TRONG DÒNG ÐỜI

Lm. Phạm Quốc Hưng, CSsR.

 

SUY TÔN THÁNH GIÁ

Tháng 09-1999, trên chuyến bay từ thành phố Sydney trở lại Los Angeles sau hơn một tuần sang Úc thăm gia đình người anh đã xa cách gần 20 năm, tôi được nghe một ông cụ người Việt Nam ngoài Công giáo cho biết Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Chủ Tịch Hội Ðồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, đang công tác ở Hoa Kỳ. Tôi thầm cảm tạ Chúa và Ðức Mẹ khi thấy ông cùng chia sẻ với tôi niềm kính yêu ngưỡng mộ đối với vị chủ chăn khả ái này.

Không ngờ đúng ngày Lễ Suy Tôn Thánh Giá 14-09-1999, khi vừa đến thăm và tịnh dưỡng tại nhà dòng các Nữ Tu Thừa Sai Thánh Phêrô Clavê tại Saint Paul, Minesota, tôi đã được các sơ chở đến tham dự buổi nói chuyện của Ðức Cha Phanxicô về đề tài "Công Lý và Hòa Bình trước Ngưỡng Cửa Ngàn Năm Mới" tại Saint Thomas University. Hai hôm sau vào buổi sáng 16-09-1999, tôi lại được tham dự buổi nói chuyện của Ðức Cha trong buổi điểm tâm dành cho giới doanh thương và trí thức tại hội đường Giáo Xứ Saint Olaf tại Minneapolis, MN, với đề tài "Ðức Tin và Công Việc".

Cũng như lần nói chuyện của Ðức Cha với giới trẻ Công Giáo Việt Nam tại Orange County California mà tôi đã được tham dự hồi tháng 06-1996, trong cả hai buổi nói chuyện trên đây Ðức Cha Phanxicô đã kể cho mọi người nghe mẩu truyện về cây thánh giá ngài đang mang trong mình. Ðây là mẩu truyện đánh động người nghe hơn cả. Và chắc chắn đây cũng là mẩu truyện Ðức Cha Phanxicô muốn chia sẻ với mọi người để làm chứng về sức mạnh của Thánh Giá Chúa Kitô. Chính vì thế, Ðức Cha đã ghi lại mẩu truyện này trong cuốn sách Năm Chiếc Bánh & Hai Con Cá của ngài như sau:

"Trên núi Vĩnh Phú, trong trại tù Vĩnh Quang, một hôm trời mưa lớn, tôi cưa gỗ trong nhà. Tôi xin anh chiến sĩ gác tôi:

- Tôi xin anh một đặc ân.

- Anh muốn gì? Tôi cố gắng giúp anh.

- Tôi muốn cưa một miếng gỗ theo hình Thánh Giá.

- Anh không biết ở trại nghiêm cấm mọi hình thức tôn giáo sao?

- Tôi biết, nhưng chúng ta là bạn, và tôi hứa sẽ giấu rất kín.

- Vô cùng nguy hiểm cho cả hai anh em mình.

- Anh nhắm mắt đi cho tôi làm, tôi sẽ cẩn trọng hết sức.

"Anh ta quay lưng, bỏ tôi lại một mình. Tôi đã thực hiện ngay ý định, rồi giấu thánh

giá gỗ ấy trong một cục xà phòng cho đến ngày tôi được tự do. Tôi thuê thợ bọc nó lại bằng "mêtan". Miếng gỗ ấy có bao giờ nghĩ rằng mình sẽ trở nên thánh giá của giám mục!

"Gỗ thánh giá ấy lấy từ núi Vĩnh Phú, nơi có đền Hùng thờ các vua Hùng, tổ tiên chúng ta đã có công dựng nước. Ði đâu tôi cũng mang thánh giá ấy, mang trên mình Chúa Giêsu và quê hương Việt Nam.

"Trong một nơi biệt giam khác, ở Hà Nội, tôi đã xin anh gác:

- Tôi muốn xin anh giúp tôi một chuyện.

