CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG. 19-12-1999 : XIN VÂNG ÐỂ THẤY TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN. LỄ GIÁNG SINH. 25-12-1999 : CHÚA TÌM CON NGƯỜI. LỄ THÁNH GIA THẤT. 26-12-1999 : GIA ÐÌNH HẠNH PHÚC. LỄ CHÚA HIỂN LINH. 02-01-2000 : ÁNH SÁNG LỜI CHÚA. LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA. 09-01-2000 : PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU.
Chúa Nhật IV Mùa Vọng 19-12-1999 XIN VÂNG ÐỂ THẤY TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN
Trong lịch sử nhân loại, chắc chắn không có tin nào vui và quan trọng cho bằng tin Ngôi Hai Thiên Chúa giáng sinh làm người để cứu con người. Thế nhưng, nguồn tin lớn lao bậc nhất như thế lại xảy ra trong một bối cảnh rất đơn sơ bình dị. Trước hết, khu vực truyền tin là một làng quê hẻo lánh tên Nazareth, nằm trong vùng Galilê, miền Palestine. Người đầu tiên nhận được tin vui là một cô gái nghèo, mồ côi cha mẹ từ thuở thiếu thời, tên là Maria. Tương truyền, ông Gioan Kim và bà Anna đã sinh Maria lúc tuổi đã về chiều. Cho nên chẳng bao lâu sau khi đứa con gái chào đời, ông bà đã lần lượt theo nhau về với tổ tiên. Theo truyền thống và luật lệ Do thái, tất cả mọi thiếu niên từ 12 tuổi trở lên phải được dâng vào Ðền thánh Giêrusalem trong dịp lễ Vượt qua để được công nhận bước sang tuổi dậy thì. Chính trong khoảng thời gian thi hành những tập tục cổ truyền này của dân tộc mà cô Maria đã được Thầy cả thượng phẩm Zacharia đính hôn với Giuse thuộc chi tộc Giuđa, dòng họ Ðavit. Lễ đính hôn là một ký kết rất quan trọng đối với người Do thái. Thông thường là do cha mẹ hay người giám hộ đôi bên lo liệu. Lễ đính hôn sẽ ràng buộc hai người nam nữ như vợ chồng. Họ chỉ còn chờ ngày cưới hay còn gọi là ngày rước dâu để chính thức chung sống với nhau. Chính trong khoảng thời gian giữa lễ đính hôn và lễ vu quy này, sứ thần của Thiên Chúa là Tổng lãnh thiên thần Gabrien đã được phái đến với cô Maria, mang theo một sứ điệp trọng đại. Nếu chỉ đọc sơ qua đoạn Phúc âm, người ta sẽ cảm thấy sao biến cố gặp gỡ giữa Maria và sứ thần có vẻ tiểu thuyết quá. Nào là thiên thần hiện ra nói với một cô gái, thông báo sự kiện Ðấng Cứu Thế sẽ sinh ra, và đề nghị cô Maria đồng ý việc cưu mang cùng sinh hạ đấng muôn dân hằng trông đợi này. Rồi cô Maria đã chấp nhận một cách dễ dàng trước hồng phúc cao trọng vì được sinh một người con mà rồi đây sẽ làm bá chủ muôn dân thiên hạ. Maria đã "xin vâng" một điều mà ai cũng muốn và cũng có thể làm được. Ðúng ra, trước khi đáp lời "xin vâng", đón nhận chương trình cứu độ của Thiên Chúa được khởi đi từ con người của mình, Ðức Maria đã không chỉ trải qua những giây phút ngỡ ngàng sửng sốt vì ân sủng cao vời, nhưng còn cả một cơn dằn vặt nội tâm, lo lắng sao xuyến tận cùng vì trách nhiệm và khó khăn sẽ xảy ra. Bởi lẽ làm sao không khó khăn khi một người con gái đã đính hôn lại có thai trước khi về sống với chồng. Nếu thế thì không bị ném đá cho chết, chắc cũng chẳng còn mặt mũi nào để nhìn những người thân thuộc bên dòng họ Giuse. Rồi còn cả Giuse, người mình yêu quí, sẽ có thể thông cảm và chia sẻ được biến cố khác thường này không. Ðó là chưa kể đến những phiền hà trong việc mang thai và nuôi thai. Nếu không thì tại sao ngày nay mỗi năm lại có hàng triệu vụ phá thai trên khắp thế giới như vậy. Thế nhưng trước những khó khăn, lo lắng, phiền toái đó, Ðức Maria đã đón nhận, sẵn sàng cộng tác với Thiên Chúa. Ngài đã thưa với sứ thần lời "Xin Vâng", câu nói mà khắp tầng trời bồi hồi lắng nghe, cả trái đất lặng im trông chờ, một tiếng nói kết tinh đất trời. Thực vậy, chính khi Mẹ thốt ra lời "Xin Vâng" thì một sức sống đã bật lên, một ánh sáng đã bừng sáng để chiếu soi nhân loại. Thiên Chúa bắt đầu làm người để cứu con người. Nói