TẠI SAO CÓ NĂM 2000 ?

Minh Vũ

Dù bận rộn với các công việc phải làm trong tuần, trong tháng, ở thời buổi nào cũng vậy, không ai có thể sống mà không có một lịch trình làm việc thích hợp, dù là tầm thường đi mấy chăng nữa. Từ khởi đầu các nền văn minh, con người đã học cách đếm thời giờ.

I. MẶT TRĂNG HAY MẶT TRỜI

Một vài chu kỳ thiên nhiên giúp con người phân chia thời giờ: các mùa, chu kỳ hằng tháng theo mặt trăng, chu kỳ hằng năm theo mặt trời hay các ngôi sao. Nhiều xã hội xây dựng lịch của họ theo chu kỳ mặt trăng.

Ngày nay, lịch của các người Hồi giáo và Do-thái giáo còn dựa theo chu kỳ mặt trăng. Về cộng đoàn kitô-hữu, chỉ có lễ Phục Sinh là còn giữ một chút gì của chu kỳ này.

Thật vậy, để kỷ niệm sự chết và sống lại của Ðức Ki-tô, các người Ki-tô đầu tiên dùng cách tính lịch của người Do-thái để tính ngày lễ Phục Sinh. Ngày nay, lễ Phục Sinh được ấn định vào ngày Chúa nhật đầu tiên, sau trăng tròn (ngày rằm), của kỳ Xuân phân. Nhưng âm lịch có một bất lợi rất lớn. Mặt trăng cần hai mươi chín hay ba mươi ngày để quay một vòng chung quanh trái đất. Như thế, chu kỳ hàng năm của nó không phù hợp với chu kỳ của mặt trời là chu kỳ ấn định các mùa, thời gian gieo vãi và gặt hái. Như thế, nếu theo âm lịch, luôn luôn phải thêm ngày, thêm tháng để đuổi theo kịp dương lịch.

II. CÉSAR VÀ CÁC NGƯỜI HY LẠP

Ðây là vấn đề của các người La-mã sống trong thời Jules César làm hoàng đế. Ông là người chinh phục dân Gaules, tổ tiên của nước Pháp, quyết định kiểm soát thời gian cách chặt chẽ hơn! Trước kia người La-mã dựa theo chu kỳ phức tạp của mặt trăng, mà các nhà cầm quyền phải thường xuyên điều chỉnh lại - thường thường điều chỉnh có lợi cho họ về mặt chính trị! César mời các nhà thiên văn đương thời đến làm việc dưới sự chỉ dẫn của nhà bác học Hy-lạp Sosigène, thành Alexandrie. Nhà bác học này đề nghị ba thay đổi lớn để có một quyển lịch ổn định hơn:

a) Dùng chu kỳ mặt trời thay chu kỳ mặt trăng.

b) Chu kỳ mặt trời vận hành vào khoảng 365 ngày. Sosigène đặt ra các năm nhuận để bắt kịp sự chậm trễ này. Ðúng ra, mặt trời cần 365 ngày, 5 giờ, 48 phút và 45,5 giây để làm một vòng trọn vẹn từ điểm này qua điểm kia của bầu trời.

c) Vì các nhà cầm quyền thành phố (các vị Tư Vấn) nhận chức vào tháng Giêng, nên người ta quyết định bắt đầu năm dân sự vào tháng Giêng.

Lịch trình này trở thành chính thức vào năm 46 trước Thiên Chúa Giáng Sinh (-46). Tuy nhiên, hồi đó, người ta tiếp tục đếm các năm bắt đầu từ ngày (giả thuyết) thành lập thành La-mã (-753) và giữ thứ tự các tháng như đã có từ trước theo lịch tôn giáo.

Sau đây là bảng tóm tắt ngắn gọn một năm theo Jules César và các nhà thiên văn của ông đặt ra. Người ta gọi thứ tự này là lịch julien.

Tháng đầu tiên: Martius (nguồn gốc từ Mars, vị thần của nông nghiệp, trở thành vị thần của chiến tranh.)

Tháng thứ nhì: Aprilis (nguồn gốc từ động từ aperire, nghĩa là mở ra, ám chỉ việc cây cối nẩy nở).

Tháng thứ ba: Maius (bởi Maia, vị nữ thần mùa Xuân của La-mã).

Tháng thứ tư: Junius (từ Juno, vị nữ thần của nữ tính).

Tháng thứ năm: Quintilis (đặt tên lại là Julius để vinh danh hoàng đế Jules César).

Tháng thứ sáu: Sextilis (đặt tên lại là Augustus, để vinh danh hoàng đế Augustô).

Tháng thứ bảy: September (từ chữ septem, là bảy).