- Ông cần gì tôi sẽ hết sức giúp đỡ.

- Anh kiếm cho tôi một sợi dây điện đồng.

Anh ta trợn mắt:

- Trời đất! Trong trường công an chúng tôi đã học: tù nhân nào giữ một dây điện là

dấu muốn tự tử.

- Không đâu, linh mục đâu lại đi tự tử!

- Nhưng ông dùng dây điện làm gì?

- Tôi muốn làm một sợi dây để mang tượng Thánh giá.

- Dây điện mà làm dây mang tượng thánh giá sao được? Khó hiểu quá!

- Anh cứ cho tôi mượn hai cái kềm nhỏ, tôi sẽ làm cho anh xem.

- Nguy hiểm lắm ông ơi! Không khéo cả ông cả tôi mang lấy vạ.

- Nhưng chúng mình là bạn mà!

- Tôi ngại lắm, nhưng để tôi suy nghĩ vài hôm rồi sẽ trả lời cho ông.

"Sau ba hôm, anh ta bảo:

- Thực khó từ chối với ông. Tôi tính thế này, chiều nay tôi sẽ mang đến hai cái kềm, từ 7 giờ đến 10 giờ đêm, phải liệu cho xong. Tôi để anh bạn tôi đi chơi "Hanoi by night". Nhỡ ai thấy chúng ta, nói đến tai cấp trên, chúng ta sẽ bị kỷ luật.

"Chúng tôi đã cắt sợi dây điện ra từng mảnh như que diêm. Chúng tôi bẻ cong hai đầu lại. Trước 11 giờ đêm chúng tôi đã làm xong! Tôi mừng quá! Thắng lợi.

"Hằng ngày tôi mang sợi dây này và thánh giá này trên mình, không phải để kỷ niệm ngục tù, nhưng vì nhắc cho tôi xác tín cách sâu xa rằng: Không phải dùng khí giới, đe dọa, áp lực mà có thể thay đổi được lòng người; chỉ có tình yêu Chúa Giêsu mới thay đổi được.

"Ðiều khó hiểu nhất đối với chiến sĩ gác tù, là thái độ tha thứ yêu thương địch thù của mình. Có hôm mấy anh gác hỏi tôi:

- Ông có thương chúng tôi không?

- Có chứ, tôi yêu thương các anh cách thành thực, không khách sáo đâu!

- Kể cả khi người ta giam ông, mất tự do, năm này sang năm khác? Không xét xử gì cả?

- Anh nghĩ lại bao nhiêu năm ở với nhau. Tôi làm sao giấu được. Tôi thực sự yêu thương các anh.

- Chừng nào được tự do anh có sai giáo dân của anh trả thù không?

- Không, tôi vẫn tiếp tục yêu thương, dù các anh có muốn giết tôi.

- Nhưng tại sao lại yêu kẻ thù hại anh?

- Vì Chúa Giêsu đã dạy tôi yêu thương; nếu tôi không tuân giữ, tôi không đáng gọi là Kitô hữu nữa."

Chính nhờ quyết tâm nỗ lực sống trọn vẹn chúc thư yêu thương đến hiệp nhất của Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðinh ngay trong cảnh ngục tù, Ðức Cha Phanxicô đã nghiệm thấy sức mạnh của Tình Yêu Thập Tự, khi những người gác ngài đã được biến đổi từ thái độ của những kẻ thù nghịch thành tâm tình cảm mến của những người học trò và bạn hữu anh em của ngài.

Tôi coi mẩu truyện trên đây như món quà quý giá Chúa Giêsu Chịu Ðóng Ðinh ban

tặng tôi trong dịp Lễ Suy Tôn Thánh Giá. Ðó cũng là món quà sinh nhật thật tế nhị Người dành cho một bạn trăm năm của Người là Sơ Theresa Ngô, người nữ tu Việt Nam Dòng Nữ Tu Thừa Sai Thánh Phêrô Clavê, khi chúng tôi cùng đến tham dự buổi nói chuyện của Ðức Cha Phanxicô.