cách khác, lời "Xin Vâng" của Mẹ chính là cửa ngỏ dẫn vào ơn cứu độ. Mẹ xin vâng cũng có nghĩa là Mẹ đón nhận công việc mở cửa cho ơn cứu độ tuôn tràn đến với nhân loại. Nhưng nói đến lời xin vâng của Ðức Maria, chúng ta không thể không nói đến lời xin vâng của Chúa Giêsu. Bởi vì khi Mẹ xin vâng thì mới là khởi điểm của ơn cứu độ, còn khi Chúa Giêsu xin vâng thì ơn cứu độ đó mới trào đến cho mọi người. Chính lúc Ngài thốt lên "Lạy Cha, xin đừng theo ý con, nhưng xin vâng ý Cha" để rồi đi đến sự lắng lo, phiền toái và đau khổ tận cùng trên thập giá thì nhân loại chúng ta mới được hưởng niềm vui ơn cứu độ. Có người đặt vấn đề rằng giả như Chúa Giêsu sợ khổ, sợ bị dân Do Thái hành hạ, và sợ chết nên cứ một mực xin Chúa Cha cất đi chén đắng, thì không biết bây giờ con người trên thế gian có còn vui vẻ mừng ngày Chúa Giáng sinh hay không. Chắc là không đâu. Vì Chúa đến mà không cứu con người thì mừng làm chi, chẳng ích gì. Cho nên việc nhân loại mừng Chúa giáng sinh cũng chính là mừng được ơn cứu thoát. Mà nền tảng của sự vui mừng này lại bắt nguồn từ những lời "xin vâng": xin vâng của Ðức Maria, xin vâng của Chúa Giêsu. Nhưng như Thánh Augustinô nhận định: "Khi Thiên Chúa dựng nên con người, Ngài không cần phải hỏi ý kiến con người. Song khi muốn cứu con người, Thiên Chúa đã phải cần đến sự cộng tác của họ." Thế cho nên, mặc dầu Ðức Maria đã xin vâng để nguồn bình an và ơn cứu được khai mở và Chúa Giêsu đã xin vâng để ơn cứu độ và sự sống nơi Ngài tuôn trào đến cho con người, nhưng con người cũng phải đáp tiếng xin vâng để sự sống, ơn cứu độ và nguồn bình an đó thấm nhập được vào tâm hồn của họ. Chỉ khi nói lên lời "xin vâng", con người mới cảm nhận và thấu hiểu được tình yêu sâu thẳm và hồng ân dạt dào của Thiên Chúa. Có lẽ nhiều người dân Hoa kỳ vẫn chưa quên hình ảnh Ðức Thánh Cha ôm hôn anh Tony Belade sau khi anh vừa đánh đàn ghita vừa hát cho ngài nghe, trong dịp ngài viếng thăm thành phố Los Angeles năm 1987. Hình ảnh này được ghi nhớ không phải vì nó nhắc đến sự gặp gỡ giữa một vị giáo hoàng với một người ca nghệ sĩ tài ba, nhưng là vì nó đã phô bày sâu sắc sức sống tràn đầy nơi con người Tony. Tony Belade chào đời không có hai cánh tay. Anh đã tập dùng các ngón chân của mình trong tất cả mọi công việc thường nhật, từ nấu nướng, ăn uống, giặt giũ, cho đến học đánh đàn ghita. Ngạc nhiên trước khả năng lạ lùng này, nhiều người đã hỏi Tony: "Bí quyết nào giúp anh chấp nhận sự bất hạnh để sống bình thường, và còn sử dụng ghita một cách tuyệt diệu như vậy?" Người thanh niên tàn tật ấy trả lời, "Tôi đã cầu nguyện với Chúa: Lạy Chúa xin nhận lấy con và dùng con theo thánh ý Chúa. Tôi đã tự hiến cho Chúa như một của lễ sống động, và Ngài đã nhận lời tôi." Trong đôi mắt của thế gian thì người này được sinh ra dưới một ngôi sao tốt, kẻ kia sinh ra dưới một vì sao xấu; người thì gặp toàn chuyện may lành, kẻ thì phải chịu không biết bao nhiêu là bất hạnh. Thế nhưng, trong cái nhìn của tình yêu Thiên Chúa thì tất cả đều là hồng ân: số phận, trường hợp, hay hoàn cảnh nào cũng là những mầm sống, mầm hy vọng, và mầm cứu độ cho chúng ta miễn là chúng ta biết noi gương Mẹ Maria và gương Chúa Giêsu, thưa lên rằng: "Lạy Chúa, con xin vâng theo Ngài." Lễ Giáng Sinh 25-12-1999 CHÚA TÌM CON NGƯỜI
Con người là một sinh vật gồm có thân xác và linh hồn, nơi mà tinh thần, lý trí, xác thịt, bản năng, ước muốn kết hợp với nhau. Nơi thân xác, con người gặp phải những giới hạn của không gian, thời gian, bản năng, lý trí, nhưng với linh hồn thì con người lại có một chiều kích vô biên. Bị giới hạn đấy, nhưng con người lại có những khát vọng vô hạn. Song vì những khát vọng vô hạn lại bị giới hạn, gò bó trong những bản năng hữu hạn, nên con người cứ phải cố gắng không ngừng, tìm kiếm không ngừng hầu tìm một con đường giải thoát khỏi những gì là hữu hạn để có thể tiến đến vô biên, và trên một phương diện nào đó ta có thể nói được rằng con người đã phải đau khổ vì những hữu hạn trong nỗi khát vọng và những đòi hỏi vô hạn của mình. Sống trong cuộc đời, tất cả mọi việc do con người thực hiện, từ ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc, nói năng, hành động, đến chọn lựa, nhận định, suy xét, tất cả đều là tiến trình của một sự khát khao, trông chờ và tìm kiếm. Và đích cùng của sự khát khao kiếm tìm này chính là hạnh phúc. Thực vậy, cuộc đời của con người là một chuỗi ngày đi tìm hạnh phúc. Từ lúc chào đời cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay là một khoảng thời gian của khát vọng và kiếm tìm hạnh phúc liên lỉ. Trong sách Sáng thế ký, cuốn đầu tiên trong toàn bộ Thánh kinh, có kể câu chuyện thế này: "Rắn là con vật tinh ranh hơn mọi dã thú mà Yavê Thiên Chúa đã làm ra. Nó hỏi người đàn bà rằng: "Hẳn Thiên Chúa đã phán với các ngươi là chớ có ăn bất cứ cây nào trong vườn phải không?" Người đàn bà trả lời con rắn: "Quả cây trong vườn chúng tôi đều được ăn, nhưng còn cây giữa vườn thì không được ăn, sờ đến nó là sẽ phải chết." Và rắn đã nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu! Vì Thiên Chúa biết được rằng ngày nào các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra mà thấy được mình đã nên giống như Thiên Chúa." Kết cuộc là bà Evà đã nghe theo lời dụ dỗ của con rắn. Hình ảnh và câu chuyện trên đây, ngoài việc phản ảnh một sự thật là con người đã sai lầm khi đi nghe lời cám dỗ của ma quỉ mà chống lại những sắp xếp, trật tự mà Thiên Chúa đã định, nó còn nêu lên một sự thật nữa, đó là con người có một khát vọng hạnh phúc vô biên. Thiên Chúa là ai nếu không phải là Ðấng viên mãn hạnh phúc. Cho nên muốn được trở nên giống Ngài, muốn tiến tới hạnh phúc viên mãn như Ngài chính là thực tại của mơ ước bẩm sinh trong mỗi con người. Thực tại bẩm sinh này là một khát vọng vô biên, cho nên chỉ có vô biên mới có thể lấp đầy nó. Những gì là hữu hạn sẽ không thể nào khoả lấp được những khát mong vô hạn; những gì là tương đối sẽ không bao giờ đáp ứng nổi cái được gọi là hạnh phúc tuyệt đối, hay vô biên. Cho nên, sai lầm của con người, sai lầm của Adong và Evà là đã lấy những sự tương đối, những thứ hữu hạn để thay thế Thiên Chúa, Ðấng tuyệt đối vô cùng. Trước nỗi khắc khoải, khát mong, trông tìm hạnh phúc của con người, nhiều tôn giáo đã xuất hiện. Thế giới này có cả trăm thứ đạo giáo khác nhau, và dường như đạo nào cũng mưu tìm hạnh phúc cho con người, cũng tìm những con đường để dẫn con người đến với chân trời hạnh phúc, hầu đáp ứng những khát mong sâu thẳm nhất nơi lòng người. Tại đây, có lẽ không ít người sẽ đặt vấn đề, tuy hơi xưa, song thiết nghĩ nó vẫn có một tác động không nhỏ đến nhận thức niềm tin của nhiều người. Có người sẽ nêu câu hỏi: "Nếu nói đích cùng của mọi tôn giáo là để giúp con người tìm thấy hạnh phúc, thế thì phải chăng tôn giáo nào cũng như nhau? Ðạo nào cũng như đạo nào? Và nếu đúng là đạo nào cũng như đạo nào, tôn giáo nào cũng dạy người ta làm lành lánh dữ, vậy thì cần chi đến việc truyền giáo, cần gì đến rao giảng Tin mừng nữa? Vậy thì đạo của Chúa Giêsu hay còn gọi là Kitô giáo có gì khác với Phật giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Khổng giáo, Lão giáo...?" Khách quan thì đa số các đạo đều nhằm mục đích đem hạnh phúc cho con người, đều tìm cách giải toả những khát vọng thâm sâu, đều hướng con người đến với một đấng vượt trên con người hay một thực thể nào đó chưa thuộc về con người, để rồi với việc làm lành lánh dữ như những phương thế giúp cho con người tiến đến với đấng hay những thực thể vượt trên con người đó, như một đích cùng