CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN. 14-11-1999 : KẺ CÓ NGƯỜI KHÔNG. CHÚA NHẬT LỄ CHÚA KITÔ VUA. 21-11-1999 : NGƯỜI LÀNH KẺ DỮ. CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG. 28-11-1999 : TỈNH THỨC - THỨC TỈNH. CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG. 05-12-1999 : TIẾNG HÔ TRONG THỜI ÐẠI MỚI.
Chúa Nhật XXXIII Thường Niên 14-11-1999
KẺ CÓ NGƯỜI KHÔNG
"Vì, mọi kẻ có thì sẽ được cho thêm mà nên dư dật; còn kẻ không có, thì điều có cũng bị giựt mất" Trong Tin Mừng hôm nay, sau khi kể dụ ngôn người chủ trao vàng cho các đầy tớ, người năm nén, người hai nén, người một nén, rồi trẩy đi xa để khi trở về ông khen thưởng các đầy tớ đã biết sinh lợi với các nén vàng đã nhận và trừng phạt người đầy tớ không biết sinh lợi rồi lại lấy nén vàng của anh để ban cho người đã có mười nén, Chúa Giêsu đã giải thích hành động của người chủ trên đây bằng nguyên tắc như sau: "Vì, mọi kẻ có thì sẽ được cho thêm mà nên dư dật; còn kẻ không có, thì điều có cũng bị giựt mất" (Mt 25:29). Thiên Chúa cũng xử với mỗi người chúng ta theo nguyên tắc này. Theo đó, nhân loại được chia thành hai loại người: "kẻ có" và "kẻ không có". Kẻ có cũng là kẻ được khen thưởng và kẻ không có cũng là kẻ bị khiển trách và trừng phạt. Vậy đâu là điều khác biệt giữa kẻ có người không? Chắc chắn, "có" ở đây không có nghĩa là chỉ có vàng vì cả ba đầy tớ trong dụ ngôn đều nhận được vàng do chủ trao. "Có" ở đây lại càng không phải là có nhiều vàng hơn người khác vì các đầy tớ không phải chịu trách nhiệm về việc họ được trao vàng nhiều hay ít. Chính người chủ là người định đoạt số vàng mỗi đầy tớ được lãnh nhận. "Có" ở đây chính là có ý chí xử dụng những nén vàng đã được trao ban để thực hiện ý muốn của người chủ, để sinh lợi cho chủ. Theo lời khen của người chủ trong dụ ngôn dành cho cả hai đầy tớ đã được trao năm nén và hai nén, "có" ở đây là có sự "lương hảo và trung trực" (Mt 25:21,23). Chính nhờ có sự lương hảo và trung trực ấy, các đầy tớ này sẽ được "vào trong hoan lạc của chủ ngươi" (Mt 25:21,23). Cũng vậy, "không có" ở đây không phải là không có vàng vì đầy tớ bị chủ khiển trách là "bất hảo và lười biếng" (Mt 25:26) cũng có mộtù nén vàng có giá trị giống hệt những nén vàng của những đầy tớ được chủ khen thưởng. Như vậy, điều "không có" nơi đầy tớ này chính là không có sự "lương hảo và trung trực" (Mt 25:21,23), không có thiện chí thực hiện ý chủ, không chịu làm sinh lợi cho chủ dù đã biết ý chủ. Và chủ sẽ lấy lại nén vàng mà đầy tớ này đã có trước kia để trao cho người có mười nén và đuổi đầy tớ "không có" này ra ngoài "ở đó sẽ phải khóc lóc và nghiến răng" (Mt 25:30). Giáo Hội đặt dụ ngôn những nén vàng trong Tin Mừng hôm nay trước mắt chúng ta trong những ngày cuối Năm phụng vụ này để nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm phải có đối những nén vàng là những ân lộc Chúa đã trao ban cho ta. Hạnh phúc đích thực của cuộc đời hiện tại cũng như số phận đời đời của mỗi chúng ta đều tùy thuộc vào cách thức chúng ta xử dụng những ân lộc Chúa ban: sự sống, niềm tin, Phúc Âm, các bí tích, sách báo đạo đức, thời giờ, gia đình, bạn hữu, ơn gọi, tài năng, nghề nghiệp, sức khỏe. Khi dấn thân vào việc tận dụng mọi ân lộc Chúa ban sống để sống theo lề luật Chúa và giáo huấn của Hội Thánh, để làm trọn các đòi hỏi của Tin Mừng, để thực thi thánh ý Chúa, chúng ta không cần phải có những tài năng siêu việt nhưng chỉ cần có một ý chí kiên cường để cộng tác với Ơn Chúa và hoàn tất chương trình yêu thương Người dành sẵn cho ta. Ðức Cha Nguyễn Văn Thuận đã khẳng định điều này như sau: "Tất cả mọi người không cần tài ba lỗi lạc mới nên thánh được, chỉ cần ơn Chúa và ý chí của con. Ít người nên thánh, vì học tập thành tài dễ hơn là thay đổi cả cuộc sống nên thánh" (Ðường Hy Vọng #87). Ngài thêm: "Muốn nên thánh chỉ cần hai điều: Ơn Chúa và ý chí của con. Ơn Chúa không