Tháng thứ tám: October (từ chữ octo, là tám).

Tháng thứ chín: November (từ chữ novem, là chín).

Tháng thứ mười: December (từ chữ decem, là mười).

Tháng mười một: Januarius (bởi Janus, vị thần của các cánh cửa, các bực thềm, để tượng trưng việïc khởi đầu một năm quản trị dân sự).

Tháng mười hai: Februarius (từ chữ februa, lễ thanh tẩy và thục tội vào cuối năm tôn giáo).

III. KHI GIÁO HOÀNG SỬA ÐỔI CÉSAR !

Chắc chắn, không có cái gì là toàn hảo. Dù cho Sosigène có tính toán uyên bác đến đâu, lịch của César cũng không hoàn toàn đồng bộ với chu kỳ mặt trời. Mỗi năm, nóù đi quá 11 phút và 14 giây.

Có người sẽ nói rằng ngần ấy chẳng bao lăm. Nhưng chúng ta hãy tưởng tượng nó cứ cọng thêm dần! Ðến mức mà, mười lăm thế kỷ sau, nó đi trước mặt trời 10 ngày. Ðiều này tạo nên vấn đề về mặt dân sự cũng như tôn giáo, đến nỗi Công Ðồng Tri-den-ti-nô yêu cần Ðức Giáo Hoàng duyệt xét lại.

Và đó là điều ngài đã làm.

Ðức Giáo Hoàng đương thời là Grê-go-ri-ô XIII đã triệu tập các nhà thiên văn lại làm việc. Dưới sự chỉ dẫn của Christophe Clavus, họ đi đến kết luận nầy là trước hết, phải nhảy băng 10 ngày để điều chỉnh lịch theo chu kỳ mặt trời. Và đây là những gì Ðức Giáo Hoàng ban bố trong Sắc chỉ Inter gravissimas ngày 24 tháng 2 năm 1582:

a) Nhảy 10 ngày trong tháng Mười năm 1582. (Như vậy là bà thánh Têrêxa thành Avila qua đời trong đêm dài từ mồng 4 đến 15 tháng Mười, 1582!).

b) Sửa chữa các năm nhuận: những năm thay đổi thế kỷ (1600, 1700, 2000) là những năm nhuận nếu hai con số đầu có thể chia chẵn cho bốn. Như thế, các năm 1700 và 1800 không phải là năm nhuận. Tính theo cách này, sai biệt đối với mặt trời giảm xuống mỗi năm chỉ còn vài giây. Các nhà thiên văn thưa lên với Ðức Giáo Hoàng rằng: "Chỉ cần đến năm 4000 không phải là năm nhuận, thì như thế có thể điều chỉnh hoàn toàn theo mặt trời."

Còn một vấn đề khác nữa: ngày đầu năm?

Thời Giáo Hoàng Grê-go-ri-ô XIII, mỗi nước bắt đầu đầu năm vào một ngày khác nhau. Ở Pháp và Anh, năm mới bắt đầu ngày 25 tháng Ba. Ở Ðức và nhiều vùng nước Ý, năm mới bắt đầu ngày 25 tháng mười Hai. Ðức Giáo Hoàng yêu cầu tất cả bắt đầu năm vào ngày mồng Một tháng Giêng. Nhiều nước đợi một thời gian lâu mới chấp nhận cách sửa đổi của Ðức Giáo Hoàng Grê-go-ri-ô (Gregorian reform). Nước Anh và các thuộc địa của họ, thích "bất đồng với mặt trời hơn là đồng ý với Giáo Hoàng", chỉ áp dụng cải tổ vào năm 1752. Liên Xô, vào năm 1917. Và Hy-lạp, vào năm 1923! Do đó, chúng ta có thể kết luận, vì lý do có những thay đổi của xứ nọ xứ kiạ, mà ít có người cùng ăn mừng ngày đầu năm của năm 1000!

Chúng ta chỉ còn một điểm cuối cùng cần làm sáng tỏ: Tại sao số năm của năm sắp tới là số 2000? Ai đã quyết định đếm số năm theo cách này?

IV. CÁC KỶ NGUYÊN CỦA THỜI GIAN !

Phải. Chúng ta có một niên lịch theo mặt trời chia gần như đồng đều cho mười hai tháng. Chúng ta đồng ý năm mới bắt đầu ngày mồng môät tháng Một. Nhưng còn một câu hỏi chính yếu: người ta đếm năm bắt đầu từ lúc nào? Năm nào là năm zéro hay là năm số một? Ai quyết định?

Ðó là vấn đề ấn định kỷ nguyên (từ tiếng la tinh aeris có nghĩa kế tiếp là đồng, tiền, con số, thời đại.) Như thế người ta cũng có thể ấn định kỷ nguyên: kế tiếp các năm bắt đầu từ một điểm cố định của thời gian. Thời xa xưa, mỗi nước có một điểm khởi đầu để đếm các năm, theo kỷ nguyên của họ, và không ai thắc mắc phải điều chỉnh cho phù hợp với nước láng giềng! Do đó, người ta đếm các năm bắt đầu từ một biến cố tôn giáo hay quân sự, thường là bắt đầu vào năm cai trị của một vị vua. Ví dụ ở nước Việt Nam chúng ta ngày trước, khi vua Bảo Ðại mới lên ngôi, các công văn phải viết: Bảo Ðại nguyên niên. Cho nên Thánh sử Lu-ca viết sứ vụ của Ðức Yê-su bắt đầu vào "năm thứ 15 thời hoàng đế Ti-bêø-rô." (Lc 3:1) Sau đây là một vài kỷ nguyên quan trọng nhất:

a) Kỷ nguyên của việc tạo dựng trời đất:

Theo số liệu tính toán của một ít giáo sĩ Rabbi, kỷ nguyên này phù hợp với năm -3761?

b) Kỷ nguyên của các hoạt động Thế Vận Hội:

Kỷ nguyên bắt đầu từ -776, năm mà các sinh hoạt Thế Vận Hội đầu tiên được tổ chức tại làng Hy-lạp Olympia, về sau lan tràn khắp cả nước Hy-lạp. Vì Thế Vận Hội được tổ chức bốn năm một lần, người ta chỉ định năm bằng hai con số. Ví dụ, một Thế Vận thứ một trăm hai mươi. Các Thế Vận Hội bắt đầu vào tháng Bảy.

c) Kỷ nguyên của Tây-ban-nha:

Ðược dùng ở Bắc Phi, miền Nam nước Pháp, ở Tây- ban-nha, và Bồ-đào-nha cho đến cuối thế kỷ thứ 16. Kỷ nguyên này bắt đầu từ các năm 30, thời vua Augustô bình định Tây-ban-nha và Bo-đào-nha.

d) Kỷ nguyên thành lập thành La-mã.

Bắt đầu từ -753 và được dùng tại các nơi như dinh thự. Người ta minh định bằng các chữ A.U.C hay A.U. (Anno urbis conditae: năm thành được thiết lập)

e) Kỷ nguyên Ði-ô-clê-ti-a-nô.

Bắt đầu từ năm 284. Ðược các nhà thông thái Ai- cập sáng chế ra để vinh danh hoàng đế Ði-ô-clê-ti-a-nô, vì ông vừa đem lại hòa bình cho vùng này. Nhà viết sử đầu tiên của Giáo Hội là Eusèbe de Césarée, có sử dụng cách tính nầy này trong sử liệu của ông.

f) Kỷ nguyên của Hégire.

Ngày nay vẫn còn dùng trong thế giới Hồi giáo. Kỷ nguyên này bắt đầu từ năm 622, năm Mahomet trốn từ La Mecque về Médine.

Nhưng cuối cùng, trong tất cả các cách tính thời gian năm tháng, kỷ nguyên Ki-tô trổi vượt và buộc mọi người phải công nhận kỷ nguyên của mình. Vậy đâu là nguồn gốc của kỷ nguyên này?

V. SÁNG LẬP KỶ NGUYÊN KI-TÔ

Coi như kỷ nguyên Ki-tô chưa có, chúng ta cứ xem các biến cố sau đây xảy ra vào năm 1280 của việc thiết lập thành La-mã, hay năm 243 của kỷ nguyên Ði-ô-clê-ti-a-nô (tương ứng với năm 527 của kỷ nguyên chúng ta.) Ðến từ thành phố xa xôi Scythie (phía bắc biển Ðen), một tu sĩ sống ở thành phố La-mã độ 20 năm nay. Ông tên là Denys, cao bằng ba trái táo, người ta gọi ông bằng tên la-tinh là Dionysius Exiguus, tiếng pháp là Denys le Petit, có nghĩa là ông Denys nhỏ thó. Ðó là một con chuột thư viện (rat de bibliothèque)! Ông thu thậïp các tài liệu chính thức của Ki-tô giáo: các thư của các Giáo Hoàng, các quyết định của các Công Ðồng, các luật lệ Giáo hội. Biết khả năng của ông, các bề trên giao cho ông công việc thành lập "Lịch Phục Sinh", có nghĩa là tính toán các ngày lễ Phục Sinh cho 95 năm tới. Ðúng ra, đó là lịch cuối cùng đã được tu sĩ Alexandrie Cyrille hoàn tất. Như thế, Denys bắt đầu công việc từ lịch của Cyrille. Là người Ai-cập, ông Cyrille tính toán các năm theo kỷ nguyên Ði-ô-clê-ti-a-nô.

Nhưng vua Ði-ô-clê-ti-a-nô này không được người Ki-tô ưa chuộng lắm, vì ông đã phát động cuộc bách hại đạo Chúa hết sức dữ dằn. Denys tự hỏi, tại sao chúng ta, những Ki-tô hữu, lại phải tính toán thời gian bắt đầu từ một ông vua chỉ muốn hủy diệt chúng ta? Vậy, tự sáng kiến riêng, ông quyết định lập ra một kỷ nguyên mới, một cách đếm các tháng năm mới, bắt đầu từ năm sinh của Ðức Yê-su. Sau đây là những gì ông đã viết trong phần nhập đề các bài của ông để biện minh:

"Chúng tôi không muốn đem vào trong chu kỳ năm tháng của chúng tôi việc tưởng niệm một kẻ nghịch đã bách hại đạo thánh. Ðể đánh dấu thời gian, chúng tôi đã chọn các năm kể từ ngày Ðức Yê-su Ki-tô giáng trần nhập thể. Như thế chúng ta sẽ hiểu biết hơn các bước khởi đầu của niềm hy vọng của chúng ta. Và nguyên lý phục hồi con người là sự thương khó của Ðấng Cứu Chuộc chúng ta, sẽ được sáng tỏ hơn." (Epistolae duae de ratione Paschae, PL, tome LXVII, col. 20)

Cách tính các năm như thế này, trước hết, lan tràn ở Anh quốc, dưới sự thúc đẩy của Toàn quyền Bède, sau đó qua nước Pháp, cuối cùng là Ý và Ðức. Dưới triều Charlemagne, vua nước Pháp, dương lịch được chính thức đón nhận vào cuối năm 800, năm ông lên ngôi. Nhưng thật sự thì chỉ vào năm 1000, giáo triều mới bắt đầu sử dụng dương lịch.

Nhưng chúng ta chưa đi hết quãng đường gai chông. Dù cho có khả năng, Denys cũng đã có chút sai lầm trong cách tính toán của ông. Ông dựa trên các chỉ dẫn có tính cách phỏng định của thánh sử Lu-ca. Thánh Lu-ca cho chúng ta hai điểm tựa sau đây:

a) Ðức Yê-su sinh ra vào dịp kiểm tra dân số thời Qui-ri-ni-ô trấn nhiệm xứ Sy-ri. (Lc 2:1).

b) Yo-an Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ vào năm 15 thời hoàng đế Ti-bê-rô, thời mà Ðức Yê-su "vào khoảng ba mươi tuổi." (Lc 3:1-23)

Nhưng qua sử gia Flavius Josèphe (+100), chúng ta biết rằng việc kiểm tra dân số xảy ra vào năm thứ 6 sau Ðức Yêsu. Mặt khác, thánh sử Mát-thê-ô xác nhận Ðức Yê-su sinh ra "vào thời Ðại đế Hê-rô-đê" (Mt 2:1), mà ông này lại trị vì từ năm -37 đến -4! Hình như Denys xem trọng từng chữ các chỉ dẫn phỏng chừng của thánh Luca ("vào khoảng ba mươi tuổi") và lầm ở ngày bắt đầu năm sinh của Ðức Yê-su. Ngài sinh ra vào khoảng năm thứ 4 hay thứ 6 trước kỷ nguyên Ki-tô thì đúng hơn.

VI. BIỂU TƯỢNG MỚI LÀ QUAN TRỌNG

Dù sao, điều đáng kể là ý nghĩa mà Denys muốn đem đến cho kỷ nguyên do ông sáng tạo ra. Ðối với ông, Ðức Yê-su Ki-tô thật sự là then chốt, là trung tâm điểm của lịch sử nhân loại. Chính nơi Người, mà thời gian được tràn đầy sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính trong Người, mà lịch sử mới có ý nghĩa và tìm được con đường thành tựu. Như thế, trong năm 2000, trước hết, chúng ta phải nhớ rằng năm tháng ngày giờ này có một ý nghĩa tôn giáo. Nó không phản ảnh một danh nhân chính trị, một chiến thắng quân sự, hay một khám phá khoa học, hoặc quyết định của một Thượng Hội Ðồng. Nhưng là phản ảnh ngày Sinh Nhựt của một Người, mà qua Người này, chúng ta thấy được ân huệ của Thiên Chúa đã ban chính mình cho muôn dân muôn nước.

( Xin xem Le Petit Livre du Grand Jubilé của Georges Madore)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com