Kỷ Niệm 10 Năm Tôn Phong

BẢY VỊ CHÂN PHƯỚC TỬ ÐẠO THÁI LAN

Minh Hồng

Vào ngày 22.10.1999, Giáo hội Công Giáo Thái Lan kỷ niệm 10 năm bảy vị tử đạo được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong chân phước. Ðó là:

Chân phước Philip Siphong, thầy giảng, 33 tuổi.

Chân phước Annê Phila, nữ tu Dòng Mến Thánh Giá, 31 tuổi.

Chân phước Luxia Khambang, nữ tu Dòng Mến Thánh Giá, 23 tuổi.

Chân phước Agata Phutta, giáo dân, 59 tuổi.

Chân phước Cêcilia Butsi, 16 tuổi.

Chân phước Bibiana Khamphai, 15 tuổi.

Chân phước Maria Phorn, 14 tuổi.

Câu chuyện bắt đầu ở Songkhon, một làng Công Giáo Thái Lan nằm về phía Ðông Bắc dọc theo bờ sông Mêkông. Người dân ở Songkhon toàn Công Giáo và ngay từ đầu họ thuộc Tổng Giáo phận Thare-Nongsen.

Năm 1940 là thời kỳ kinh hoàng và xáo trộn ở nhiều nơi trên thế giới. Chủ nghĩa quốc xã đang bắt đầu hoành hành ở Âu Châu và phát xít Nhật đang bành trướng mau lẹ tại Á Châu. Ðứng trước tình hình như thế, ở Thái Lan, người dân cảm thấy sợ hãi. Và một tôn giáo bị xem là của ngoại quốc như Công Giáo hiển nhiên dễ bị xem là con dê tế thần, mặc dầu Công Giáo đã hiện diện trên mảnh đất Thái Lan có trên 350 năm rồi. Trong bầu khí căng thẳng này, những người Thái vốn thường bao dung đã chối bỏ tình bằng hữu bấy lâu nay với người Công Giáo và bắt đầu một cuộc bách hại.

Thế là vào mùa đông năm 1940, cảnh sát ùa vào Songkhon. Hành động thù nghịch đầu tiên của họ là xua đuổi và trục xuất vị cha xứ. Với súng ống trong tay, họ sau đó đi đến từng nhà một để hăm doạ người dân hiền lành chất phác và ra lệnh dân làng phải chối bỏ niềm tin của mình vào Ðức Kitô. Tự nhiên là người dân cảm thấy lo sợ nhưng họ vẫn giữ vẻ trầm lặng và tỏ ra kiên trì.

Cùng sống ở Songkhon có hai nữ tu thuộc Dòng Mến Thánh Giá là sơ Annê và sơ Luxia. Ngoài ra, còn có một thầy giảng xuất sắc là Philiphê Siphong. Vì cha xứ bị trục xuất, ba người này cảm thấy có trách nhiệm đối với cộng đồng Công Giáo và lo hướng dẫn trường làng.

Thầy Siphong củng cố tinh thần của những người dân làng đang sống trong nỗi lo lắng bằng cách đi thăm từng nhà, cầu nguyện với gia đình và dùng lời khuyến khích để củng cố niềm tin của họ. Ðương nhiên cảnh sát rất tức giận với hành động này và quyết định trừ khử thầy.

Và thế là vào thượng tuần tháng 12 năm 1940, cảnh sát gửi cho thầy Philiphê một lá thư như thể là của viên Cảnh sát trưởng ở Mukdahan yêu cầu thầy đi đến đó để gặp ông ta. Dân làng tỏ vẻ nghi ngờ và họ cảnh giác thầy Philip rằng có lẽ đó là lá thư giả và đừng tin cảnh sát. Họ cũng báo cho thầy biết cảnh sát có ý định giết thầy. Tuy nhiên, thầy bảo họ, nếu đúng là như thế thì thầy sẵn sàng chết vì đức tin. Cuối cùng thầy đi Mukdahan với cảnh sát. Thật ra cảnh sát đã dẫn thầy vào trong rừng và bắn chết. Như thế ngày 16.12.1940, thầy Philip Siphong hy sinh vì đức tin và trở thành người đầu tiên trong bảy vị chân phước tử đạo của Thái Lan.

Khi nghe tin về cái chết của vị thầy giảng trung thành, hai nữ tu Annê và Luxia đều buồn sầu và rất sợ hãi. Tuy vậy, hai sơ vẫn tiếp tục chăm sóc trường học và hướng dẫn cộng đoàn. Mỗi ngày, trẻ em trong làng đến tu viện để được dạy dỗ và học giáo lý.