thiếu, nhưng liệu con có đủ ý chí không?". Ơn Chúa cũng như những nén vàng chủ trao cho tất cả các đầy tớ, dù kẻ được hơn người được kém nhưng tất cả đều có phần theo ý định khôn ngoan đầy yêu thương của Chúa. Nhưng chỉ những ai có ý chí xử dụng ơn Chúa để sống niềm tin, sống đời mến Chúa yêu người, thực thi thánh ý Chúa, theo sát các đòi hỏi của Tin Mừng để làm trổ sinh các hoa trái thánh thiện mới được kể là "lương hảo và trung trực" và được hưởng hạnh phúc vĩnh hằng với Chúa. Khi sống theo ý hướng thánh thiện ấy, chắc chắn những người này phải trả một giá rất đắt. Họ phải chấp nhận lội ngược dòng đời để tìm về Chân-Thiện-Mỹ với những hy sinh, kỷ luật, mất mát, mệt mỏi, tủi nhục và đôi khi cả tù đầy, tra tấn, chết chóc, để sống như "con cái sự sáng và con cái của Ngày" (1 Thes 5:5) như lời Thánh Phaolô trong Bài đọc hai của phụng vụ hôm nay. Nhưng cuộc đời của họ là một cuộc đời đáng sống và đong đầy ý nghĩa. Còn nếu khước từ việc dấn thân sống ngược dòng đời để chọn một cuộc sống buông thả cầu an theo số đông của con người thời đại cho hợp với tinh thần thế gian như mây trời xuôi theo chiều gió hay bọt bèo mặc sóng nước đẩy đưa, người ta sẽ đánh mất sự "lương hảo và trung trực" mà Chúa Kitô muốn thấy nơi những môn đệ đích thực của Người, những người biết sống theo sự thật và lòng mến. Thánh Phaolô trong phụng vụ hôm nay đã cảnh cáo những con người chọn lối sống cầu an và khước từ việc dấn thân sống theo các đòi hỏi của Tin Mừng với những lời sau: "Ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong đêm tối. Khi người ta nói: Bình an và chắc chắn! Thì bấy giờ là lúc tiêu diệt thình lình ập đến trên họ, ví thể nỗi quặn đau của người thai nghén, và họ sẽ không trốn thoát được!" (1 Thes 5:3). Như vậy, trong ánh sáng của Tin Mừng hôm nay, điều chúng ta cần phải thiết tha cầu xin cùng Chúa và cố gắng đạt được chính là một tâm hồn lương hảo và trung trực hay một ý chí sống thánh. Chúng ta có thể rèn luyện bản thân để có được ý chí sống thánh ấy bằng những việc cụ thể như sau: - Năng nhớ đến Chúa và Ðức Mẹ bằng những lời nguyện vắn tắt như: "Cùng với Mẹ con làm việc này để mến Chúa"; "Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi", "Lạy Chúa, Chúa biết con mến Chúa"; "Lạy Chúa, con thà chết chẳng thà phạm tội mất lòng Chúa". - Lần chuỗi Mân Côi trong gia đình mỗi ngày. - Ðọc một đoạn Kinh Thánh mỗi ngày. - Ðọc, viết, nghe, xem và cổ động các sách báo và văn hoá phẩm góp phần bồi dưỡng tâm linh và xa lánh, ghê tởm, tẩy chay những phim ảnh sách báo dâm ô đồi bại. - Hết sức tránh nói dối hay nói xấu người khác. - Tham dự Thánh Lễ mỗi ngày khi có thể. - Quảng đại đóng góp công của cho sinh hoạt giáo xứ hay cộng đoàn của mình và những người cần được giúp đỡ. - Tham dự tích cực trong một hai đoàn thể Công Giáo Tiến Hành hay các nhóm Sống Lời Chúa. - Tận tâm chu toàn bổn phận trong gia đình, học đường, sở làm và xứ đạo. - Xét mình mỗi ngày và xưng tội hàng tháng. Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu cùng Chúa giúp con có sự lương hảo và trung trực để luôn sống trong tình yêu và sự thật để làm đẹp lòng Chúa và được thuộc trọn về Chúa bây giờ và mãi mãi. Amen. Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R. Lễ Chúa Kitô Vua 21-11-1999
NGƯỜI LÀNH KẺ DỮ
"Ngài phân tách người ta ra khỏi nhau, một thể như người chăn chiên tách chiên ra khỏi dê" Thật thích hợp khi Giáo Hội kết thúc năm phụng vụ với Lễ Chúa Kitô Vua bằng việc đặt trước mắt chúng ta đoạn Tin Mừng hôm nay, trong đó Chúa Giêsu đã tỏ cho chúng ta biết trước những gì sẽ xảy đến cho mỗi người chúng ta trong ngày chung thẩm. Ở đây, một lần nữa Chúa Giêsu khẳng định những chân lý liên quan đến số phận đời đời của mỗi người chúng ta: không phải mọi người đều có chung kết tốt đẹp như nhau là được hưởng phúc thiên đàng với Chúa như lạc thuyết cứu độ phổ quát chủ trương, nhưng chính