Từ mẩu truyện sống thực chất đầy tin yêu và hy vọng này, Chúa Giêsu đã dạy cho tôi biết rằng cách suy tôn Thánh Giá Chúa Kitô cách trọn hảo nhất chính là việc nỗ lực sống giới luật yêu thương của Người: yêu hết mọi người, yêu cả kẻ thù, yêu như yêu mình, yêu như Chúa yêu và, một cách nào đó, yêu như yêu Chúa vì như lời Ðức Cha Thuận: "Các bạn hãy cảnh giác: sự lầm lạc lớn nhất là không nhìn thấy người khác là Chúa Kitô. Có nhiều người chỉ khám phá ra điều đó trong ngày cuối cùng".

Sau bài nói chuyện sáng ngày 16-09-1999 của Ðức Cha Phanxicô, Sơ Theresa và tôi đã đến xin phép lành của ngài với hy vọng chúng tôi sẽ noi gương ngài gắng sống như những chứng nhân của Tình Yêu Thập Giá Chúa Kitô.

Ít ngày sau khi đã trở về nhà dòng của mình, tôi được người thân tặng một kỷ vật mang về từ thành phố Saint Paul, Minesota: một tượng thánh gỗ nho nhỏ thật xinh có khắc hình trái tim. Thêm một lần, Chúa Giêsu dạy tôi phải nhớ rằng tình yêu thật bao giờ cũng phải gắn vào thánh giá, phải mang dấu của hy sinh và dâng hiến:

Tình yêu là một đóa hoa,

Sắc là dâng hiến hương là hy sinh.

Cùng với Mẹ Sầu Bi, con hết lòng cảm tạ Chúa Kitô Chịu Ðóng Ðinh đã dạy con cách suy tôn Thánh Giá cách đẹp lòng Chúa hơn cả qua mẩu truyện về thánh giá của Ðức Cha Phanxicô và món quà tượng thánh giá gỗ khắc hình trái tim. Và cùng với Cha Thánh Anphong, con muốn thưa cùng Chúa: "Xin đóng đinh trái tim con vào bên chân Chúa, cho lòng con luôn mãi gắn chặt với Thánh Giá, để con được yêu mến Chúa luôn và chẳng bao giờ rời bỏ Chúa nữa". Amen.

(Nov. 11, 1999)

 

NHỮNG SỰ NGẠC NHIÊN

Trong cuốn "Cảm Ơn Chúa! Thứ Sáu Rồi!" (Thank God! It’s Friday), cha giáo tập của tôi, Cha Andrew Costello, CSsR, có lối trình bày tứ chung như sau:

Khi một người từ trần, bốn sự chết, phán xét, thiên đàng và hỏa ngục, một cách nào đó có thể được nhận biết nơi nhận xét của những người chung quanh người mới chết như sau:

Sự chết: "Anh ấy chết thật rồi!"

Phán xét và thiên đàng: "Thật hạnh phúc khi được sống với anh ta!" hay "Thật là một điều xót xa tiếc nuối khi không còn anh ấy ở giữa chúng ta nữa".

Phán xét và hỏa ngục: "Thật khốn khổ khi phải sống với anh ta!" hay "Tạ ơn Chúa! Bây giờ không còn phải sống với anh ta nữa".

Lối trình bày tứ chung như thế có khía cạnh tích cực là nó khiến người ta phải cố gắng xây dựng liên hệ yêu thương với những người chung quanh và từ đó tạo ra những dư luận và cảm nghĩ đẹp về mình.

Nhưng lối trình bày tứ chung này nguy hiểm ở chỗ là nó có thể khiến người ta lầm tưởng rằng giá trị đích thực của một người hoàn toàn dựa vào dư luận của những người xung quanh về người đó. Thực tế cho thấy dư luận hay nhận xét của đám đông là một điều không phải lúc nào cũng chính xác, trung thực và ổn định. Vì "không phải người phàm nhìn sao, Thiên Chúa cũng nhìn thế, bởi người phàm chỉ trông thấy (điều lộ trước) mắt, còn Yavê trông thấy (điều ẩn đáy) lòng" (1 Sam 16:7).