Về phần cảnh sát, họ cứ làm áp lực trên các sơ và cộng đoàn địa phương. Cảnh sát cố tình làm người dân sợ hãi bằng cách nổ súng chỉ thiên và nhiều khi bắn chỉa vào họ. Ngoài ra, cảnh sát còn dùng cái chết của thầy Philip để răn đe dân làng: "Tụi tao sẽ trừ khử tất cả bọn bay như đã từng ra tay với ông thầy giảng đó."

Như mọi người khác, trẻ con cũng khiếp sợ cảnh sát nhưng các sơ khuyến khích chúng và đồng thời cũng cho chính các sơ nữa:

- Nếu cảnh sát giết chúng ta thì chúng ta sẽ trở thành tử đạo cho Chúa Giêsu.

Vào ngày lễ Giáng Sinh (25.12.1940), ông Lue là sĩ quan cảnh sát coi làng Songkhon đi đến nhà các sơ. Ðến nơi thấy các sơ đang giảng dạy đạo Công Giáo cho trẻ em, viên sĩ quan giận dữ và mắng nhiếc các sơ:

- Tao đã bảo bọn bây bao nhiêu lần rồi là không được nói về Giêsu. Bọn bây không được đề cập Thiên Chúa tại Thái Lan, nếu không tao sẽ giết hết.

Sơ Annê, 31 tuổi, là bề trên tu viện, vốn hiền lành nhưng thấy điều viên cảnh sát nói quả là phi lý nên đối chất:

- Thưa ông cảnh sát, ông muốn nói là ông sẽ giết tất cả chúng tôi bởi vì chúng tôi là người Công Giáo và trung thành với đức tin Công Giáo của mình phải không?

Cảnh sát Lue trả lời:

- Ðúng, tao sẽ giết hết nếu tụi bay còn tiếp tục nói về Chúa.

Sơ Annê can đảm cất tiếng:

- Ông nhớ kiếm cho đủ súng đạn.

Viên cảnh sát trả lời:

- Ðược, bọn tao có đủ súng đạn giết hết tụi bay.

Sơ Annê vẫn can đảm:

- Vậy các ông nhớ lau chùi nòng súng cho khỏi kẹt đạn.

Viên cảnh sát kết thúc:

- Ðược, tụi tao sẽ làm y như điều bọn bay muốn.

Chiều tối ngày lễ Giáng Sinh, các sơ chuẩn bị dầu dừa và gửi một chai nhỏ dầu đó cho cảnh sát để lau chùi nòng súng. Sau đó các sơ chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc tử đạo sắp đến bằng cách cầu nguyện và hát thánh ca suốt đêm.

Lúc tối khuya, sơ Annê ngồi xuống và viết một lá thư cho cảnh sát. Có thể nói rằng đây là một tài liệu viết rất đơn sơ nhưng với một niềm tin sống động và hiện còn đang lưu giữ trong văn khố của Toà Tổng Giám mục Thare-Nongsen.

"Thưa Ông Cảnh sát trưởng Songkhon,

Chiều hôm qua, ông đã nhận được lệnh xoá bỏ dứt khoát Danh Thiên Chúa, Ðức Chúa duy nhất của cuộc sống và trí năng chúng tôi. Chúng tôi chỉ tôn thờ mình Ngài mà thôi. Một vài ngày trước đó, ông có đề cập với chúng tôi là ông sẽ không xoá sạch Danh Chúa và chúng tôi hài lòng nên đã không mặc áo dòng. Nhưng hôm nay thì khác hẳn. Chúng tôi tuyên xưng Kitô giáo là đạo thật. Vì thế, chúng tôi muốn đưa ra câu trả lời cho câu hỏi của ông chiều hôm qua mà chúng tôi không có cơ hội đáp trả vì chưa kịp chuẩn bị. Giờ thì chúng tôi muốn cho ông câu trả lời của chúng tôi. Chúng tôi yêu cầu ông cứ việc thi hành lệnh tàn sát chúng tôi. Xin đừng trì hoãn nữa. Hãy xuống tay đi. Chúng tôi sẵn sàng trả lại cho Thiên Chúa mạng sống Ngài đã ban cho chúng tôi. Chúng tôi không muốn trở thành mồi cho quỷ dữ. Hãy ra tay. Hãy mở cửa thiên đàng cho chúng tôi để chúng tôi có thể khẳng định là không ai có thể được cứu rỗi ở ngoài Hội Thánh Ðức Kitô. Hãy xuống tay đi. Chúng tôi sẵn sàng cả rồi. Khi chúng tôi ra đi, chúng tôi sẽ nhớ đến ông. Chúng tôi sẽ cảm ơn và biết ơn ông. Và vào ngày sau hết, chúng ta sẽ gặp nhau mặt đối mặt.