Chúa sẽ "phân tách người ta ra khỏi nhau, một thể như người chăn chiên tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì người đặt bên phải, còn dê thì ở bên trái.Và chúng (kẻ dữ) sẽ phải vào cực hình đời đời, còn kẻ lành thì được vào sự sống đời đời" (Mt 25:32-33,46); nghĩa là có sự phân biệt giữa người lành kẻ dữ. Nhiều người đã giải thích đoạn Tin Mừng về ngày chung thẩm trên đây một cách thật hẹp hòi sai lạc khi họ nhấn mạnh đến việc phải thi hành một số việc từ thiện như cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho khách đỗ nhà, cho kẻ mình trần áo mặc hay thăm viếng người đau ốm tù đầy như yếu tố duy nhất để được hưởng phúc Thiên Ðàng. Những người này thường lý luận như sau: "Ðến ngày phán xét, Chúa không hỏi ta có đi lễ mỗi Chúa Nhật hay không, có đọc Kinh Thánh hay cầu nguyện mỗi ngày không, có giữ mình trong sạch không, có ăn nói thật thà không, có ăn chay hãm mình không; nhưng Chúa chỉ hỏi ta có cho kẻ đói ăn, có cho kẻ khát uống, có cho kẻ mình trần áo mặc hay có thăm viếng người đau ốm tù đầy không mà thôi". Từ lối lý luận này, người ta dễ đi đến thái độ coi nhẹ việc cầu nguyện, hy sinh và những việc giúp ta nuôi dưỡng đời sống tâm linh trong liên hệ tin yêu trực tiếp với Thiên Chúa mà chỉ chú trọng đến những hoạt động từ thiện bên ngoài trong liên hệ tương trợ với tha nhân. Ðó là thái độ đặt sinh hoạt lên trên bản thể, đặt hoạt động lên trên cầu nguyện, và đặt con người lên trên Thiên Chúa. Và dĩ nhiên, thái độ này không phải là thái độ được đặt căn bản trên Tin Mừng của Chúa Kitô. Trong ánh sáng của Lời Chúa trong phụng vụ hôm nay, Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy rõ rằng chúng ta được cứu rỗi không dựa trên công việc của chúng ta nhưng dựa trên bản thể của chúng ta, không dựa trên sự kiện chúng ta đã làm gì cho bằng dựa trên sự kiện chúng ta là ai và thuộc về ai. Ðó là nguyên tắc về sự ưu việt của bản thể trên sinh hoạt và con người trên của cải mà Giáo Hội luôn nhấn mạnh. Thật vậy, việc phán xét của Chúa trong ngày chung cánh suy cho cùng là một việc nhận diện. Chúa sẽ chỉ cho mỗi người biết họ là chiên hay là dê, là người lành hay kẻ dữ, là người thuộc về Chúa Kitô hay là kẻ thuộc về Satan, là người thuộc về Nước Trời và phần phúc thiên đàng hay thuộc về quyền lực của tội lỗi và phần phạt hỏa ngục. Chính vì thế, khi Chúa nói với những người sẽ được phúc thiên đàng, Chúa đã gọi họ là "những kẻ được Cha Ta chúc phúc" (Mt 25:34) trước khi kể ra các việc thiện của họ. Và chính những người lành đã nhìn nhận là họ không biết những việc đó là những việc sẽ đem lại phúc thiên đàng cho họ. Ðiều đó có nghĩa là những người lành làm những việc thiện vì họ có tâm hồn lương hảo và trung trực. Sinh hoạt của họ tốt lành vì được phát sinh từ bản chất tốt lành của họ và góp phần làm cho họ ngày càng tốt hảo và trở nên giống Chúa hơn. Bản chất của họ là chiên nên họ sẽ bước theo Chúa Kitô, Ðấng là chính Thiên Chúa và là Chúa Chiên Lành của họ, Ðấng đã dùng Tiên tri Êzêkiel trong bài đọc một của phụng vụ hôm nay để âu yếm nói với họ: "Chính Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta, và ta sẽ chăm nom đến chúng. Một cách công minh, Ta sẽ chăn dắt chúng" (Ez 34:11-16). Nói theo ngôn ngữ của Thánh Phaolô trong phụng vụ hôm nay, họ là "các kẻ thuộc về Ðức Kitô" (1 Cor 15:23), là những kẻ tin vào Chúa Kitô và gắn bó kết hợp với Người trong mọi bối cảnh của cuộc đời, là những người biết nghe và giữ Lời Chúa và thi hành ý Chúa. Vì là chiên của Chúa Kitô nên khi sống giữa mọi người họ "không muốn biết gì ngoài Ðức Kitô Yêsu, và là (Ðức Kitô Yêsu) bị đóng đinh Thập giá" (1 Cor:2:2). Thế nên, họ không biết tách biệt giữa việc mến Chúa và việc yêu người; họ không biết phân rẽ giữa niềm tin và cuộc sống; họ không biết làm ngơ trước những nhu cầu đau khổ của kẻ khác; họ không biết hãnh diện khoe khoang về những việc bác ái nhưng coi những việc đó là những việc đương nhiên phải làm đối với họ; họ không biết sống theo lối thế gian; họ không biết oán thù gian dối; họ không biết cố chấp ở lì trong tội lỗi nhưng luôn nhìn nhận sự yếu hèn tội lỗi của mình để cậy dựa tuyệt đối vào lòng thương xót và ân sủng Chúa để sống vươn lên theo các đòi hỏi của Phúc Âm. Cũng vậy, trước khi kể ra những thiếu sót của những người sẽ bị luận phạt, Chúa đã gọi họ là "phường bị chúc dữ" (Mt 25:41). Và những kẻ dữ đã phân trần là họ đã không biết là những sự thiếu sót về đức ái của họ sẽ dẫn họ đến hình phạt đời đời. Ðiều đó có nghĩa là những kẻ dữ đã không làm những việc thiện vì họ không có tâm hồn lương hảo và trung trực. Tâm hồn bất hảo và gian ác của họ dẫn đến cách sống gian dối bất lương của họ. Hay nói khác đi, vì tiếp tục lối sống gian ác tội lỗi mà không chịu thống hối ăn năn, họ đã tự chọn trở thành những con dê không thuộc đàn chiên của Chúa, những con cái của quyền lực tối tăm và hỏa ngục. Sự phân trần này không làm thay đổi bản chất của họ cũng như sự luận phạt của Chúa đối với họ. Thành ngữ "không biết không có tội" cần được lưu ý ở đây. Thành ngữ này hợp lý trong trường hợp chữ "biết" được hiểu theo nghĩa hẹp về sự nhận thức những dữ kiện cụ thể cần có trong một quyết định nào đó. Ví dụ, một người thợ săn không biết là có người trong lùm cây mà tưởng là thú dữ nên nổ súng làm chết người chẳng hạn. Nhưng thành ngữ này không thể biện minh cho sự vô tội của những người cố tình chọn lựa một lối sống đi ngược lại phẩm giá con người và chống lại luật Chúa đã ghi khắc trong lương tâm của họ, như những kẻ chủ trương tự do phá thai hay tự do có những hành vi tính dục ngoài hôn nhân được. Ðối với những người này, hai tiếng "không biết" trong thành ngữ "không biết không có tội" mà họ dùng để bào chữa cho lương tâm chai lì gian dối của họ chính là hai tiếng "không biết" của những kẻ bị Chúa luận phạt trong Tin Mừng hôm nay. Vì không chấp nhận sống theo thánh ý Chúa và những đòi hỏi của Tin Mừng Chúa Kitô, được thể hiện qua giáo huấn của Hội Thánh hay sự nhắn nhủ của Thần Khí nơi lương tâm của những người lương hảo, những kẻ dữ đã tự biến mình thành những con dê, những con cái của quyền lực tội lỗi, những nô lệ của ma quỉ và những công dân của hỏa ngục. Vì vậy, họ không biết sống trong tình yêu và sự thật, không biết chạnh lòng thương đối với những người đau khổ nghèo hèn, không biết sống thanh cao cho xứng với phẩm giá con người, không biết nhìn nhận sự thần thiêng của sự sống con người, không biết trân quý các giá trị siêu nhiên, không biết khao khát những gì là Chân-Thiện-Mỹ, không biết ghê tởm những việc làm đồi bại của mình, không biết dấn thân bước theo con đường khôn ngoan của thánh giá, không biết nhìn nhận sự yếu đuối tội lỗi của mình để sám hối ăn năn và không biết tin yêu Chúa Kitô, Hiện Thân của chính Thiên Chúa Toàn Năng Toàn Ái. Tóm lại, quang cảnh ngày chung thẩm của Tin Mừng hôm nay đòi hỏi chúng ta phải nghiêm chỉnh xét lại đời sống và con người của chính mình: tôi đang là người lành hay kẻ dữ; tôi đang thuộc về đàn chiên của Chúa Kitô hay đàn dê của Satan; tôi đang cảm thấy an vui trong lối sống xả kỷ vị tha và bước đi trên con đường hẹp của thập giá Chúa Kitô, hay tôi đang quên lãng số phận đời đời của mình để sống ích kỷ buông thả theo lề thói của thế gian với những đam mê tội lỗi? Ðời sống đức tin của ta chẳng qua là một quá trình nỗ lực liên lỉ trong việc cộng tác với ân sủng của Chúa Kitô để được Thần Khí biến đổi bản thân ta từ dê thành chiên, từ kẻ dữ nên người lành, để được thuộc trọn về Chúa Kitô và Vương Quốc Tình Yêu và Sự Sống Vĩnh Cửu của Người. Lạy Mẹ Maria là Nữ Vương Thiên Ðàng, xin Mẹ giúp con biết sống như một con chiên đích thực của Chúa Kitô bằng đời sống khiêm cung thống hối và yêu mến biết ơn, để con được thuộc trọn về Chúa bây giờ và mãi mãi. Amen. Lm. Phạm Quốc Hưng, C.Ss.R. Chúa Nhật I Mùa Vọng 28-11-1999
TỈNH THỨC - THỨC TỈNH
"Ðiều Ta nói với các ngươi, Ta cũng nói với hết mọi người: Hãy tỉnh thức!" Dụ ngôn nói về người chủ đi xa, giao quyền hành lại cho đầy tớ, mỗi người một việc. Tuy nhiều người nhiều việc, nhưng ông chỉ có căn dặn người canh cửa phải lo tỉnh thức để mở cửa cho ông lúc trở về. Rồi trong phần kết của bài Phúc âm, lời nhắn bảo "hãy tỉnh thức" lại được gởi đến cho "hết mọi người." Phải chăng Chúa Giêsu ám chỉ tất cả chúng ta đều là những người canh cửa, và tất cả chúng ta hãy mở tung cánh cửa đời mình để đón Ngài. Hôm nay Dân Chúa trên khắp thế giới bắt đầu bước vào mùa Vọng cuối cùng của thế kỷ 20. Như thế kèm với ý nghĩa chung của mùa vọng là chấn chỉnh lại thái độ trông ngóng, mong chờ, chuẩn bị đón mừng ngày Chúa lại đến, chúng ta còn phải mặc lấy tâm tình và tư thế sẵn sàng để bước vào Năm Thánh, năm hồng ân cứu độ được khai mở vào dịp cả nhân loại cùng tiến sang thiên niên kỷ mới. Mùa Vọng luôn được nối kết với mùa Giáng sinh, kỷ niệm biến cố Con Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta. Nhưng nếu biến cố đó không gợi lên trong tôi một dư âm nào, việc Chúa sinh ra hay hồng ân cứu độ không mang một tầm quan trọng nào trong cuộc đời của tôi, thì thử hỏi mùa Vọng có nghĩa lý gì, chẳng qua là mùa lạnh hay mùa đông. Cho nên thiết tưởng để sống trọn vẹn hơn mùa Vọng năm nay, chúng ta hãy nhìn lại chính mình và tự hỏi: Ðâu là ý nghĩa của cuộc đời? Hạnh phúc của tôi đang ở nơi nào? Những gì tôi đang tìm kiếm, khao khát, mong ước có làm cho tôi thoả mãn thật sự không? Hay là cứ tìm được điều này xong, tôi lại chạy theo điều khác, và rồi cuộc đời cứ mãi kiếm tìm không nguôi? Thử hỏi Ðức Giêsu có phải là đối tượng chính trong sự tìm kiếm của tôi không, hay chỉ là thứ phụ thuộc, là nơi tôi tìm đến xin yên ủi, cố vấn những lúc bị thất bại trên đường chạy theo những đối tượng khác. Nếu không cảm nhận Chúa là lẽ sống, niềm vui, hay nguồn hy vọng của đời mình thì làm sao có thể nhớ thương và mong chờ cho đúng nghĩa được. Có ai trông đợi hay nôn nao được gặp lại một bóng hình mà họ không yêu thương cũng chẳng quí mến chăng? Thế cho nên sống mùa Vọng là tái xác định đối tượng chính trong cuộc đời. Khi mà tôi nhận thức Chúa chính là áng mây cho sa mạc tâm hồn, là dòng suối mát cho cánh đồng chờ nước bao năm, thì lúc ấy lời ca "Trời cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Ðấng chuộc tội" sẽ thấm đến tận nơi sâu thẳm của cõi lòng. Vậy lời kêu gọi "tỉnh thức" của ngày đầu năm phụng vụ không chỉ nhắc tôi về thái độ chờ đợi và sẵn sàng, nhưng còn ngầm bảo tôi hãy "thức tỉnh": thức tỉnh lại từ những đam mê, trăn trở, khó nhọc để xem Chúa có ở trong đó không; thức tỉnh từ những kiếm tìm: tìm job, tìm của, tìm tình, tìm danh dự, tìm địa vị... để xem Chúa có ở trong và ở trên tất cả những sự đó không. Vì nơi đâu không có Chúa, nơi đó chỉ là những quảng cáo của thế gian, ma quỉ; tìm mọi sự mà không tìm Chúa thì rồi vẫn cứ mãi thiếu vắng và khát khao. Phải chăng là vì "chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn" (lời Thánh Augustinô). Người ta kể rằng dưới chân Lâu đài Mamara của Hoàng đế Maximilian là dòng nước trong vắt của vùng biển Adriatique. Ở chiều sâu mấy chục thước nước phía dưới có một cái hang động từng làm say mê nhiều thợ lặn. Ðiều thú vị nhất là thỉnh thoảng mấy người thợ lặn đó đã tìm được những viên ngọc trai đen tuyệt quí và tuyệt đẹp. Một số ngọc đẹp nhất trong hang động này lại thuộc quyền sở hữu của Quận chúa Reiner. Thế nhưng sau một thời gian dài, người ta khám phá các viên ngọc ấy bị nhạt màu. Nhiều chuyên gia về ngọc trai được triệu hồi. Sau nhiều lần nghiên cứu, thử nghiệm, họ đã nhất trí rằng để có được vẻ tươi đẹp nguyên thuỷ, các viên ngọc ấy phải được ngâm lại dưới đáy biển sâu. Và đúng vậy, sau một thời gian trầm mình dưới giòng nước trong của vùng biển này, dần dần các viên ngọc đã phục hồi được vẻ đẹp long lanh của thuở ban đầu. Ðời sống chúng ta cũng thế! Ðể tìm lại niềm vui và bình an chân thật, để gột rửa những phấn bụi của dòng đời, chúng ta cũng hãy ngâm mình vào biển tình bao la của Thiên Chúa, ướp đượm hồn ta bằng hồng ân tươi mát của Ngài. Và Giáng sinh cũng như Năm Thánh sắp đến là thời gian của ân sủng, của mến thương vời vợi. Thức tỉnh để được sống trọn vẹn niềm vui tìm gặp Chúa sẽ là thái độ khôn ngoan nhất của người Kitô hữu trên hành trình bước sang năm 2000. Lm. Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R. Chúa Nhật II Mùa Vọng 05-12-1999
TIẾNG HÔ TRONG THỜI ÐẠI MỚI
"Tiếng của người hô trong sa mạc: Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi" (Mc 1:3) Trước đây mỗi lần nghe đến câu này tôi hay liên tưởng đến hình ảnh của một Gioan Tiền hô, mình mặc áo lông lạc đà, lưng thắt dây da thú, đi chân trần, hô vang trong sa mạc lời kêu gọi sám hối, đổi mới lối sống để đón rước Ðức Kitô. Tiếng hô từ sa mạc, nhưng lại vang vọng đến tai dân chúng nơi thị thành, âm hưởng sang những người biệt phái Sađoc, dội vào lòng hạng thu thuế và binh lính. Chưa hết, tiếng hô kia còn thấu tận cung điện bạo chúa Hêrôđê. Tiếng hô có sức lôi cuốn thức tỉnh nhiều cõi lòng u mê, dày vò lao đao những tâm hồn cứng cõi. Tiếng hô thúc giục mọi người cải thiện đời sống, đổi mới tinh thần sẵn sàng đón chào Sứ giả của Bình an. Lần này, khi đọc lại đoạn Lời Chúa trên đây tôi lại nhớ đến một con người, đúng hơn là một tiếng hô giữa sa mạc nắng cháy, khô khan tình người: tiếng hô của Mẹ Têrêsa Calcutta lúc còn sống. Gioan ngày xưa dám khẳng khái răn bảo những thành phần bất chính trong dân chúng: "Nòi rắn độc, ai mách cho các ngươi trốn cơn thịnh nộ hòng đến? Hãy sinh quả phúc đức xứng với lòng hối cải. Ðừng vội nói với mình: Ta có cha là Abraham! Ta bảo các ngươi: Thiên Chúa có thể lấy các viên đá này mà gầy nên con cái cho Abraham. Lưỡi rìu đã sẵn gốc cây; cây nào không sinh quả lành sẽ bị chặt và quăng vào lửa" (Lc 3:7-9). Ở thế kỷ 20 này, Mẹ Têrêsa cũng không rụt rè nhát đảm gióng lên lời chuông cảnh tỉnh lương tri con người. Trong một chuyến viếng thăm trường đại học y khoa tại Nagazaki vào năm 1982, trước sự hiện diện của đông đảo các bác sĩ và y tá cũng như nhiều bậc vị vọng, Mẹ Têrêsa đã dám nói: "Nếu bàn tay của quí vị, thay vì đụng đến sự sống với một lòng thương xót nhân ái bao la, quí vị lại huỷ diệt, giết hại, chẳng hạn như phá thai; nếu đôi tay của quí vị, vốn đã được tạo dựng để ban phát niềm vui yêu thương, nay lại chính đôi tay đó trở thành một khí cụ tiêu diệt các thai nhi bé bỏng, những hình ảnh của Thiên Chúa, thì nó sẽ kinh hoàng khủng khiếp biết bao! Ðó là một tội ác đang nằm ẩn trong đôi tay của quí vị. Tội ác đang nằm ở đó đấy.... "Tôi xin nói thêm với quí vị một điều này nữa là phá thai sẽ huỷ hoại lương tâm của con người. Một bữa kia, một phụ nữ Ấn độ đến tâm sự với tôi về nỗi đau khổ tột cùng mà bà ta đang phải chịu. Người phụ nữ này giàu lắm, có tất cả mọi thứ, nhưng cũng lại đang đau khổ vô cùng. Bà ta vừa khóc nức nở vừa nói, ‘Mẹ ơi, con mới bắt gặp một đứa bé 8 tuổi đang nô đùa ngoài sân. Cách đây 8 năm, con đã phá thai, và khi nhìn thấy đứa bé kia thì ngay lập tức tim con quặn thắt lại, lương tâm bắt đầu hành hạ dày vò con. Mẹ ơi, nếu con không phá thai thì bây giờ con của con cũng đã được 8 tuổi rồi." Và sợ rằng điều vừa nói, chuyện vừa kể chưa thuyết phục nổi người nghe, Mẹ đã khẩn khoản: "Nếu quí vị không muốn trẻ em thì hãy đem chúng đến cho tôi. Tôi muốn chúng. Tôi sẽ tìm ra được một mái ấm để yêu thương và nuôi dưỡng chúng. Tôi chỉ xin quí vị một điều là đừng giết, đừng tàn phá, đừng sát hại. "Tôi sẽ cầu nguyện để tâm hồn của quí vị luôn được tinh tuyền, để quí vị cũng học được cách cầu nguyện trước khi chạm đến con người, để quí vị luôn nhớ rằng đó chính là Thân