Thật vậy, trong Phúc Âm khi đám đông dân chúng bị ảnh hưởng của những đầu mục Do Thái kêu nài Philatô lên án tử hình thập giá cho Chúa Giêsu và coi Người như một kẻ phạm thượng, Chúa Giêsu vẫn trước sau là Con Thiên Chúa và là chính Sự Vô Tội, Sự Thánh Thiện.

Và khi họ xin Philatô thả tự do cho Barabba, Barabba vẫn là một kẻ giết người, dù là một kẻ giết người được phóng thích.

Khi luật pháp của đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay cho phép người ta tự do phá thai và coi các bác sĩ phá thai là những công dân tốt thuộc giới trí thức thượng lưu trong xã hội, những bác sĩ phá thai và những người mẹ phá thai mà không hối hận đích thực vẫn là những quái vật ghê tởm trước mặt Thiên Chúa. Vì những người này đã nhẫn tâm giết chết những trẻ thơ hoàn toàn vô tội không chút tự vệ và phá hủy tình mẫu tử, một tương quan yêu thương cao cả nhất nơi con người.

Khi người ta chỉ chú tâm tìm sự chấp nhận và cảm tình của người khác và chạy theo dư luận của quần chúng mà không cố gắng làm vui lòng Chúa qua việc nỗ lực thực hiện giới luật yêu thương của Người, người ta đã sai lầm nghiêm trọng.

Mẹ Angelica, người sáng lập và điều hành Hệ Thống Truyền Hình Lời Hằng Sống, đã kể câu truyện đáng để người ta suy nghĩ sau đây:

Tại một nhà dòng nọ, có hai tu sĩ. Vị thứ nhất dáng người thanh nhã, nói năng hoạt bát, giảng dạy lưu loát, gieo tế khéo léo và được nhiều người quý mến ngưỡng mộ. Bề trên coi vị tu sĩ này như kho báu vì nhờ ngài mà nhà dòng nhận được nhiều giúp đỡ tài chánh của những người mến mộ ngài. Vị thứ hai thân hình cục mịch, giọng nói khó nghe, khi giảng phải cầm giấy đọc vì kém trí nhớ và nhiều phen bị cử tọa cười vì phát âm không chỉnh. Bề trên cảm thấy ái ngại vì vị tu sĩ này và không muốn ngài tiếp xúc nhiều với dân chúng vì thày nghĩ sao nói vậy dễ làm mất lòng nhiều người.

Và hai vị tu sĩ trên đã chết trong cùng một tháng.

Ðám táng của vị được nhiều người mến mộ thật đông đảo và được coi là lớn nhất trong lịch sử nhà dòng. Trong điếu văn, người ta coi ngài như thể thánh sống vì ngài không hề làm mất lòng bất cứ ai. Cha bề trên dù tiếc nuối sự ra đi của một người anh em cùng dòng, nhưng ngài vẫn cảm thấy hãnh diện trước sự mến mộ của dân chúng dành cho vị tu sĩ này. Cha sung sướng đón nhận những thiệp phân ưu đầy những lời tán dương người đã khuất kèm theo những khoản tiền phúng điếu thật lớn. Không ai nghĩ đến việc phải cầu nguyện cho linh hồn người tu sĩ đã khuất. Ngay cả chính vị tu sĩ này khi còn sống cũng chẳng xin ai cầu nguyện cho mình. Ngài đã không coi trọng việc cầu nguyện mà chỉ chú trọng đến các hoạt động, nhất là các hoạt động giao tế để chinh phục cảm tình người khác.

Tang lễ của vị tu sĩ thứ hai thì khác hẳn. Chỉ có cha bề trên, các anh em trong dòng và một số rất ít thân quyến của thày đến tham dự. Cha bề trên chẳng biết nói gì về ngài vì cuộc đời của ngài quá đơn sơ mộc mạc, không có gì đặc biệt ngoài những việc thuộc bổn phận đơn điệu hàng ngày của một tu sĩ trong tu viện. Vì vị tu sĩ này rất ít tiếp xúc với người ngoài nên chẳng có mấy người gửi thiệp phân ưu hay phúng điếu gì cả. Mọi người hiện diện đều tha thiết cầu nguyện cho ngài vì đó là điều khi còn sống ngài hay xin cùng họ khi có dịp gặp gỡ hay tiếp xúc với họ.

Sau khi chôn cất hai tu sĩ trên, một đêm cha bề trên nằm mơ được Chúa cho biết tu sĩ được nhiều người mộ mến bị sa hỏa ngục còn tu sĩ không được mấy ai ưa thích đã được phúc thiên đàng cùng chư thánh.

Cha bề trên ngạc nhiên không hiểu tại sao thì được Chúa giải thích:

"Người thứ nhất từ lâu đã không còn thuộc về Ta và không còn thờ phượng Ta. Nó đã lợi dụng những tài năng Ta ban để suy tôn chính mình nó bằng việc chạy theo tiếng trọng lời khen của thế gian. Nó chỉ lo mua chuộc lòng người đời mà không chú tâm làm đẹp lòng Ta. Nó mang danh là ngôn sứ của Ta nhưng đã không nói với dân chúng những gì Ta muốn nói với họ mà chỉ nói những gì họ thích nghe. Vì vậy mà người ta ưa chuộng nó, nhưng Ta thì không! Khốn nạn cho nó vì bao người đã mất linh hồn vì chết trong tội, bởi nó đã làm thinh không lên tiếng răn đe cảnh giác họ. Nó phải chịu trách nhiệm về phần rỗi của những người đó!

"Còn người thứ hai là tôi tớ trung trực của Ta. Chỉ vì sự trung trực của nó mà nhiều người ghét nó. Nó không lo chiều ý người đời mà chỉ lo làm theo ý Ta. Nó không phàn nàn vì những khả năng giới hạn của nó mà đã biết lợi dụng sự yếu kém đó để thêm khiêm nhường trước mặt Ta. Chính nhờ những lời chính trực của nó mà nhiều người đã được ơn ăn năn sám hối và được rỗi. Nó đã không phí giờ để nói chuyện vô ích và nịnh nọt người thế nhưng đã tận dụng thời giờ để cầu nguyện cùng Ta. Nó còn được Ta chúc phúc nhờ bao người khác đã cầu nguyện cho nó nữa. Vì vậy, giờ đây nó đã được nhập hàng ngũ những môn đệ thiết nghĩa của Ta."

Sự ngạc nhiên của cha bề trên trước sự phán xét của Chúa trong câu truyện này làm tôi nhớ đến lời Ðức Cha Fulton J Sheen viết trong cuốn tự truyện của ngài như sau:

"Chúa sẽ phán xét thế nào tôi không biết, nhưng tôi trông cậy rằng Người sẽ nhìn tôi với lòng thương xót và chạnh thương. Tôi chỉ chắc chắn rằng sẽ có ba sự ngạc nhiên trên thiên đàng. Trước hết, tôi sẽ gặp thấy trên đó một số người mà tôi đã không bao giờ trông mong được thấy. Thứ đến, sẽ có một số người tôi trông mong sẽ ở đó nhưng họ sẽ không có ở đó. Và cuối cùng, ngay cả đã dựa vào lòng thương xót của Người, ngạc nhiên lớn hơn cả có lẽ là chính tôi sẽ ở đó".

Ðức Cha Sheen nói đến ba sự ngạc nhiên trên thiên đàng. Nhưng ngay nơi trần thế hôm nay cũng có bao sự ngạc nhiên:

Nhiều người tỏ vẻ xót xa thương cảm khi nghe có những tai nạn máy bay và xe cộ hay các thiên tai như động đất, bão lụt và dịch bệnh khiến vài trăm hay vài ngàn người chết, nhưng họ lại dửng dưng hay tán đồng việc xã hội cho tự do giết hàng vạn thai nhi vô tội mỗi ngày!

Bao người nói rằng tiền của, danh vọng, địa vị và thú vui trần thế chỉ là phù phiếm chóng qua, nhưng họ vẫn thiết tha tìm kiếm chúng kể cả bằng những việc làm bất chính!

Bao tín hữu biết rằng họ chắc chắn sẽ chết và giờ chết có thể là ngay chính giờ này hôm nay và sau khi chết sẽ phải chịu phán xét cho số phận đời đời, nhưng họ vẫn sống như thể sẽ chẳng phải chết và vẫn không lo chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa!

Bao người Công giáo tuyên xưng Chúa hiện diện đích thực trong Thánh Thể và Thánh Kinh thực sự là Lời Hằng Sống của Chúa, nhưng có được mấy người khao khát đến với Chúa Giêsu Thánh Thể và thiết tha đọc Thánh Kinh mỗi ngày!

Chúa ơi, điều ngạc nhiên hơn cả đối với con trong giây phút này đây, là dù đã học biết và cảm nghiệm được biết bao ân tình Chúa, mà sao con vẫn chưa yêu Chúa cho trọn, chưa hoàn toàn thuộc về Chúa, chưa biết phó thác tất cả cuộc đời và con người con cho Chúa, chưa biến thành ngọn đuốc cháy rực ngọn lửa tình yêu Chúa để soi sáng và sưởi ấm cho đời và cho người?

Xin Chúa thứ tha, vâng lạy Chúa, xin Chúa thứ tha cho sự điên khùng dại dột của con khi vẫn còn vương vấn tình đời chóng qua và lãnh đạm thờ ơ trước ân tình thánh tuyệt vời của Chúa.

Lạy Mẹ Maria, xin hãy gìn giữ con trong ân tình của Chúa và Mẹ mãi mãi, để con sẽ có được sự ngạc nhiên cả thể nhất, là dù con có yếu đuối tội lỗi xấu xa đến đâu đi nữa, nhưng nhờ lòng Chúa thương xót và sự cứu giúp của Mẹ, nhờ hết lòng tin tưởng mến yêu Mẹ Hội Thánh và với tâm tình thống hối ăn năn, cuối cùng rồi con vẫn đến được thiên đàng để muôn đời ngợi khen lòng thương xót Chúa và Mẹ. Amen.

(Nov. 12, 1999)

BÀN TAY CHÚA

 

Trong phần Kinh sách thứ Tư tuần qua (tuần 32 thường niên) 10-11-1999, tôi đọc được một số câu trong đoạn 5 sách tiên tri Daniel về việc giữa lúc vua Baltasar đang cùng một ngàn đại thần dự tiệc liên hoan, thì "Ngay lúc ấy, chìa ra những ngón tay của một người viết trên vách tường của hoàng cung đằng trước trụ đăng. Nhà vua nhìn thấy mút bàn tay đang viết. Bấy giờ vua biến sắc mặt; với những ý nghĩ kinh hoàng, gân cốt sườn ông như bung ra; hai đầu gối va nhau cầm cập" (5:5-6).

Bài đọc thuật tiếp về việc tiên tri Daniel đã được nhà vua cho mời đến giải thích những chữ được viết trên tường như sau: "do tự tay Người (Thiên Chúa), mút tay kia đã được sai đến và chữ viết kia đã được ghi chép. Và này đây chữ viết đã được ghi chép: Mơnê, Mơnê, Tơqel upharsin. Và này đây lời ấy phải giải thích làm sao: Mơnê: Thiên Chúa đã tính sổ triều ngài và đã thanh toán. Tơqel: Ngài đã phải cân trên cân và thấy là thiếu hụt. Pơres: Nước của ngài bị chia ba, chia tư và ban cho dân Mêđi và Batư.Ngay đêm ấy, Baltasar, vua dân Kanđu đã bị giết" (Dn 5:24-28,30).

Chiều hôm sau, thứ năm 11-11-1999, khi đến dự buổi khai mạc khóa tĩnh huấn Cursillo 482 dành cho các chị tại địa phận Houston, Texas và cùng đi đàng thánh giá với họ tại nhà nguyện của Saint Paul Cursillo Center, tôi chợt nhận ra sự độc đáo của những bức tranh điêu khắc diễn tả 14 chặng đường thánh giá trong nhà nguyện này: Con người của Chúa Giêsu và các nhân vật được nói đến trong 14 chặng đường thánh giá này đều được diễn tả bằng những bàn tay: Ðôi bàn tay bị trói ngược sau lưng cho thấy Chúa bị điệu ra tòa Philatô; đôi bàn tay bám vào khổ giá cho thấy Chúa phải vác thánh giá; bàn tay chống đỡ thánh giá cho thấy Chúa đã bị ngã gục dưới sức nặng của thánh giá; bàn tay thon đẹp như đang với đến bàn tay gân guốc cho thấy Mẹ Maria gặp gỡ Chúa trên đường khổ nạn; thêm một đôi bàn tay bám vào thánh giá cho thấy ông Simon vác đỡ thánh giá Chúa; đôi tay cầm khăn mặt cho thấy tay bà Vêrônica đang trao khăn cho Chúa; bàn tay đưa lên với dấu trấn an cho thấy Chúa an ủi những phụ nữ đang khóc thương Người; vải áo đang được lột ra khỏi tay cho thấy Chúa bị lột áo; đinh nhọn đang xoáy vào bàn tay cho thấy Chúa chịu đóng đinh; bàn tay xuội lơ với đinh đã được đóng vào cho thấy Chúa chịu chết trên thập giá; bàn tay rũ rượi trong bàn tày thon đẹp cho thấy Mẹ ẵm xác Chúa; ...ngoại trừ chặng thứ 14 được diễn tả bằng đôi chân thò ra ngoài khăn liệm để chỉ việc Chúa Giêsu đã được an táng!

Nghệ thuật nơi những bức tranh điêu khắc trên khiến tôi nhớ đến lời Cha Ðoàn Sĩ Thục nói trong một bài giảng Chúa nhật mùa Phục Sinh năm 1982 ở trại tị nạn Galang tại Inđônêsia: Bàn tay bẻ bánh hay bàn tay phục vụ là nét đặc trưng nhất của Chúa Giêsu vì nhờ đó mà hai môn đệ trên đường Emmaus nhận biết Người.

Theo ngôn ngữ Thánh Kinh, Chúa Giêsu cũng được coi như tay hữu của Thiên Chúa trong khi Chúa Thánh Thần được gọi là ngón tay của Thiên Chúa.

Trong Thánh lễ sáng thứ Sáu 12-11-1999 ở nhà dòng, tôi được nghe Chúa Giêsu nói với các môn đệ về sự bất ngờ của ngày tận thế và khuyên họ phải chuẩn bị sẵn sàng cho ngày đó: "Và sự đã xảy ra thế nào thời Nôê, thì vào những ngày của Con Người cũng sẽ như vậy." (Lc 17:26-37). Cha chủ tế thánh lễ hôm ấy có nói đến việc trong những ngày cuối của năm 1999, nhiều sách vở và nhiều dư luận nói đến ngày tận thế. Những vụ động đất kinh hoàng xảy ra mới đây tại Thổ nhĩ kỳ và Ðài Loan, nạn bão lụt thật lớn tại miền trung Việt Nam và các tai nạn máy bay làm nhiều người thiệt mạng, được nhiều người coi như những dấu chỉ của ngày tận thế đã gần kề. Nhưng tất cả những biến cố đó sẽ không làm người tín hữu Chúa Kitô nao núng vì họ đã biết phó thác tất cả trong bàn tay đầy yêu thương và quyền năng của Thiên Chúa. Ngài có nói đến một câu tiếng Anh thật hay đọc được trên một tấm thiệp như sau: "If you see God’s hand in everything, you will put everything into His hand" (Nếu bạn thấy bàn tay Chúa trong mọi sự, bạn sẽ đặt mọi sự trong tay Ngài).

Phải, nếu tôi nhận ra bàn tay đầy yêu thương và toàn tăng của Thiên Chúa trong mọi người, mọi vật, mọi biến cố của cuộc đời, chắc chắn tôi sẽ không hề nao núng trước bất cứ biến cố hay dư luận nào, nhưng vẫn luôn một niềm tin yêu phó thác con người và cuộc đời mình cho Chúa Giêsu Kitô là Cứu Chúa của tôi.

Thái độ hốt hoảng, bối rối, sợ hãi và lắng lo của con người hôm nay trước ngưỡng cửa năm 2000 phải chăng cho thấy họ đã chia sẻ cùng một thái độ kinh hoàng của vua Baltasar khi nhìn thấy bàn tay được Thiên Chúa sai đến để viết những chữ hạch tội nhà vua?

Thái độ sợ hãi ấy chẳng qua là con đẻ của thái độ "dương dương tự đại chống lại Chúa Trời.tán tụng những thần bằng bạc, vàng, đồng, sắt, gỗ, đá, (những vật) không thấy, không nghe, không tri thức. Còn Thiên Chúa cầm trong tay sinh khí của ngài và có dưới quyền Người mọi đường đi nước bước của ngài, thì ngài đã chẳng tôn vinh" như tiên tri Ðaniel đã nói với vua Baltasar (Ðn 5:23). Ðó cũng chính là thái độ ngạo mạn của con người thời nay khi họ tự mãn về các tiến bộ và phát minh của khoa học kỹ thuật đến độ coi thường và bất kể sự hiện diện đầy quyền năng và tình thương của Chúa, khi chà đạp các lề luật luân lý của Người và cướp quyền sinh sát của Người qua các tội phá thai, triệt sản hay thụ thai nhân tạo và nhìn nhận hôn nhân đồng tính.

Tất cả sự bất an, sợ hãi và buồn sầu của con người qua mọi thời đại suy cho cùng chỉ vì họ đã không nhận ra bàn tay Chúa trong cuộc đời hay không muốn phó thác bản thân và mọi sự thuộc về mình vào bàn tay đầy yêu thương và quyền năng của Chúa để được Người săn sóc, gìn giữ, hướng dẫn và nâng đỡ trong mọi nẻo đường đời.

Là tín hữu Chúa Kitô và là con Hội Thánh Công Giáo, tôi sung sướng nhận ra rằng bàn tay Chúa đã tác tạo nên tôi, đã chịu trói, chịu vác khổ giá và chịu đóng đinh để cứu chuộc tôi, đã dội nước rửa tội cho tôi để tháp nhập tôi vào chính Nhiệm Thân Chúa Kitô là Hội Thánh, đã gìn giữ và hướng dẫn tôi qua mọi nẻo đường đời và sẽ còn dẫn tôi vượt qua thung lũng của chính sự chết để đưa vào cõi sống đời đời. Tôi còn gì để nghi ngại mà không phó trót mình tôi và mọi sự thuộc về tôi cho bàn tay đầy yêu thương và quyền năng ấy?

Lạy Chúa Giêsu Kitô, trên thánh giá trước lúc sinh thì, Chúa đã phó mình vào bàn tay đầy yêu thương và quyền năng của Chúa Cha: "Lạy Cha, Con ký thác hồn Con trong tay Cha" (Lc 23:46). Giờ đây, cùng với Mẹ Maria và toàn thể nhân loại trước ngưỡng cửa của ngàn năm mới, với tất cả niềm tin yêu hy vọng, con xin noi gương của chính Chúa để ký thác toàn thân con và mọi sự thuộc về con cho Chúa. Vì lạy Chúa, Chúa chính là bàn tay đầy yêu thương và quyền năng mà Chúa Cha đã đưa ra cho nhân loại và từng người chúng con, "ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài thì khỏi phải hư đi, nhưng được có sự sống đời đời. Vì Thiên Chúa không sai Con đến trong thế gian, để xử án thế gian, nhưng để nhờ Ngài mà thế gian được cứu" (Jn 3:16-17). Amen.

(Nov 14, 1999)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com