Chúa ơi, xin hãy đợi chúng con. Lạy Chúa, chúng con tuân giữ lệnh truyền và muốn làm chứng tá cho Ngài.

Chúng tôi là Annê, Luxia, Phutta, Budsi, Buakhai, Suwan. Chúng tôi muốn đem bé Phutta với chúng tôi vì chúng tôi rất yêu mến bé.

Thưa ngài cảnh sát, chúng tôi đã quyết định rồi.

Bức thư này là một biểu chứng về đức tin của những vị tử đạo. Mặc dầu viết thật đơn sơ, lá thư đọc lên nghe rất cảm động và lồng trong đó cả sự kiên quyết nữa. Ðiều này nhắc nhớ về chứng tá đức tin của những Kitô hữu đầu tiên bị bách hại trong thời Giáo Hội tiên khởi tại Rôma và vẫn sống mãnh liệt tại Thái Lan trong thời hiện đại.

Cảnh sát phản ứng mau chóng. Chiều hôm sau, ngày 26.12.1940 đúng ngày lễ kính Thánh Têphanô, vị tử đạo đầu tiên của Giáo Hội, cảnh sát đến tu viện và quát tháo:

- Sẵn sàng chưa mấy bà sơ? Nếu sẵn sàng rồi, thì cứ việc đi thẳng đến bờ sông Mêkông.

Nhưng sơ Annê phản đối:

- Không, đấy không phải là chỗ chúng tôi chết cho Ðức Kitô. Chúng tôi phải đi đến nghĩa địa, đất thánh.

Các nữ tu và những người khác xếp thành hàng đến nghĩa địa, vừa đi vừa hát thánh ca và gọi những người dân làng:

- Xin tạm biệt, chúng tôi sẽ về thiên đàng, chúng tôi sẽ trở thành tử đạo cho Ðức Kitô. Hình ảnh những người phụ nữ can đảm đi vào chỗ chết gợi lại cảnh những vị tử đạo thời Rôma xưa vì yêu Ðức Giêsu Kitô đã vui vẻ tiến vào các đấu trường để bị thú dữ ăn thịt.

Thấy cảnh sát đưa trẻ em và các nữ tu ra nghĩa địa, dân làng nhận ra ngay là cảnh sát sẽ giết họ. Người dân làng cũng muốn đi theo cùng chết với các sơ và các bạn. Nhưng cảnh sát dùng súng đẩy qua một bên và giận dữ nói:

- Bọn tao chỉ giết những ai trong hàng mà thôi.

Một bé gái tên Suwan là một trong những người đứng trong hàng. Em muốn trở thành một trong những vị tử đạo của Ðức Kitô nhưng bố em nghe biết sự việc đang xảy ra liền chạy gấp đến nơi để giải cứu em. Còn phần Swan, em bám chặt lấy sơ Annê và van xin:

- Mẹ Annê, hãy giúp con. Con muốn chết với Mẹ và lên Thiên đàng.

- Nhưng con còn quá nhỏ. Ba em nói và giật lấy em đem về nhà và khoá chặt trong phòng.

Khi đến nghĩa địa, những người phụ nữ này quì xuống cạnh một thân cây đã đổ. Họ tiếp tục cầu nguyện và hát thánh ca một cách hăng say trong bầu khí nghiêm trang.

Sơ Annê quay lại nói với cảnh sát:

- Các ông có thể giết chúng tôi nhưng không thể giết Hội Thánh và các ông không thể giết Thiên Chúa. Một ngày kia, Giáo Hội sẽ lại phát triển ở đất nước Thái Lan này hơn bao giờ hết. Các ông sẽ thấy tận mắt điều tôi nói đây sẽ thành sự thật. Chúng tôi thật lòng cảm ơn các ông vì đã gửi chúng tôi về trời. Ở trên đó, chúng tôâi sẽ cầu nguyện cho các ông.

Như biết bao tử đạo đi trước, sơ Annê qua những lời nói này đã biểu lộ tinh thần Kitô giáo chân thật, đầy niềm tin và lòng tha thứ.

Quay về những người trong nhóm, sơ Annê nói:

- Các bạn ơi, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ về trời.

Sau đó, sơ Annê nói với cảnh sát:

- Này, các ông cảnh sát ơi, chúng tôi đã sẵn sàng cả rồi. Hãy làm nhiệm vụ của các ông đi.

Tức khắc cảnh sát liền nổ súng và trước khi rời nghĩa địa còn quát tháo:

- Hãy chôn bọn nó như chôn những con chó vì bọn nó là thành phần bất hảo.

Những người dân làng nghèo đang núp theo dõi sự việc sau những bụi cây gần đó vội chạy đến và bắt đầu lắc các thi thể để xem còn sống hay chết. Họ tìm thấy sơ Annê và em Phorn còn sống nhưng bị thương trầm trọng.

Nhìn quanh, em Phorn cất tiếng:

- Chúng ta đã về Thiên đàng chưa?

Qua những lời giảng dạy của các sơ, em hiểu rằng nếu ai chết tử đạo sẽ được về thẳng nước Thiên đàng, nhưng nhìn quanh em chỉ thấy toàn dân làng. Sơ Annê cũng tỏ vẻ tỉnh táo hỏi:

- Cảnh sát đâu rồi?

Có người trả lời:

- Họ đã đi rồi.

Sơ Annê can đảm nói:

- Vậy nhờ ông gọi họ trở lại vì tôi chưa chết.

Một người tình nguyện về làng báo cho cảnh sát biết là sơ Annê và bé Phorn dù bị thương nặng nhưng chưa chết.

Trong lúc đó, người ta lại nghe một giọng nói mệt mỏi của một em bé gái khác tên là Sorn trong hàng người bị bắn:

- Chúng ta đã về Thiên Ðàng rồi à?

Mọi người ngạc nhiên khi thấy quần áo em nhuốm đầy máu của những người khác bị bắn nhưng em không hề hấn gì. Trên người em không có vết thương nào. Người ta khuyên em:

- Thôi em đi về nhà đi không thôi cảnh sát sẽ trở lại ngay.

Em Sorn chạy về nhà. (Hiện em đã là một bà cụ, vẫn còn sống mạnh tại Songkhon và là một giảng viên giáo lý xuất sắc). Chỉ trong chốc lát cảnh sát trở lại nghĩa địa và bắn chết sơ Annê và bé Phorn đang bị thương.

Như thế, cả thảy có sáu người phái nữ đã bị giết gồm hai sơ và bốn nữ giáo dân. Dân làng vội chôn họ, đặt hai thi thể vào một nấm mồ vì họ không có giờ để làm quan tài.

Nhiều nhân chứng gồm cả những người đem chôn thi thể các vị tử đạo hiện vẫn còn sống. Họ hãnh diện khi kể lại lòng can đảm và sự trung thành của các vị tử đạo đồng hương đã minh chứng vào ngày 26.12.1940.

Những người Công Giáo còn bị bách hại thêm bốn năm nữa trước khi tự do tôn giáo được cho phép trở lại trên đất Thái Lan.

Vừa khi được tự do tôn giáo, Ðức Giám mục sở tại bắt đầu mở cuộc điều tra về bảy người tôi tớ anh dũng của Thiên Chúa đã chết vì danh Ngài trong năm 1940. Sau đó, những báo cáo dựa trên các dữ kiện và lời chứng được thu thập và gửi về Thánh Bộ Phong Thánh tại Rôma để xem xét hầu phong chân phước tử đạo.

Năm 1988, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ra phán quyết đồng ý nâng Bảy Vị Tôi Tớ Chúa lên hàng chân phước tử đạo.

Ðây là một biến cố đầy ý nghĩa trong lịch sử Giáo hội Công Giáo Thái Lan vì có được những vị tử đạo đầu tiên.

Ngày Chúa nhật 22.10.1989, tại Ðền Thờ Thánh Phêrô, trong một Thánh Lễ thật trọng thể, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chính thức tôn phong chân phước cho bảy vị chứng nhân đức tin kiên cường của Giáo hội Công Giáo Thái Lan. Hầu hết các vị giám mục Thái đều có mặt, nhiều người Thái và kiều bào Lào tại Âu Châu và hàng ngàn khách hành hương cũng đổ xô về dự nghi lễ trọng thể này.

Hiện Giáo hội Công Giáo Thái Lan có 2 Tổng Giáo phận, 8 Giáo phận, 1 Hồng y, 20 Giám mục (kể cả về hưu), 312 giáo xứ, 599 linh mục triều và dòng, 1 phó tế vĩnh viễn, 215 chủng sinh, 164 tu huynh, 1.438 nữ tu, 1.673 giảng viên giáo lý, 253.000 người Công Giáo hay là 0,4% dân số (60 triệu).

(Tài liệu của Ðền Ðức Mẹ Các Vị Tử Ðạo Thái Lan ở Songkhon, Thái Lan)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com