của hạnh phúc. Nhưng như thế không có nghĩa là đạo nào cũng như đạo nào, càng không có nghĩa là Kitô giáo cũng chẳng khác gì các đạo khác. Bởi vì nếu đạo nào cũng như nhau thì thôi mạnh đạo ai người nấy giữ. Tôi không phải ra công bỏ sức để sống đạo, để làm chứng tá cho niềm tin của tôi; tôi càng không phải dấn thân rao giảng Tin mừng cho ai nữa; tôi chẳng phải chia sẽ sự sống của người Kitô hữu của tôi cho ai nữa, vì đạo nào cũng như nhau mà! Nếu nghĩ như thế thì chúng ta lầm to, và chứng tỏ chúng ta chưa nhận thức sâu sa về giá trị niềm tin của mình. Nhưng đâu là giá trị sâu xa và đâu là chân lý cao quí của Tin mừng chúng ta đang sống? Xin thưa, đó là đang khi các tôn giáo khác đang cố công bước theo những cách thức, những hướng đi với ước vọng là giúp cho con người tiến đến với thượng đế, nguồn chân thiện mỹ, nguồn hạnh phúc, thì đây qua Kitô giáo, người ta bắt gặp thượng đế, hay Thiên Chúa, hay Chúa trời đã tìm đến với con người. Trong khi con người đi tìm nguồn hạnh phúc vô biên với khả năng hữu biên của mình, và chắc chắn là sẽ không bao giờ đạt được, thì đây nguồn hạnh phúc vô biên ấy đã xuống thế để ở với con người. Ðây chính là giá trị tuyệt vời của niềm tin Kitô giáo, đây là Tin mừng ta phải sống và loan báo, và đây chính là điều mà thiên thần đã nói với các mục đồng: "Này ta loan cho anh em một tin mừng trọng đại, một niềm vui to tát, một tin mừng và niềm vui cho toàn dân. Ðó là hôm nay, Thiên Chúa đã giáng sinh làm người." Và đây chính lá nét đặc thù của Kitô giáo. Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc vô biên, chỉ nơi Ngài và trong Ngài con người mới thoả lòng khát mong. Thiên Chúa đó, nguồn hạnh phúc và sự sống viên mãn cho con người đó đã đến và ở giữa chúng ta. Ðây không phải là niềm vui lớn lao cho nhân loại hay sao? Ðây không phải là Tin mừng mà ta phải tiếp tay với các mục đồng để loan báo cho toàn dân hay sao? Ðây không phải là cái ý nghĩa đẹp nhất của niềm tin mà ta nên suy niệm trong ngày mừng kỷ niệm Chúa ra đời sao? Và đây không phải là hạnh phúc tột cùng mà ông Simêon đã cảm nhận khi thấy Ðức Kitô đã đến ở giữa loài người sao? Trong nỗi niềm rung cảm trước hình ảnh giáng sinh của Ðức Giêsu, Thánh Phaolô trong thơ gởi tín hữu Philip đã phải thốt lên: "Ngài phận là phận của một vì Thiên Chúa, nhưng đã không nghĩ phải dành cho được địa vị đồng hàng cùng Thiên Chúa. Song Ngài đã huỷ mình ra không, lĩnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta, đem thân đội lốt người phàm. Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành một kẻ vâng phục, và vâng phục cho đến chết." Ðức Giêsu đã hạ mình làm người và vâng phục cho đến chết để làm gì vậy, nếu không phải là để cho ta được sống, để cho ta có được hạnh phúc, một niềm hạnh phúc của những người con được Ngài tha thứ và cứu vớt khỏi tội lỗi và đưa vào bàn tiệc trong vương quốc huy hoàng của Ngài. Vậy nếu bạn là người đang khát khao hạnh phúc, đang mơ ước bình an, nếu bạn là người đang đuổi bắt niềm vui của cuộc đời, là người đang chạy tìm Thượng đế, bạn hãy dừng chân và hãy mở lòng ra, vì Ngài đã đến. Bạn không cần phải chạy đi đâu hết, không cần phải lên đường, vì Chúa đã đến nơi rồi. Nếu có lên đường thì hãy lên đường để cùng đi theo Ðức Kitô, dấn bước trên cuộc hành trình hạ mình xuống chia sẻ thân phận đau khổ của bao con người: họ đau khổ vì thiếu thốn của ăn, vì vắng bóng tình thương, bị hất hủi, không ai cảm thông, không được giúp đỡ, không được săn sóc, ủi an. Hãy đến với họ như Ðức Giêsu đã đến với chúng ta. Hãy đưa họ về với niềm vui và an bình, như Thiên Chúa đã đến để đem an bình và niềm vui cho chúng ta. Lên đường như thế, sống như thế, tin tưởng như thế làø ta đang minh chứng cho muôn dân biết ta đang đi trên chính đạo, vì đạo của ta là đạo từ trời. Lễ Thánh Gia Thất 26-12-1999 GIA ÐÌNH HẠNH PHÚC