Thể của Ðức Kitô, và để quí vị không bao giờ giết chết hay huỷ diệt. "Hãy giữ đôi bàn tay của mình thanh sạch; hãy giữ con tim được trong trắng, để rồi chính bàn tay và con tim đó sẽ giúp quí nên hoàn thiện hơn.... Quí vị nên biết rằng phá thai không những đã triệt tiêu mạng sống của một em bé, nhưng nó còn diệt luôn cả chính trái tim của quí vị. Quí vị sẽ không còn là một con người bình thường như trước nữa đâu. Mặc dù Thiên Chúa sẽ rộng lòng tha thứ, nhưng trong thẳm sâu của tâm hồn, nỗi đau vì đã huỷ diệt mạng sống sẽ cứ gặm nhấm và dày vò con tim của quí vị" (Trích trong "Thông Ðiệp Tình Thương của Mẹ Têrêsa" tr.146-149). Dám vạch ra sự sai lầm, dám kêu gọi sửa đổi, dám thúc đẩy một tiến trình trở về với Chân lý thì rõ ràng lời nói của Mẹ Têrêsa là tiếng hô của tiên tri trong một thế giới đang đánh mất yêu thương để rồi cứ chìm dần vào hố sâu của hưởng thụ, ích kỷ, và tự hủy. Chưa hết! Khi nói đến phá thai là nói đến trách nhiệm cha mẹ, khi nói đến con cái tất phải nói đến đời sống gia đình. Và trong khía cạnh này, Mẹ Têrêsa đã lên tiếng: "Con người thời nay dường như đang sống trong một cuộc bon chen khủng khiếp. Họ náo nức với những gì là tiến bộ hơn, giàu có hơn. Thế là cha mẹ đã có quá ít thời giờ cho con cái, và con cái cũng có quá ít thời giờ cho cha mẹ. Họ không có thời gian nhiều cho nhau. Cho nên chẳng có gì lạ khi phải nói rằng sự hoà bình bắt đầu đổ vỡ ngay trong gia đình." Mẹ đã khuyên: "Hãy đưa lời cầu nguyện vào trong gia đình bạn; hãy đem nó đến cho con cái bạn. Hãy dạy cho chúng biết cầu nguyện. Một đứa trẻ cầu nguyện sẽ là một đứa trẻ hạnh phúc. Một gia đình cầu nguyện sẽ là một gia đình hiệp nhất. Chúng ta nghe có nhiều gia đình đổ vỡ. Câu hỏi là tại sao vậy? Xin thưa là vì người đã không cầu nguyện với nhau. Họ đã không cùng nhau đến với Chúa" (TÐTT, 150-151). "Hãy dọn đường Chúa, hãy bạt lối Người đi." Tiếng hô của Thánh Gioan đã được tiếp nối bởi nhiều tiếng hô tiên tri khác. Và tiếng hô của Mẹ Têrêsa rất đáng cho con người và gia đình của thời đại hôm nay lưu ý. Nhân loại đang tiến vào ngàn năm thứ ba. Ðại Năm Thánh sắp đến. Hồng ân Thiên Chúa đang vẫy gọi, đợi chờ. Thức tỉnh tâm hồn, trân quí sự sống, hiệp nhất trong cầu nguyện yêu thương là ta đang dọn đường cho Chúa đến trong tâm hồn và gia đình mình vậy. Lm. Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R. Chúa Nhật III Mùa Vọng 12-12-1999
DỌN LÒNG MÌNH - DỌN LÒNG NGƯỜI
Khi mà khoa học có những bước tiến bộ khả quan và lúc mà đời sống con người có thể được kéo dài nhờ việc lấy tim gan của của người này ráp vào cơ thể của người kia thì lại có những chuyện ly kỳ xảy ra. Số là mấy năm gần đây tại Châu Mỹ Latinh người ta nghe thấy những lời đồn đại ác độc này: trẻ con ở các nước nghèo thường được xin làm con nuôi hay bị bắt cóc đem về các nước giàu; tại đó trẻ con bị giết để lấy các cơ phận ghép cho những bệnh nhân có tiền. Hậu quả là một bầu khí thù hận người ngoại quốc phát sinh trong dân chúng và nhiều người vô tội nước ngoài đã phải chịu thiệt hại vì có những người loan tải tin tức quái ác kia. Một ví dụ điển hình nhất là vụ bà June Weinstock, một du khách từ Alaska đi du lịch các nước Nam Mỹ. Khi đến Guatamela, thấy cảnh đẹp nên thơ và thấy nhiều trẻ em đang nô đùa vui vẻ, bà xuống xe và đi một vòng chụp mấy "pô" hình làm kỷ niệm. Lúc bà đang loay hoay chụp hình một bé gái địa phương thì có nhiều tiếng la ó, rồi thì cả một rừng người với gậy gộc ùa tới, nện túi bụi lên người bà. Khi những bạn đồng hành xông vào can thiệp và lôi được bà ra nơi an toàn thì mình bà đã đầy máu. Bà Weinstock bị gãy xương sống, và bị tê liệt toàn thân. Ðời bà giờ đây chỉ là những ngày chờ chết. Xót xa thay! Chỉ vì một tin đồn thất thiệt, một kẻ loan tin nhảm nhí đã gây ra hậu quả vô cùng thảm khốc. Chắc rằng chẳng ai trong chúng ta muốn rơi vào trường hợp bất hạnh như bà June Weinstock này. Không ai lại thích những tin buồn, những tin mang lại hận thù chia ly, những tin gieo rắc tê liệt, sự chết cho cuộc đời. Con người có thích hay muốn nghe tất nhiên chính là những tin vui, tin mang lại sự sống. Bản tin con người mong được nghe đó đã được Thánh Gioan loan báo. Ðó là Ðức Kitô, Ðấng Cứu độ và Yêu thương đang ở giữa chúng ta. Chúng ta hãy dọn đường cho Ngài đi. Suy niệm về việc dọn đường, bình thường chúng ta nghĩ rằng phải dọn lòng ăn năn sám hối, chừa bỏ thói hư tật xấu để chuẩn bị mừng Chúa đến trong lòng ta. Hiểu như thế đúng chứ không sai. Và làm được như thế là phần nào đáp lại tin vui mà Thánh Gioan đã muốn đem đến cho chúng ta rồi. Thế nhưng vẫn còn đó biết bao nẻo đường chưa dọn. Cho nên không chỉ là việc dọn đường hay dọn lòng mình, song còn là dọn lòng tha nhân để họ cùng đón Chúa với ta nữa. Kinh Thánh nói rằng Gioan ở trong rừng vắng, che mình bằng tấm da súc vật, đồ ăn thức uống là những gì kiếm được nơi vùng sơn lâm. Ðây là một hình thứùc dọn lòng và dọn đường cho Chúa đến với ông. Nhưng Gioan không dừng lại với việc làm đó. Nhưng ông ra đi, loan báo cho nhân loại một tin rằng: Thiên Chúa Tình yêu, sức sống của nhân loại đã đến. Tại đây câu hỏi được đặt ra sẽ là "Tôi dọn lòng tha nhân bằng cách nào?" Có một bài báo kể lại hội nghị của những người Công giáo da đên nói về việc truyền giáo trong thế giới hôm nay. Trong hội nghị vị chủ toạ là Ðức Giám mục George Murry của Tổng Giáo phận Chicago đã nói với những người da đen về dự hội nghị thế này: "Các bạn à, chúng ta không thể lôi kéo người ta đến nhà thờ bằng những bài ca chứa đầy sinh khí, cũng không phải bằng những thứ áo quần loè loẹt. Người ta sẽ không nhập đoàn với chúng ta bởi vì chúng ta nói hay, nhưng bởi vì chúng ta đã làm hay." Và Ðức Giám mục khẳng định rằng: "Con đường tốt nhất để dẫn người ta đến với Thiên Chúa, với Giáo hội tùy thuộc vào đức tin của chúng ta, và chúng ta đã sống thế nào cái đức tin đó trong đời sống thường nhật. Chúng ta phải chỉ cho họ thấy Chúa ngay trong con người của mình." Thiết tưởng lời của Giám mục Murry trước cử toạ những người da đen cũng đáng cho người da vàng chúng ta lưu tâm học hỏi. Ðó là không phải cứ bằng vào việc hát xướng cho thật xôm trò, không phải cứ bằng vào việc chưng đèn giăng hoa cho thật tưng bừng, cũng không phải cứ với áo quần đủ màu đủ kiểu là ta có thể "dụ" được người khác đến với Chúa đâu. Ðành rằng không phải những hình thái bên ngoài đó là không thiết thực. Thế nhưng nếu chuyện bên ngoài kia không nói lên được sự thật của lòng tin của chúng ta vào Thiên Chúa thì chúng cũng chỉ là những con số "không" thật lớn. Thế cho nên điểm mấu chốt cần làm nổi bật chính là niềm tin của chính mình. Chỉ khi làm nổi bật lên được niềm tin của mình, chúng ta mới thực hiện được công tác loan tin lành và dọn đường cho Chúa đến. Nhưng thử hỏi ta đã làm nổi bật niềm tin đến mức nào rồi? Nói rằng tôi tin vào một Thiên Chúa là Chúa của sự sống, nhưng lời nói và việc làm của tôi có mang lại sự sống, niềm yêu đời cho người khác không? Nói rằng tôi tin vào một Thiên Chúa là Cha Yêu thương, nhưng con tim tôi có rung lên nhịp cảm thông, thứ tha và nhân ái không? Nói rằng tôi tin vào một Thiên Chúa cứu độ, nhưng tôi đã cứu ai khỏi thất vọng, giúp được gia đình hay đoàn thể nào khỏi tan nát chia rẻ chưa? Mùa Vọng nhắc nhở tôi dọn lại con đường tâm hồn cho Chúa đến, nhưng đồng thời mùa Vọng cũng nhắc tôi Chúa có đến được với tha nhân qua con đường đó không. Một tin đồn quái ác, một hành vi bạo động sẽ gây nên biết bao liệt lào hay tang thương cho tâm hồn và cuộc đời của nhau. Nhưng một lời nói thân ái, một cử chỉ yêu thương do đức tin soi dẫn, sẽ mang lại sức sống và niềm vui cho mọi người. Ðây là cách dọn lòng mình và tha nhân đón Chúa đến cách thiết thực và chân thành nhất. Lm. Bùi Quang Tuấn, C.Ss.R.
Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |