, Catarina Siêna, Inhaxiô Lôyôla, Têrêxa Hài đồng Giêsu là những gương mẫu về việc yêu mến và vâng phục Giáo Hội.

Tông hiến nói đến tương quan giữa Giám mục và các dòng tu. Tương quan dựa trên sự hiểu biết và tôn trọng nhau. "Mỗi dòng tu đều được quyền tự trị (autonomie) chính đáng... Các vị bản quyền địa phương có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ quyền tự trị đó... nhìn nhận và tôn trọng các đặc sủng... Ðối lại, các tu sĩ hãy quảng đại cộng tác với Giáo phận theo khả năng và theo niềm tôn trọng các đặc sủng của mình..." (số 48).

Tóm lại, mối tương quan giữa dòng tu và giáo quyền địa phương được xây dựng trên sự "tôn trọng" đặc sủng của đôi bên và trên sự "hợp tác" và "đối thoại" thân mật.

Bàn về quan hệ giữa giáo dân và tu sĩ, ngoài việc tham dự vào linh đạo và sứ mạng của mỗi Dòng, Tông hiến đề cao và tăng cường vai trò của các nữ tu (số 57 & 58).

Ðể kết thúc, Tông hiến đề cập đến vài cải tổ mới như về khu nội cấm, về việc các tu huynh trong các dòng hỗn hợp (gồm inh mục và tu huynh) được làm bề trên và về các hình thức tu trì mới, phải dựa trên các yếu tố thần học và Giáo luật cốt yếu qui định.

Thánh Têrêxa Avila nói với chị em trong Dòng mình rằng: "Chúng con là con cái Giáo Hội".

 

Bài 23: Bông Hồng Cho Các Nữ Tu Ở Việt Nam

 

Từ giữa thập niên 80 đến nay, tại quê hươngg Việt Nam, có một sự tăng vọt đáng mừng của chị em nữ tu về trình độ và nhân sự. Ði ngoài đường phố, người ta gặp nhiều chị em ăn mặc như các phụ nữ khác nhưng có một cây thánh giá trên bờ áo hay một chiếc khăn phủ mái tóc đen. Nhất là các chị em có mặt rất đông trong các khoá huấn luyện tu sĩ mà phần lớn mới đầy 30 xuân xanh.

Trong Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới nhóm họp tháng 10 năm 1994 tại Rôma, Nữ tu nguyễn Thị Thanh, Bề trên Tổng quyền Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm, có cho biết về các nữ tu Việt Nam. Mẹ nói: "Ngày nay, hiện có 23 Dòng Mến Thánh Giá thuộc quyền Giáo phận và một Dòng độc lập tại Hoa Kỳ. Tổng số các nữ tu đã khấn hoặc đang ở Tập viện là 3.561, trong số ấy 53% dưới 50 tuổi. Thỉnh sinh khoảng 2.291. Vì thiếu chỗ ở và phương tiện, chúng tôi phải từ chối nhiều đơn xin."

Ðối với một số dòng, tổng số các ơn gọi tại Việt Nam còn đông hơn tổng số các ơn gọi ở các nước hải ngoại qui tụ lại. Trong một số dòng quốc tế, tỉ lệ nữ tu Việt Nam lại đứng hàng đầu. Chẳng hạn, trong số 4.000 nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres thì có 1.042 chị Việt Nam. Dòng Providence có 1.000 nữ tu thì Việt Nam được 460 chị. Có 17 chị Việt Nam trong số 133 chị Dòng St. Paul, 329 chị Việt Nam trong số 27.766 chị Dòng Bác Ái và 135 chị Việt Nam trong số 18.488 chị Dòng Phanxicô Thừa sai của Ðức Mẹ.

Sức sống mãnh liệt cũng như sự hội nhập vào đời sống xã hội Việt Nam là điều ai cũng nhìn thấy, người Công Giáo cũng như người ngoài Công Giáo. Chỉ đan cử Tổng Giáo phận Sài Gòn, từ năm 1975, các dòng tu nữ có mặt trong nhiều phạm vi xã hội. Từ thập niên 70, 80, các chị phục vụ nhà thương, viện tế bần, trại phung và cả trong hợp tác xã... Từ năm 1990, các chị lại bắt đầu xuất hiện trong các trường mẫu giáo, các trạm phát thuốc, các tổ chức xã hội, an sinh. Nhiều cơ sở khác rồi đây cũng mở cửa đón tiếp họ.

Trước viễn ảnh đó, các dòng tu hiện dồn sức lực cho việc đào tạo. Các thỉnh sinh chỉ được nhận sau khi tốt nghiệp Trung học. Các khoá huấn luyện giữ trẻ, y tá, đào tạo từng trăm nữ tu khả dĩ lãnh trách nhiệm tương lai trong xã hội. Một số đang theo học ở Pháp, nhất là ở Phi-luật-tân để có một nền văn hoá, tu đức hay chuyên môn cao hơn.

Nữ tu Hồ Thị Chính, Bề trên Dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán phát biểu: "Khi chúng tôi nhìn đến viễn tượng năm 2000, chúng tôi có cảm tưởng là chúng tôi đang chuẩn bị để trở nên người phụ nữ tương lai."

Trong một bài bình luận trước đây về các nữ tu Hoa Kỳ, một số người tỏ ra bi quan về viễn ảnh tương lai. Nhưng đối với chị em con Hồng cháu Lạc, phải dành một bông hồng cho các nữ tu đang xây dựng tương lai của xã hội.

 

Bài 24: Vấn Ðề Ðộc Thân Linh Mục

 

Trong mục "Tìm Hiểu" của Báo Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, chúng tôi nhận được câu hỏi sau đây của một số độc giả: "Báo Việt Nam Tự Do số 479 ra ngày 28.10.1990 có đăng một tin giật gân ‘Quy chế mới của Toà Thánh-Có vợ vẫn được thụ phong linh mục’". Vấn đề gây hoang mang bàn tán. Sự thật như thế nào?

Chúng ta biết Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới nhóm họp khoá 8 tại Rôma từ ngày 29.09 đến 30.10.1990. Ðề tài thảo luận là: "Việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh của ngày hôm nay". Cuộc họp được đúc kết trong Tông huấn Pastores dabo vobis ("Ta sẽ cho các con các vị mục tử") ban hành ngày 25.03.1992.

Vấn đề độc thân linh mục theo Ðức Tổng Giám mục (giờ là Hồng y) Schotte, Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, cho biết: "Không đặt lại vấn đề vì Thượng Hội đồng năm 1971 đã bàn đến rồi. Nhưng vấn đề vẫn có." Việc độc thân vì Nước Trời là một chứng thư tiên tri chân thực giữa xã hội ngày nay. Tuy nhiên, nhiều cản trở lộ diện khi một số linh mục đặt lại vấn đề, nhiều thỉnh sinh bỏ cuộc, nhất là ngày nay trong một xã hội đầy dục tính. Sống độc thân đòi hỏi sự trưởng thành tình cảm mà trong nhiều nơi người ta nhận thấy giai đoạn tăng trưởng tâm sinh lý thanh thiếu niên lại kéo dài quá mức.

Vì thế, trong Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, vấn đề độc thân cũng được nhắc đến vì nó liên hệ đến việc đào tạo những linh mục tương lai phải sống độc thân.

Luật độc thân là luật của Giáo hội Latinh có từ xưa, dựa theo lời Chúa đã phán: "Có những người hy sinh giới tính vì Nước Trời" (Mt 19:11-12), vì đoàn chiên. Luật ấy đã được hàng giáo sĩ noi giữ từ ba thế kỷ đầu trong Giáo hội và được Công đồng Elvire công bố thành giáo luật năm 308, Công đồng Rôma năm 386 và Công đồng Carthage qui định việc ở độc thân đó nơi giám mục, linh mục và phó tế. Công đồng Vatican II lại tái khẳng định: "Sự chế dục hoàn toàn và vĩnh viễn vì Nước Trời đã được Chúa Kitô khuyến khích, mà qua các thời đại và ngay cả ngày nay vẫn được một số đông Kitô hữu sẵn sàng chấp nhận và tuân giữ một cách đáng khâm phục, nên luôn luôn được Giáo Hội hết sức quí trọng trong đời sống linh mục" (Chức Vụ Linh Mục, số 16). Các nghị phụ Công đồng Vatican II chuẩn y và xác nhận luật độc thân của hàng giáo sĩ như một ân huệ Chúa ban cho Giáo hội Latinh.

Theo Giáo hội Ðông phương thì hàng giáo sĩ có hai thành phần: Thành phần tự nguyện và thành phần có thể có đôi bạn. Nhưng các giám mục chỉ được chọn trong hàng độc thân. Và giáo sĩ có đôi bạn không được tái hôn.

Vậy luật độc thân là luật của Giáo hội. Và đã là luật Giáo hội thì Giáo hội có quyền sửa đổi theo hoàn cảnh. Vậy hiện nay qui chế của Toà Thánh như thế nào? Có phải như tờ báo Thế Giới Tự Do quảng diễn không?

Thưa: Qui chế vẫn như cũ, không có gì thay đổi và được Giáo luật 277/1 qui định rõ ràng: "Các giáo sĩ phải ở độc thân..." Nhưng vì là luật của Giáo hội thì trong vài hoàn cảnh đặc biệt Toà Thánh ban một vài miễn trừ đặc biệt. Ví dụ:

1) Năm 1980 tại Hoa Kỳ, trong Giáo hội Tin Lành Anh giáo (Episcopalian) có sự tranh chấp về vấn đề phong chức linh mục cho phụ nữ. Trên 2.000 giáo dân và 31 vị mục sư xin gia nhập Giáo hội Công giáo. Trong dịp đặc biệt đó, theo đề nghị mục vụ của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, Toà Thánh đã chấp nhận cho 30 vị cựu mục sư muốn làm linh mục được chịu chức thánh mà vẫn ở với vợ con. Trong số 31 vị mục sư đó, có 22 vị có vợ. Nhưng họ chỉ làm việc mục vụ với giáo dân từ Giáo hội Anh giáo (Episcopalian) quay về với Giáo hội Công giáo tức là những người đã từng quen với chế độ mục sư.

Trường hợp hai linh mục ở Ba Tây mà báo Việt Nam Tự Do nói đến dựa theo bản tin của Hãng Thông tấn AP. Ðây là những thừa tác viên hay Phó tế vĩnh viễn, nay vì thiếu linh mục trong hoàn cảnh đặc biệt, được Toà Thánh cho phép chịu chức linh mục mà vẫn sống đời gia đình như trước, để phục vụ đoàn chiên cần đến họ.

Vậy tất cả những trường hợp được nêu lên "có vợ vẫn được thụ phong linh mục" là những luật trừ đặc biệt vì hoàn cảnh chứ không phải là qui chế mới của Giáo Hội.

Chúng tôi chú ý đến câu nói của Ðức Cha Nikodin, Giáo chủ Chính Thống giáo ở Leningrad trước Công đồng Vatican II với tư cách là quan sát viên. Ngài nói: "Nếu thuộc quyền tôi thì tôi nài xin các linh mục Chính Thống giáo ở độc thân. Kinh nghiệm cho tôi thấy như vậy họ tận hiến cho Chúa và các linh hồn hơn. Ðó là giáo huấn của Thánh Phaolô và của lịch sử. Mặc dầu có những kẻ thất trung nhưng luật độc thân là sức mạnh của Giáo hội Lamã. Xin đừng bãi bỏ luật độc thân linh mục."

* *

Như Ðức Cha Schotte, Tổng Thư ký của Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, nói: "Vấn đề độc thân linh mục vẫn còn đó", vấn đề vẫn còn đó nhất là ngày nay trên thế giới đề tài giới tính được quảng bá rộng rãi từ trong học đường đến ngoài xã hội và trở nên một món hàng thương mại thật lớn lao. Trong khi đó vấn đề đạo đức lại sa sút không còn hưng thịnh hơn trước.

Có người lại liên kết hai vấn đề và hai hiện tượng là vấn đề ơn kêu gọi giảm bớt và việc giáo sĩ phải giữ luật độc thân.

Vấn đề đặt ra cách gay cấn như trường hợp ở Bắc Mỹ do một số "cựu linh mục" ngày xưa đã một thời sống dộc thân nhưng nay "bỏ cuộc" được phép hay không được phép và khuấy động dư luận, đặt lại vấn đề như đã tự bàu chữa cho chính mình. Vấn đề cũng được báo chí khai thác ở nhiều nơi, nhất là báo chí thiên tả.

Ðức Hồng y Daniélou kết luận trong một bài phân tích trên báo L’Osservatore Romano: "Việc đả kích chỉ có ý nhắm chống lại Giáo Hội". Chúng ta thử đưa ra vài dữ kiện. Người ta thường nói: "Việc tốt không ồn ào. Ồn ào không sinh việc tốt." (Le bien ne fait pas de bruit. Le bruit ne fais pas de bien.) Vấn đề độc thân là một cuộc cam kết của người tín hữu với Chúa Giêsu vì thương mến, để phục vụ Ngài, trung thành với Ngài, cũng như trong đời sống đôi bạn, vợ chồng thề hứa chung thủy trọn đời thương yêu nhau. Có những đôi vợ chồng thất trung với nhau, nhưng cũng có bao nhiêu người đã giữ lòng trung tín, trên chiếc nhẫn như còn khắc câu: "Mors sola" (Chỉ có sự chết mới chia lìa) mà đã được ghi trên chiếc nhẫn thành hôn của Bà Bá tước Phần Lan Catarina Jagellon. Hàng ngàn, hàng vạn vợ chồng chung thủy không được ai nhắc tới, nhưng khi những đôi thất tín lôi nhau ra toà thì dư luận và báo chí bàn tán xôn xao, đặt thành vấn đề.

Theo bản thống kê gần đây của Toà Thánh trên thế giới hiện có 402.896 linh mục. Thật ra việc thiếu linh mục là vấn đề lo âu lớn của Giáo Hội ngày nay. Thử đan cử bản thống kê của Giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ làm ví dụ.

Năm 1979 có 46.602.035 giáo dân và 35.472 linh mục giáo phận.

Năm 1988 có 53.498.862 giáo dân và 34.791 linh mục giáo phận.

Năm 1989 có 54.918.989 giáo dân và 34.390 linh mục giáo phận.

Tuổi trung bình linh mục là 52 tuổi. Trước đây hai thập niên có 50.000 chủng sinh nhưng đến 1989 chỉ có 7.500. Người ta ước đoán nếu cứ đà này, năm 2000 sẽ có 72 triệu giáo dân và số linh mục sẽ là 22.500. Theo Tờ báo Orange Register năm 1988, Giáo phận Orange ở Nam California có 257 linh mụd phục vụ cho 750.000 giáo dân, trung bình mỗi vị trông coi 2.900 người.

Nhưng hỏi rằng lý do thiếu ơn kêu gọi có phải chỉ vì luật độc thân hay không?

Ðó là điều mà các linh mục hồi tục trong một Ðại hội đã quả quyết. Theo Báo La Croix ngày 26.08.1985, trong khi Toà Thánh chuẩn bị Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới nhóm họp tại Rôma vào tháng 11 năm 1985 để tổng kết thành quả 20 năm sau Công đồng Vatican II, thì các linh mục hồi tục cũng đã nhóm họp với sự hiện diện của vợ con tại ngoại ô Rôma, để tìm cách đạo đạt đến Thượng Hội đồng Giám mục thỉnh nguyện thơ xin bãi bỏ luật độc thân và xin cho họ được phép tiếp tục làm thánh vụ.

Vừa rồi đây ở Hoa Kỳ cũng có một chiến dịch tương tự. Nhà xã hội học Richard Sipe, giáo sư tại Ðại học John Hopkins ở thành phố Baltimore, tiểu bang Maryland, cũng tung ra một bản điều tra lên án hàng lãnh đạo Giáo hội Công Giáo Hoa Kỳ đã "phản bội lời hứa". Một nhà báo khác nổi tiếng khác là Peter Hebblethwaith cũng phụ hoạ theo, cho rằng: "Phải tìm nguyên do sự xuống dốc trong Giáo Hội ở quan niệm quyền tư tế, nghĩa là trong luật độc thân bắt buộc." Nhưng dư luận đâu biết rằng cả hai vị thông thái đó là những vị tu xuất, những cựu linh mục bỏ cuộc.

Vấn đề càng gây cấn khi xảy ra vụ Tổng Giám mục ở Atlanta là Eugene Morino từ chức vì liên hệ tình cảm với cô Long mà báo chí và truyền hình đã phổ biến rùm beng, cũng như ở Pháp có vụ Ðan viện phụ Philippe Aubin và Bà Bề trên Marie Ephrem ở Évreux. thêm vào đó là hồi ký của một linh mục Dòng Ða Minh già 82 tuổi tên là Bruchkberger, danh tiếng vì chuyên mốn tuyên bố và viết những điều giật gân. (A l’heure où les ombres s’allongent - Hồi ký - Albin Michel).

Nhưng vấn đề độc thân có thật là do nguyên do những vụ gây tai tiếng trong hàng ngũ giáo sĩ Bắc Mỹ không? Hay đó là một thuyết sai lầm hầu che đậy một cái gì khác. Bàn về vấn đề này, tờ Nguyệt san Actualité ở Canada cho biết: 2/3 các vụ tai tiếng gán cho giáo sĩ Hoa Kỳ thuộc giới mục sư Tin Lành có vợ con (Remo Mori- 30 Jours, Octobre 1990). Vậy vấn đề khan hiếm ơn gọi không nhất thiết gắn liền với vấn đề độc thân linh mục như nhân quả.

Trước đây, đứng trước Thượng Hội đồng Giám mục, Ðức Hồng y Suenens (Bỉ) cũng đã tuyên bố: "Vấn đề độc thân giáo sĩ không liên can đến việc thiếu linh mục. Vì Giáo hội Tin Lành Anh Quốc cho các mục sư có vợ mà năm 1970 họ vẫn thiếu 3.000 mục sư."

Vậy phải tìm ở đâu cái nguyên do chính yếu? Báo La Dépêche du Midi ở Toulouse (Pháp) vừa có bài của đặc phái viên từ Rôma nhan đề như sau: "Thượng Hội đồng: Bí ẩn về cuộc khủng hoảng ơn gọi - Synode: Le mystère de la crise des vocations". Bài báo viết:

"Ðức Hồng y Godfried Danneels, Giáo chủ Malines-Bruxelles (Bỉ), là một người thực tế. Tuần qua ngài đã đặt vấn đề trước Thượng Hội đồng: Mọi điều kiện thuận lợi xem ra được hội tụ để lôi cuốn ơn gọi làm linh mục như có những gia đình mộ đạo, có trường Công giáo, có họ đạo sống động, vì sao lại có việc dậm chân tại chỗ? Ngày nay, giới trẻ lao mình vào những lý tưởng trần thế, như việc bênh vực nhân quyền, bênh vực môi trường nhân sinh. Còn cho Chúa? Ðức Hồng y đưa ra câu trả lời: ‘Ðó là vì trình độ đức tin quá thấp, chiều cao lòng đạo đức thiếu sót.’"

Trong khi đó, hai hiện tượng mới lạ cho thấy việc Chúa Thánh Thần làm. Hiện tượng thứ nhất xảy ra ở các nước còn đang bị Cộng sản đô hộ. Công cuộc chống cộng không những chỉ có tính cách chính trị hay quốc gia mà còn có chiều hướng tôn giáo. Các giám mục cho biết nhiều ơn gọi đã phát sinh trong cảnh lao tù cải tạo, trong lao công thủy lợi. Nhiều chủng sinh kiên trì chờ ngày được phép lãnh chức để càng lên thì ơn kêu gọi càng gia tăng mạnh mẽ. Bài thuyết trình của hai vị Giám mục Việt Nam đến trong những ngày cuối cùng của Ðại hội Thượng Hội đồng đã làm cho cử toạ hoan nghênh đặc biệt.

Hiện tượng thứ hai xảy ra ở Tây Âu. Ngày nay xuất hiện một thế hệ linh mục và chủng sinh mới. Họ thuộc về các phong trào tu đức như Phong trào Thánh Linh, Phong trào Ðường Canh tân Giáo lý (Chemin Neo-Catéchumenal), được hấp thụ đường lối đạo đức và tìm thấy ơn gọi phục vụ kẻ khác. Cho đến ngày 15.09.1980, ở Pháp có 1.258 chủng sinh và 140 tân linh mục. Tinh thần của Ðức Giáo Hoàng đương kim đã lôi cuốn họ rất nhiều và chính ngài đãban phép cho họ được đạt mục đích phần nào ngoài khuôn khổ cổ điển của chủng viện. "Thần Khí muốn thổi đâu thì thổi" (Gio 3:8).

Trong "Bức Thư Gửi Các Linh Mục" ngày 08.04.1980, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có nói: "Ðộc trinh là một cuộc cam kết vì tình yêu. Giáo Hội am hiểu rằng đó là một cuộc tận hiến vì yêu mến. Nhiều khi phải trải qua những thử thách như lửa." Nhưng cần phải tin cậy và phó thác, lòng tin cậy và phó thác khiến cho Thánh Phaolô đã nói: "Tôi có thể làm hết mọi sự trong Ðấng là sức mạnh tôi" (Phil 4:13). Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục.

Một nhà tu đức có nói: "Giáo đân được các linh mục như họ đáng được". Nói khác đi: tất cả chúng ta phải góp phần vào việc thánh hoá hàng linh mục để xứng đáng được Chúa ban cho những linh mục như lòng Ngài ước ao.

 


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com