"Ông bà đem Hài nhi lên Giêsusalem tiến dâng cho Thiên Chúa" (Lc 2: 22) Sống trên trần gian ai lại không mong mình có hạnh phúc. Hạnh phúc là nỗi khát mong sâu thẳm và triền miên mà từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt lìa đời, con người cứ luôn nong nả kiếm tìm. Hôn nhân gia đình từng được xem như một cửa ngõ của hạnh phúc, có lắm người bước vào nhưng cũng không ít kẻ bước ra. Tại sao họ bước ra? Phải chăng vì họ không còn tha thiết với hạnh phúc? Hay bởi vì đối tượng của hạnh phúc quá hữu hạn khi so với những khát mong vô hạn của họ? Trong thời Xuân Thu bên Trung Hoa, lúc vua Cảnh Công đang làm vua nước Tề, có Án Tử là vị quan được tiếng thanh liêm và rất mực thủy chung. Một hôm đức vua xa giá đến thăm và dùng cơm tại nhà Án Tử. Trong bữa cơm thân mật, ngoài vua Cảnh Công và Án Tử còn có một người đàn bà già nua cứ ra vào để phục dịch cơm nước. Nhà vua buột miệng hỏi: "Ai vậy?" Án Tử thưa: "Dạ, đó là vợ của hạ thần." Nhà vua giật mình kinh ngạc. Ðợi vợ Án Tử bước xuống bếp, vua liền lên tiếng đề nghị: "Ôi, vợ khanh trông sao vừa già lại vừa xấu. Ta đây có một đứa con gái vừa trẻ lại vừa đẹp, muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao?" Án Tử liền đứng dậy trả lời không chút do dự: "Nội tử của tôi nay thật già và xấu nhưng lấy tôi và cùng tôi ăn ở đã lâu, kể từ lúc nàng còn trẻ đẹp. Xưa nay đàn bà lấy chồng lúc trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lấy chồng lúc đẹp để nhờ cậy khi xấu. Nội tử của tôi thường nhờ cậy tôi, cũng như tôi đã từng nhận sự giúp đỡ của nàng. Nay bệ hạ tuy muốn ban ơn mưa móc, nhưng chắc cũng không nỡ để tôi phải mang tiếng là ăn ở bội bạc với nội tử tôi." Nói xong Án Tử lạy hai lạy, xin từ chối không lấy con gái của vua. Người ta sống ở đời có được tấm lòng thuỷ chung như Án Tử quả là đáng phục. Vợ chồng là chuyện nghĩa tình lâu dài, chỉ có cái chết mới có thể ngăn đôi. Bao lâu còn sống bấy lâu còn nương tựa đỡ nâng nhau "lúc được thịnh vượng cũng như khi gặp gian truân, ngày mạnh khoẻ tươi trẻ cũng như hôm hoạn nạn già yếu." Ấy thế mà lắm khi trong thực tế, vì tiền tài, sắc đẹp, sức lực, uy quyền, danh tiếng... và không ít khi vì những chuyện lẩm cẩm như đôi giày, chiếc áo, con chó, con gà mà người ta đã có thể phụ nhau, xa nhau. Phải chăng tình yêu là thế, dễ tráo trở, đổi thay? Và nếu tình yêu là thế thì ta sẽ nói sao khi tuyên xưng "Thiên Chúa là Tình Yêu"? Phải chăng Ngài cũng không trung tín? Phải chăng khi thấy ta xấu xa, nghèo túng vì nợ nần của tội lỗi ngập tràn mà Ngài đã bỏ ta? Tất nhiên không phải tình yêu nào cũng như nhau: có thứ tình ích kỷ, chỉ biết hướng về mình, nhưng cũng có thứ tình vị tha, chỉ biết hướng đến người khác. Trong tình yêu Thiên Chúa, yếu tố tác động duy nhất chính là một bản thể khác ngoài mình. Nền tảng hạnh phúc của một gia đình phải là tình yêu Thiên Chúa. Chồng hướng về lợi ích của vợ, vợ hướng đến lợi ích của chồng, cha mẹ hướng vào lợi ích của con cái, con cái nhìn đến nhu cầu ích lợi của cha mẹ, và cả gia đình, theo gương Thánh Gia, hướng đến Thiên Chúa. Một khi hướng về Thiên Chúa, con người sẽ sống yêu thương đúng nghĩa và sẽ tìm ra chân giá trị của hạnh phúc đích thật. Cuộc hành trình vất vả lên Giêrusalem của Thánh Giuse, Ðức Maria, và Chúa Giêsu để thi hành nghi lễ tiến dâng Thiên Chúa nhắc nhở mọi gia đình phải biết hướng lên Thiên Chúa giữa những gian nan, cám dỗ, và chi phối của đời trần. Khi biết yêu Chúa, Ðấng làm phát sinh những điều toàn thiện như trung tín, nhân hậu, quảng đại, xót thương, tha thứ, hy sinh..., thì con người sẽ biết yêu nhau chân thật. Giữa một thời đại có biết bao sự công phá làm tan vỡ gia đình và băng hoại xã hội, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã gióng lên lời kêu gọi tha thiết: "Hãy trung tín với nhau." Chính sự hướng lên Thiên Chúa trong lời cầu nguyện sẽ giúp cho đời sống trung tín thêm bảo đảm. Ðức Thánh Cha nhấn mạnh: "Một gia đình cầu nguyện là một gia đình tồn tại, một gia đình không bỏ cầu nguyện sẽ là một gia đình không mất hạnh phúc." Vì tình yêu chân thật không đóng khung nơi "mình": con người mình, gia đình mình, đoàn thể mình, hay giáo hội mình. Thế nên, không phải chỉ cầu nguyện cho chính mình hay gia đình mình được hạnh phúc và tồn tại, nhưng cũng cần cầu nguyện cho kẻ khác: cho người cha, người mẹ, người con trong gia đình khác nữa, hầu họ cũng luôn biết tìm đến với những giá trị linh thiêng phát xuất từ Thiên Chúa. Trước những giàu sang của hoàng gia, nét trẻ đẹp của công chúa, lại thêm sự bức thúc của uy quyền nhà vua, Án Tử vẫn một mực chối từ để đeo đuổi đức thuỷ chung. Một người chưa từng nghe đến Ðức Kitô, chưa biết về giáo lý "sự gì Thiên Chúa liên kết loài người không được phân ly" như Án Tử thế kia, nhưng vẫn đã sống vẹn nghĩa chí tình. Thế còn bạn, những người Kitô hữu từng được học biết rất nhiều về các giá trị cao quí của Tin Mừng, bạn lại không thể sống hay hơn những người ngoại sao. Hay đời bạn chỉ có tiền, tài, danh, sắc và không có chỗ nào cho Thiên Chúa? Nếu thật như vậy, thì làm sao hạnh phúc chân thật có chỗ cho bạn được? Lễ Chúa Hiển Linh 02-01-2000 ÁNH SÁNG LỜI CHÚA
Vào lúc 1 giờ kém 12 phút sáng ngày 1/9/85, nhà hải dương học nổi tiếng Robert Ballard chợt phát hiện trên màn ảnh sóng vị trí của chiếc tàu Titanic bị chôn vùi dưới làn nước xanh thẳm của Bắc Ðại Tây Dương cách đây 3/4 thế kỷ. Sau khi xác tàu được tìm thấy thì cũng là lúc tất cả những con số thông kê liên quan đến chiếc Titanic đã được đưa ra ánh sáng. Sau đây là một vài số liệu được ghi nhận: - Chiều dài của chiếc tàu là 269 mét - Chi phí cho việc đóng tàu là 178 triệu đô la (tính theo giá thời nay) - Thời gian sử dụng là 5 ngày - Từ lúc đụng băng trôi cho đến khi chìm hoàn toàn là 2 giờ 40 phút - Tổng số hành khách và thuỷ thủ là 2223; số người sống sót: 706 - Vé hạng nhất là 750 đô la Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là số ống nhòm dành cho hai người trực tại vọng gác là zêrô. Chính con số zêrô này mà người ta không thấy được xa, không phát hiện sớm được tảng băng trôi để rồi tai hoạ đã ập tới. Cuộc đời con người như một chiếc tàu ngoài khơi, đang hướng đến một bến bờ của bình an và hạnh phúc. Nếu không thấy xa phía đàng trước, nếu không có những phương tiện giúp định vị thì rồi những giòng xoáy, bão lốc, hay băng trôi sẽ nhận chìm nó. Thật cần những chiếc ống nhòm, thật cần đến ánh sáng để soi chiếu mới mong thấy được hướng đi, đích tới, và trở ngại để vượt qua. Vấn đề là trong đời sống tâm linh của ta đâu là ánh sáng soi chiếu đường đi? Cái gì có tác dụng như những chiếc ống nhòm giúp ta thấy xa trên hải trình ngàn dặm đây? Tại đây tôi chợt nhớ đến một bài hát Alleluia của Cha Thành Tâm với lời nhạc "Alleluia, Lời Chúa dẫn soi con đường đi," và trong bài Lắng Nghe Tiếng Chúa của Nguyễn Duy lời nhạc sau đây đã mang lại cho tôi một chìa khoá: "Lời Ngài là sức sống của con. Lời Ngài là ánh sáng đời con. Lời Ngài làm chứa chan hy vọng, là đường để con hằng dõi bước..." Thế ra trong cõi mù tối của tâm linh hay giữa sóng cả ba đào đang hoành hành dày xéo, Lời Chúa sẽ là phương thế dẫn đường soi lối giúp người ta đến với bến bờ. Ðoạn Tin Mừng trong Chúa Nhật Lễ Hiển linh là một lời xác nhận cho chân lý đó. Ba nhà đạo sĩ trong cuộc hành trình đi tìm ý nghĩa của cuộc đời, trải qua biết bao khó nhọc: băng qua đồi, leo qua núi, vượt qua cả vùng hoang dại của sa mạc Trung đông với khí hậu khắc nghiệt, ngày thì nóng cháy da, đêm lại lạnh thấu xương. Ðịa đã không lợi, ấy vậy mà thiên cũng chẳng thời. Một ánh sao dẫn lối thì nay lại biến mất. Lạc lối, không còn phương hướng, chẳng biết mình phải đi về đâu. Không thất vọng bỏ cuộc, các ông vẫn dò hỏi tìm tòi. Cuối cùng, may thay, người ta đã chỉ cho các ông nơi cần đến. Ðiểm đáng chú ý là không phải những kinh sư, ký lục hay thượng tế đã trả lời cho sự tìm kiếm của ba nhà đạo sĩ, nhưng là Kinh Thánh. Chính Thánh Kinh đã chỉ cho giới lãnh đạo Do Thái, và qua họ, chỉ cho ba người từ phương đông biết chân lý và ý nghĩa cuộc đời nằm ở nơi đâu. Từ Thánh Kinh, các nhà đạo sĩ biết được rằng "Nơi Bêlem, thuộc đất Giuđa sẽ xuất hiện vị cứu tinh, Ðấng sẽ chăn dắt Israel." Và họ đã tiếp tục lên đường, nhắm hướng Thánh kinh đã chỉ mà tiến bước, để rồi cuối cùng tìm ra lẽ sống, thấy được giá trị và ý nghĩa cuộc đời mình nơi một con người có tên Giêsu. Ðúng là "Lời Chúa sáng soi con đường đi," "Lời Ngài đổi mới cho cuộc đời. Lời Ngài hạnh phúc cho trần ai." Nhưng thử hỏi tôi đã biết lấy Lời Chúa làm kim chỉ nam cho cuộc đời chưa? Tôi có hay đọc Thánh Kinh để tìm hướng đi giữa những giông tố của cuộc sống? Mà tôi đã có cuốn Kinh Thánh chưa đã chứ? E rằng lắm khi bỏ ra năm chục, một trăm để mua đôi giày, chiếc áo sao dễ quá, nhưng để mua một cuốn Thánh Kinh hay những sách báo đạo đức giá 10 đồng sao không dễ chút nào. Nhiều lúc xem phim, nghe nhạc 2, 3 giờ liền mà chẳng thấy mệt mỏi gì, nhưng đọc Lời Chúa hay sách nhà đạo 5, 10 phút sao thấy ngại ngùng khó khăn quá. Nếu tâm trạng và thái độ của tôi như thế thì làm sao tâm hồn tôi có thể vượt qua được sóng ngàn, tránh khỏi các băng trôi để tiến đến bến bờ bình an được. Nếu không nhìn vào Lời Chúa để rồi nhờ ánh sáng từ đó dẫn lối chắc chắn thuyền đời tôi sẽ lênh đênh bất định, nếu không muốn nói là dễ bị chìm đắm trước những phong ba của cuộc đời. Nhưng nếu tôi quyết tâm từ nay, từ những ngày tháng mới của thiên niên kỷ, sẽ lắng nghe tiếng Chúa hơn qua Thánh Kinh, sẽ tìm đọc lời Ngài qua các sách báo thiêng liêng đạo đức, và sẽ suy tư học hỏi ý Ngài qua mọi biến cố hằng ngày, thì chắc chắn tự đáy tâm hồn sẽ vang lên khúc hát hạnh phúc: "Lời Ngài là sức sống của con. Lời Ngài là ánh sáng đời con. Lời Ngài làm chứa chan hy vọng, là đường để con hằng dõi bước. Lời Ngài được chất ngất niềm vui, trọn vẹn ngàn tiếng hát đầy vơi. Lời Ngài đổi mới cho cuộc đời. Lời Ngài hạnh phúc cho trần ai." Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa 09-01-2000 PHÉP RỬA CỦA ÐỨC GIÊSU
"Và xảy ra là trong những ngày ấy, Ðức Giêsu bỏ Nazaret, xứ Galilê, và được Gioan thanh tẩy cho trong sông Giođan" (Mc 1: 9) Khi mừng kính Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, không ít người vẫn còn thắc mắc: Ngài là đấng tinh tuyền vô tì tích, tại sao phải chịu phép rửa nơi sông Giođan? Phải chăng Ngài muốn dạy chúng ta về đức khiêm nhường. Hạ mình xuống để Thánh Gioan Tẩy giả dìm đầu vào dòng nước trong là một hành động khiêm nhường chứ còn gì. Nhưng không phải chỉ có thế. Bởi vì nếu nói về khiêm nhường hạ mình xuống thì nội biến cố Giáng sinh mà Giáo Hội mừng kỷ niệm cách nay 3 tuần cũng đủ để ta họ hỏi không hết rồi. Lý do là có sự hạ mình nào lớn lao hơn việc hạ mình từ trời cao xuống đất thấp, từ Thiên Chúa, Vua của đất trời xuống làm con người, mà không phải là con người giàu co, quyền uy, song là con người nghèo hèn, cùng đinh trong xã hội. Thánh Phaolô trong thơ gởi tín hữu Philip đã phải thốt lên: Ngài phận là một vì Thiên Chúa, nhưng đã huỷ mình ra không, mặc lấy thân phận tôi đòi, trở nên giống hẳn người ta, mang thân đội lốt người phàm, Ngài đã vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá (Phil 2:6-8). Thế cho nên mẫu gương khiêm hạ mới chỉ là một khía cạnh trong biến cố chịu thanh tẩy của Chúa Giêsu. Còn một khía cạnh khác rất đáng ghi nhận: bài học về ăn năn sám hối, cải thiện đời sống, gột rửa tâm hồn. Nói đến rửa là nói đến tẩy xoá hay dứt bỏ những vết nhơ, mùi hôi trên cơ thể của con người hay sự vật để nó được thơm tho, tươi đẹp và đáng yêu hơn. Cho nên phép rửa cũng là một cuộc tẩy xoá hay dứt bỏ để làm cho con người mình được cao quí, nhân phẩm được giá trị hơn. Trong một thời đại mà chủ nghĩa hưởng thụ lấn lướt, chắc hẳn nhiều người sẽ cho rằng giá trị con người hệ tại những gì họ có. Họ có nhiều tiền, nhiều nhà cửa, xe hơi, bằng cấp, sắc đẹp... thì càng có giá. Thế rồi khi đặt giá trị con người trên căn bản "có" thì người ta cũng dễ đi đến thu vét, chiếm đoạt, gian dối, bất công, miễn sao tôi có nhiều, để con người tôi thêm "giá trị". Thế nhưng khi cho rằng giá trị con người dựa trên những gì nó tích luỹ hay chiếm hữu là người ta đang vô tình làm lu mờ và kiệt quệ nhân phẩm của chính mình. Một yếu tố duy nhất sẽ nâng cao giá trị và thăng hoa nhân phẩm con người là yêu thương. Nhưng không yêu thương đúng nghĩa nào lại thiếu vắng trao ban, chia sẻ. Mà trao ban chia sẻ là phản nghĩa của thu tích vơ vét. Và chỉ có trao ban cho đi mới minh chứng được tình yêu. Người ta có thể cho nhưng không yêu, song không thể nói mình yêu mà lại không cho đi tí gì. Yêu thương là phải cho đi. Càng yêu nhiều càng phải cho nhiều; càng yêu hết lòng càng phải cho đi hết tất cả, dám dứt bỏ tất cả. Cũng như Ðức Kitô, vì yêu thương đã lìa bỏ vinh quang cõi trời để xuống cõi trần, mặc lấy thân phận con người, gánh trên mình tội lỗi của trần gian. Ðể rồi khi con người Giêsu đó đi xuống giòng sông để chịu thanh tẩy là Ngài muốn đem toàn bộ thân xác con người của nhân loại dìm vào dòng nước của yêu thương, tẩy rửa đi những vết nhơ của kiêu căng, tham lam, hận thù, kình địch, ghen tương, chia rẽ--những gì ngăn cản sự tươi sáng đáng yêu của con người. Thánh Phaolô trong thơ gởi tín hữu Côrintô đã xác định lòng yêu thương phải được tỏ bày qua sự khoan dung, nhân hậu; trong đó không thể có ghen tuông, ba hoa, tự mãn, khiếm nhã, ích kỷ, cáu kỉnh, không chấp nhất hay đồng loã với sự dữ, cũng chẳng mừng rỡ trước những bất công... Trong muôn sự lòng yêu thương sẽ hết lòng bao dung, hết lòng kính tin, trông cậy và kiên nhẫn (1Cor 13: 4-7). Nhân ngày lễ kỷ niệm việc Chúa Giêsu chịu phép rửa ta hãy cùng xét mình để dứt bỏ và tẩy rửa khỏi ta những gì là ghen tuông, ba hoa, ích kỷ, những gì là bất công, là không biết chia sẻ và thương xót, hầu hình ảnh Thiên Chúa nơi ta được toả sáng cho cuộc đời. Trong phim Titanic, một cuốn phim có số khán giả và doanh thu cao nhất từ 40 năm nay, hình ảnh đã làm cho nhiều người cảm động nhất có lẽ là lúc anh Jack chịu ngâm mình dưới làn nước biển Bắc Ðại Tây Dương để người yêu của mình là Rose nằm an toàn trên một tấm ván. Thế rồi chỉ sau mấy phút phù du, dòng nước giá băng đã cướp đi sự sống của anh ta. Hình ảnh anh Jack hy sinh chính mình cho người yêu mô phỏng một phần nào biến cố Ðức Giêsu tự dìm mình vào dòng sông giá lạnh của tội lỗi con người để giải thoát con người khỏi cảnh huỷ diệt. Trong khi Jack chỉ cứu được một mình Rose, Ðức Giêsu đã cứu được toàn thể nhân loại. Tấm ván tàu trong Titanic chỉ chứa được một người, còn tấm ván cứu sinh của Thiên Chúa thì chứa được tất cả sinh linh. Và "tấm ván" đó chính là Ðức Maria. Các thánh đã từng nhận thực điều đó khi nói: cung lòng của Mẹ chứa được Ðấng Vô biên lại chẳng chứa hết cả và nhân loại hay sao! Thiên Chúa đã gánh vác tội lỗi chúng ta, chấp nhận hy sinh trên thập giá, trao lại cho ta Ðức Maria như tấm ván cứu sinh. Biết bám vào Mẹ là ta đang đón nhận sức sống đầy tràn mà Ðức Giêsu muốn mang lại cho chúng ta vậy.
Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |