Lm. Bùi Quang Tuấn, CSsR.

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN.  16-01-2000 : GIỚI THIỆÄU ÐỨC KITÔ CHO THA NHÂN .

CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN.  23-01-2000 :  TUYỂN QUÂN .

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN.   30-01-2000 : GIÁO LÝ CHÍNH THỐÁNG. 

CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN. .  06-02-2000 :  MÙA XUÂN GIÁO HỘI.

 Back to Top Back to Top



Chúa Nhật II Thường Niên

16-01-2000
1 Sm 3:3b-10,19; 1 Cr 6:13c-15a, 17-20; Ga 1:35-42

GIỚI THIỆU ÐỨC KITÔ CHO THA NHÂN

 

"Vậy họ đã đến và đã thấy nơi Ngài lưu lại và họ đã lưu lại với Ngài ngày hôm ấy" (Ga 1:39).

Còn gì hạnh phúc cho bằng khi yêu nhau thắm thiết và được chung sống bên nhau suốt đời. Thế nên ngày thành hôn của một đôi nam nữ thường được ghi nhận như mốc điểm, có khi là cao điểm của hạnh phúc ngập tràn sau những tháng ngày gặp gỡ, quen biết, yêu thương và nhớ nhung. Tất nhiên niềm hân hoan sung sướng đó không hệ tại ở chỗ chàng và nàng được "đóng" lên mình những bộ đồ cưới sang trọng, lộng lẫy, hay được trao tặng những lời chúc tụng nồng nàn trong buổi lễ tiếp tân. Cũng chẳng phải vì hôm đó họ được làm những người đẹp nhất và nổi bật nhất giữa bao nhiêu quan khách. Nhưng vì trong ngày thành hôn đó, họ chính thức thuộc về nhau, để kết hợp và đồng hành với nhau trên con đường đắp xây hạnh phúc.

Nhìn thấy, khám phá, yêu mến, và kết hợp là một tiến trình sống động của kiếm tìm hạnh phúc. Không thấy nhau, làm sao có được tình yêu đúng nghĩa. Nhưng yêu mà không được ăn đời ở kiếp với nhau thì có nỗi khổ đau nào to lớn hơn. Yêu mà không được kết hợp xum vầy thì có khác chi tình của Ngưu Lang Chức Nữ. Thế nên ý nghĩa cuộc đời có được kết tụ là khi một chuỗi hành động "nhìn thấy", "khám phá", yêu thương", và "kết hợp" được thực hiện.

Trong câu chuyện giới thiệu về Ðấng Thiên Sai của ngày Chúa Nhật Thường Niên Tuần II năm B này, Thánh Sử Gioan đã rất cân nhắc khi trình bày một loạt các hành động của hai môn đệ đang đi tìm ý nghĩa của cuộc đời. Trước hết họ nhìn thấy Ðức Kitô khi Gioan Tẩy giả giới thiệu Ngài: "Ðây là Chiên Thiên Chúa." Ðức Kitô, Ðấng muôn dân hằng trông đợi, các tổ phụ và tiên tri của dân tộc Israel hằng mong được xem thấy, lại đang đi đứng trước mắt họ. Nhưng thấy người chưa đủ, còn cần phải biết về Người. Thế nên ho đã đi theo để "xem" chỗ Ngài ở. "Xem" là tìm hiểu sâu xa con người bên trong của Ðức Kitô. Và khi khám phá ra những nét đáng yêu vô cùng nơi con người của Chúa Giêsu thì họ đã "ở lại với Ngài". Nói cách khác, hai môn đệ đã được kết hợp mật thiết với Ðức Giêsu. Họ vừa khám phá ra ý nghĩa của cuộc đời nơi con người Giêsu và đã dừng chân sau tháng năm dài tìm kiếm.

Rất nhiều người đã nhìn thấy Ðức Kitô, nhưng thử hỏi có bao nhiêu tâm hồn đã tìm hiểu và khám phá ra con người bên trong của Ngài, hầu yêu mến và được lưu lại nơi đó. Xưa kia, được thấy Chúa Giêsu tỏ tường, thế mà lắm người Do thái vẫn chưa khám phá ra được chân dung đích thật của Ngài. Ngày nay trước sự hiện diện vô hình của Ðức Kitô, làm thế nào để con người có thể nhận chân được Ngài chính là lẽ sống của cuộc đời?

Một phương thế đơn giản khả dĩ giúp ta tìm hiểu Ðức Kitô là đối thoại. Ðối thoại chứ không phải độc thoại. Ðối thoại là biết nói và biết nghe. Ta nghe Chúa nói qua các biến cố trong cuộc đời, qua việc suy gẫm Thánh Kinh, hoặc qua việc đọc các sách báo thiêng liêng. Ta nói với Chúa bằng việc chia sẻ với Ngài những tâm tư, nguyện ước, và cả những khắc khoải âu lo. Chính nhờ đối thoại với Chúa Giêsu mà hai môn đệ đã gặp gỡ được dung nhan của Thiên Chúa yêu thương. Nên chi sau cuộc đối thoại đó lòng họ như trào dâng một niềm tin yêu và một sức sống mới, khiến môi miệng họ bật thốt lên trong niềm hân hoan vui mừng: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Mêsia"--lời đó cũng có nghĩa là chúng tôi đã cảm nhận được tình thương của Thiên Chúa nơi con người Ðức Giêsu.

Hạnh phúc thay kẻ tìm thấy lẽ sống cho đời mình trong Chúa Giêsu. Nhưng lẽ sống đúng nghĩa của người môn đệ Ðức Kitô lại luôn gắn liền với ơn gọi trao ban. Không ai gặp được Ðức Kitô mà không hề chia sẻ hay giới thiệu Ngài cho kẻ khác. Thánh Gioan Tẩy Giả gặp thấy Ðức Kitô nhờ thị kiến và mạc khải từ trời, và đã giới thiệu Ngài cho các môn đệ. Những môn đệ, sau khi gặp gỡ Chúa, cũng đã giới thiệu Ngài cho người thân: Anrê giới thiệu cho Phêrô, em mình.

Lời mời gọi giới thiệu Ðức Kitô, Lẽ Sống của cuộc đời cho tha nhân, được trao đến cho từng người Kitô hữu. Và việc đáp trả tiếng gọi phải được thể hiện qua chính con người của mình. Bởi vì như Thánh Phaolô xác định rất rõ trong bài đọc hai: Nếu Ðức Kitô là Lẽ Sống của tôi, thì tôi đã được kết hợp và nên một với Ngài trong thần trí (1 Cor 6:17), và bấy giờ tâm hồn cùng thân xác tôi không còn thuộc về dục vọng, xác thịt, dâm dật, nhưng là thuộc về Thiên Chúa (1 Cor 6:13b).

"Ðức Kitô phải được tôn vinh nơi thân mình tôi, dù tôi sống hay tôi chết" (Phil 1:20b). Theo Thánh Phaolô thì đây là sự đáp trả lời kêu gọi giới thiệutôn vinh Thiên Chúa cách sống động và chân thành nhất. Qua lối sống và những chọn lựa của tôi trong cuộc đời, tha nhân sẽ nhận ra giá trị, đối tượng, và lẽ sống của tôi. Họ không thể gặp được Ðấng Mêsia nếu tôi chọn lựa xác thịt, "dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, ma thuật, hằn thù, kình địch, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè đãng, ganh tị, say sưa, chè chén"(Gal 5: 19-20). Nhưng nếu lối sống của tôi tỏ hiện sự "mến yêu, vui mừng, bình an, rộng rãi, tốt lành, lương thiện, tín trực, hiền từ, tiết độ" (Gal 5: 22-23) thì chắc chắn tha nhân đang gặp được một hình ảnh Thiên Chúa sống động nơi con người của tôi.

Lời mời gọi giới thiệu Chúa cho mọi người hay ơn gọi truyền giáo không gì khác hơn là sứ mạng làm lan toả tinh thần Kitô giáo đến khắp nơi. Nhưng tinh thần Kitô giáo nghĩa là gì nếu không phải là yêu thương để kiến tạo và tái tạo sự sống. Và yêu thương thì phải sống động chân thành.

Jack McArdle thuật lại một hình ảnh đáng ghi nhớ xảy ra trong một trận chiến ác liệt của thế chiến thứ hai: một người lính trẻ bị thương trầm trọng bởi một quả đại bác bắn tới từ phía địch quân. Anh có nguy cơ tắt thở trong chốc lát. Một linh mục tuyên úy vội chạy đến để giúp anh dọn mình chết lành. Ngài hỏi, "Anh có muốn tôi đọc cho nghe đoạn Thánh Kinh này không?" Thay vì trả lời, người thương binh thều thào, "Tôi khát, làm ơn cho tôi chút nước." Vị tuyên uý vội vã chạy đi kiếm nước mang lại cho anh. Sau khi uống được mấy ngụm, anh thương binh nói, "Tôi khó thở, làm ơn kê đầu tôi cao lên một chút." Cha tuyên uý vội cởi áo khoác ngoài của mình, cuộn lại và nhẹ nhàng kê dưới đầu anh ta. Người thương binh lại rên rỉ, "Bây giờ thì tôi lạnh quá, xin đắp cái gì lên mình tôi." Vị tuyên uý lập tức cởi chiếc áo giáp đang mặc và đắp lên cho anh.

Lúc này, người lính trẻ nhìn thẳng vào mắt vị tuyên uý và nói, "Thưa ngài, nếu như trong cuốn sách kia có chứa đựng những lời khuyên gì khiến người ta làm cho kẻ khác những điều mà ngài vừa làm cho tôi, thì xin hãy đọc lên, tôi ao ước được lắng nghe điều đó."

Rõ ràng là nếu việc làm của tôi không diễn tả được giá trị của yêu thương, thì những lời tôi nói sẽ chẳng bao giờ làm được chuyện đó, bởi vì trăm lần nghe không bằng một lần thấy.

Ðiều đánh động tâm hồn người khác và giúp họ nhân chân ra con người của Ðức Kitô cách rõ ràng nhất chính là hành động yêu thương được cụ thể hoá nơi con người tôi.

Chính khi gia đình tôi biết yêu thương, cộng đoàn biết tương thân tương ái, chính khi tôi biết đối xử chân tình với các đồng nghiệp bạn hữu là tôi đang tìm đến gặp gỡ và lưu ngụ trong Thiên Chúa, Suối nguồn Hạnh phúc, và đồng thời, đang giới thiệu cho tha nhân chính dung nhan của Ðức Kitô, một Tình Yêu làm người.

 Back to Top Back to Top


 


Chúa Nhật III Thường Niên

23-01-2000
Gn 3:1-5,10; 1 Cr 7:29-31; Mc 1:14-20

TUYỂN QUÂN

"Và Ðức Giêsu nói với họ: ‘Hãy theo Ta’và họ đã bỏ cả chài lưới mà theo Ngài"(Mc 1: 17).

Cuối năm 1999 vừa qua, trước tình trạng thiếu hụt binh lính trong các đơn vị, Bộ Quốc Phòng Hoa kỳ đã đưa ra một quảng cáo rất hấp dẫn nhằm chiêu mộ thêm thanh niên nam nữ tòng quân giúp nước.

Ngũ Giác Ðài tức Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã tặng một món tiền thưởng lên đến 6.000 đô la cho những ai tình nguyện gia nhập lục quân trong khoảng thời gian từ cuối tháng Tám cho đến 30 tháng Chín. Tuy nhiên kể từ khi tung ra món tiền "câu người" cộng với những giao kèo cho đi học các ngành nghề thực dụng và cao cấp, rất bảo đảm cho cuộc sống tương lai sau khi giải ngũ, kết quả tuyển quân vẫn rất khiêm nhường. Chỉ được chưa tới 1.000 người, trong khi chỉ tiêu bộ quốc phòng đề ra là 6.000.

Người ta cho biết nguyên nhân của sự thiếu hụt binh lính, cũng như tình trạng đáp ứng không mấy sốt sắng, dù rằng quảng cáo rất hấp dẫn, là vì tình trạng kinh tế quá khả quan. Cuộc sống còn dễ thở, công việc không khó kiếm, nên đi lính làm gì. Với lại, cuộc đời quân kỷ ngày nay khá là gắt gao nên chẳng mấy ai hăng hái tham gia.

Mẫu tin thời sự cuối năm, tình cờ xem thấy sau khi đọc qua bài Phúc âm Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ tiên khởi, đã gợi lên trong tôi đôi chút suy tư: có lẽ chưa lúc nào việc đi lính được trọng đãi như lúc này. Vừa được tiền lại vừa được nhiều lợi lộc khác. Sự chết chóc đổ máu cũng không dễ gì xảy ra. Ấy thế mà chẳng mấy ai hưởng ứng. Lý do là vì sống đời dân sự vẫn tìm được nhiều tiền hơn. Thế ra cái gì lợi vẫn được người ta ưu tiên chọn lựa.

Riêng việc đi theo Chúa, khách quan mà nhận xét thì không thấy được thêm đồng nào, thậm chí còn phải từ bỏ rất nhiều: bỏ thân bằng quyến thuộc, tài sản vật chất, dự tính riêng tư, có khi còn phải đối diện với khó khăn hiểm nguy, nhưng không hiểu sao theo tổng kết của Toà Thánh thì chiều hướng gia tăng ơn gọi hiện nay rất lạc quan, nhất là tại các vùng Á châu.

Thử hỏi theo Chúa được lợi gì?

Ngày xưa, khi đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu, các Tông đồ Phêrô, Anrê, Gioan, Giacôbê đã phải bỏ lại cha mẹ, những người làm công quen biết. Họ phải giã từ luôn cả chiếc thuyền, tấm lưới, biển khơi, để theo một con người mà chỗ gối đầu không có, tài sản nổi chìm gì cũng không. Ðã vậy, tình trạng no đói cũng thất thường, đến nỗi có hôm phải tuốt gié lúa mà ăn cho đầy bụng. Tương lai về tài chánh, kinh tế, an sinh không mấy hứa hẹn, ấy thế mà còn phải đi theo Con Người đó suốt đời.

Ði lính hay tham gia phục vụ trong một tổ chức hành chánh nào thì cũng có những hạn kỳ nhất định. Ít là 2 hay 3 năm, nhiều là 40 hay 50 năm. Sau đó có thể giải ngũ để đi theo những dự phóng của mình khi xưa. Còn bước theo Ðức Giêsu là phải bước theo suốt cả cuộc đời. Không có tình trạng vài ba hôm rồi nghỉ, hay 5, 6 năm rồi thôi. Ấy thế mà tại sao vẫn có không ít người đã "từ bỏ mọi sự để đi theo Ngài"? Thử hỏi người ta muốn tìm điều chi bên kia sự từ bỏ? Trong mọi hành động hay bước đi của con người luôn luôn có đích tới, vậy đích tới của người theo Chúa Giêsu là gì?

Cuộc đời của con người hay được đan dệt bởi hai câu hỏi "Sống để làm gì?" và "Làm gì để sống?" Sự sống đây tất nhiên không chỉ thuần tuý sự sống của phần xác, được duy trì bằng ăn uống, hoạt động, ngủ nghĩ, nhưng còn là sự sống tâm linh, một sự sống chỉ được thăng hoa khi tìm ra ý nghĩa và giá trị của cuộc đời. Nhưng ý nghĩa cũng như giá trị cao đẹp của cuộc đời con người không nằm nơi tiền tài, vật chất, dục tình, danh vọng, nghề nghiệp, nhưng là "con người".

"Hãy theo Ta, Ta sẽ cho các ngươi làm ngư phủ bắt người" (Mc 1: 17). "Con người" mới là lý tưởng và mục tiêu tiến tới. Trải dài trong lịch sử cứu độ, khi Thiên Chúa cất tiếng gọi hay chọn ai--dù là Abraham, Môisen, Samuen, Ðức Maria, hay các Tông đồ Phêrô, Gioan--không bao giờ chỉ để họ được hưởng phúc vinh, nhưng là để cộng tác trong tiến trình đưa mọi người vào chung hưởng Tin Mừng Thiên Chúa yêu thương con người.

Ðể có thể thành công trên bước đường đem niềm hy vọng yêu thương đến cho mọi người và đưa mọi người về với cội nguồn yêu thương là Thiên Chúa, kẻ được gọi trước hết cần phải hướng đến, đón nhận, và bước theo một con người: Ðức Giêsu. Ðây chính là đích điểm của mọi đích điểm, giá trị trên mọi giá trị, và chính lộ của muôn vạn nẻo đường. Do đó trước khi có thể "chài lưới người" là phải "theo Ta". Không thể nào tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời hay nhận rõ được giá trị của con người để mà đi "lưới" về, nếu không tin phục Ðức Kitô.

Chỉ có Ðức Kitô mới có thể làm cho một ngư phủ lưới cá thành một ngư phủ lưới người. Thế giới vạn vật có gì so sánh được với giá trị siêu việt của con người. Thiên Chúa không đến thế gian để đánh bắt tôm cá hay cứu vớt một sinh vật nào khác ngoài con người. Cho nên đáp trả lời mời gọi cộng tác trao ban tình thương của Thiên Chúa cho nhân loại là ta đang làm cho cuộc sống đời mình và đời người nên tốt đẹp, ý nghĩa.

Một lần kia, trên một bài báo, nhà tỉ phú George Soros đã than thở: "Tôi không biết mình đang giàu hay tôi đang nghèo; tôi đang làm chủ số phận hay là nô lệ cho thành công? Bởi vì để thành công tôi phải làm việc như một con chó; để giàu có tôi phải chịu căng thẳng trường kỳ; và để duy trì phú quí tôi phải chịu cảnh bất an liên tục, một sự bất an mà thiết tưởng kẻ nghèo khổ nhất hiện nay cũng chưa phải gánh chịu."

Thế rồi một ngày kia, một tiếng gọi vang lên từ nơi thẳm sâu của tâm hồn George Soros. Trong âm thầm ông đã hành động. Ông chi viện hàng năm 300 triệu đô la cho các những người nghèo bên phương Ðông, trợ giúp 50 triệu đô cho người Macedoine đang bị các nước chung quanh cô lập; ông chi 50 triệu đô cho thành phố Sarajevo trong việc tái thiết hệ thống cung cấp nước cho người di tản; ông còn trả tiền cho gần 30 ngàn khoa học gia thuộc khối cộng sản sau khi sụp đổ, để họ không cộng tác với những quốc gia khủng bố, chế tạo bom đạn nguyên tử, gây tang thương cho thế giới. Sau những công tác cứu trợ nhiều quốc gia và dân tộc, Soros tâm sự: "Chỉ từ khi biết yêu thương và chia sẻ, đời tôi mới bắt đầu nếm được mùi hạnh phúc và sung túc thật sự."

Ðúng vậy, chỉ khi biết yêu thương và phục vụ con người trong đường lối của Thiên Chúa, chúng ta mới cảm nếm được giá trị và ý nghĩa của đời mình.

 Back to Top Back to Top



Chúa Nhật IV Thường Niên

30-01-2000
Ðnl 18:15-20; 1 Cr 7:32-35; Mc 1:21-28

GIÁO LÝ CHÍNH THỐNG

 

"Hãy câm đi, và ra khỏi người này!"(Mc 1:25).

Một lần kia, nhân có cuộc tụ họp của người Do thái nhân ngày lễ Sabbat tại một hội đường thuộc xứ Capharnaum, Chúa Giêsu đã đến để rao giảng cho họ về Nước Thiên Chúa. Ðang khi dân chúng thích thú kinh ngạc về những giáo lý xuất phát từ miệng Chúa Giêsu, thì một kẻ bị quỉ ám kêu thét lên, làm huyên náo cả phòng hội. Hắn vừa la hét nhìn nhận Ðức Giêsu là "Ðấng Thánh của Thiên Chúa," vừa xua đuổi không muốn sự hiện diện của Ngài chiếm ngự tâm hồn người ta. Kẻ bị quỉ ám vật vã than trách: "Ngài đến để tiêu diệt chúng tôi sao?" Không nhượng bộ, Chúa Giêsu quát bảo nó: "Hãy câm đi, và ra khỏi người này." Trước uy quyền của Thiên Chúa, quỉ đã phải xuất ra.

Vấn đề được nêu lên: Sau đó quỉ đi đâu? Phải chăng quỉ vẫn còn lang thang đây đó, tìm kiếm những tâm hồn không đón nhận sự hiện diện của Chúa Giêsu để vào trú ngụ? Phải chăng nó vừa nhìn nhận Thần tính của Chúa Giêsu vừa muốn đẩy Ngài ra khỏi "hội đường" là Giáo hội và lòng người? Phải chăng quỉ rất sợ và rất ghét sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cuộc đời người Kitô hữu, nhất là sự hiện diện đích thật của Ngài trong Bí tích Thánh Thể?

Cuộc thăm dò của viện Gallup hồi tháng 1 năm 1992 cho hay: cứ 3 người Công giáo tại Hoa kỳ thì có 2 người không còn tin Chúa Giêsu hiện diện thật sự trong Bí tích Thánh Thể. Phần lớn cho rằng bánh rượu sau khi vị linh mục truyền phép chỉ là hình ảnh tượng trưng cho sự hiện diện của Chúa Giêsu mà thôi. Thế rồi đến tháng 6 năm 1994, một thống kê khác do Nhật báo New York Times và hệ thống truyền hình CBS đã tái xác nhận kết quả thăm dò của viện Gallup. Bản thống kê năm 1994 cho biết trong số những người Công giáo từ 45 tuổi trở xuống thì có 2/3 số người cho rằng bánh rượu nhắc nhớ về sự hiện diện của Chúa, không hơn không kém. Riêng thành phần trên 65 tuổi thì chỉ có một nửa quả quyết Chúa Giêsu hiện diện thật trong Phép Thánh Thể.

Thống kê trên đây giải thích tại sao nhiều người Công giáo Hoa kỳ đi dự Thánh lễ nhưng không hiểu rõ những gì đang diễn ra trên bàn thờ. Người ta không còn tin hay không nhận thức rõ rằng Thánh lễ là một cuộc tái diễn Hy Tế của Chúa Kitô, trong đó họ được thông phần vào cuộc khổ nạn và phục sinh với Ðức Kitô. Trái lại, Thánh lễ chỉ còn được thuần tuý xem như một cuộc gặp gỡ thân ái giữa những người anh em Kitô hữu với nhau, hội họp lại để cùng ca ngợi Thiên Chúa. Rốt cuộc, sự linh thánh của Thánh Lễ bị đánh mất. Người ta đến dự lễ không phải để đi sâu vào mầu nhiệm đức tin, nhưng để gặp nhau, với những ca hát sao cho xôm tụ, các phần lễ nghi sao cho càng nhanh càng tốt, càng mau càng thích.

Khi Thánh lễ bị nhìn lệch lạc và thiếu sót như thế, thì không lạ gì việc Thánh Thể chỉ được xem như một biểu tượng mang giá trị liên kết và hiệp nhất cộng đoàn. Rồi với nhận thức như thế, có không ít người đã bất chấp tình trạng tâm hồn bất xứng và cứ lên rước lễ. Ðây quả là một hướng đi nghịch lý. Hiệp nhất với cộng đoàn mà lại không hiệp nhất với Chúa thì quả là một lệch lạc.

Vấn đề được đặt ra: do đâu mà có sự bất kính Mình Máu Thánh Chúa như vậy? Vì sao đã có những quan niệm lệch lạc về Thánh Lễ và Thánh Thể như thế? Tại ai mà có tình trạng băng hoại niềm tin?

Xin thưa, đó là do những thần học gia "giải phóng," những giáo lý viên, và ngay cả một số giáo sĩ, những người muốn "canh tân" bằng đường lối bất tuân phục, chống lại huấn quyền của Ðức Thánh Cha. Họ xem những giáo thuyết Công giáo là những giá trị có tính cách tạm thời, có thể thay đổi để phù hợp với sự đổi thay của thời đại. Các thành phần canh tân cách phóng túng này đã xâm nhập trong các hệ thống đào tạo như đại học, chủng viện, các tổ chức giảng dạy giáo lý. Và rồi những tư tưởng "giải phóng" lầm lạc đã được truyền bá một cách tinh vi.

Hiện nay, nhiều nhà thần học Công giáo chân chính đã khám phá và lên tiếng vạch trần những tư tưởng lầm lạc đó. Ðể có thể thấy rõ vấn đề hơn, sau đây là bản đối chiếu giữa những tư tưởng của thành phần "giải phóng" và niềm tin chính thống của đạo Công giáo của Cha Richard Foley viết trong bài tham luận về Thánh Thể, do tờ Queen of Peace phát hành năm 1997:

1. Thành phần "giải phóng" cho rằng Bánh và Rượu sau khi truyền phép chỉ là tượng trưng cho sự hiện diện của Chúa Giêsu.

- Giáo hội xác quyết rằng "Linh hồn, Thể xác và Thần Tính của Chúa Giêsu Kitô thật sự hiện diện trong Bánh và Rượu Thánh sau khi Linh Mục đọc lời truyền phép trong Thánh Lễ."

2. Thành phần "giải phóng" cho rằng Thánh lễ chỉ là dịp cho giáo dân tụ họp gặp gỡ nhau trong một bữa tiệc. Còn việc Chúa Giêsu hiến tế thì chỉ một lần duy nhất cách đây 2000 năm.

- Giáo hội dạy rằng, "Thánh Lễ không chỉ là một bữa tiệc thiêng liêng tưởng niệm bữa tiệc ly. Thánh Lễ chính là cuộc Hiến Tế thực sự, làm mới lại cuộc Hiến Tế xưa kia của Ðức Giêsu Kitô trên đỉnh đồi Golgotha.

3. Thành phần "giải phóng" muốn truyền bá tư tưởng "toàn thể cộng đoàn tham dự với tư cách Tư Tế, cùng cử hành Thánh Lễ. Còn Linh mục chỉ đóng vai trò chủ trì và thực hiện nghi lễ thôi."

- Giáo huấn chính thức của Giáo hội dạy rằng, "Chỉ có những Linh Mục được phong chức thánh mới có thể cử hành Bí Tích Thánh Thể và diễn lại cuộc Hy Tế của Chúa Giêsu Kitô."

4. Thành phần "giải phóng" tuyên truyền rằng bữa tiệc trong Thánh Lễ là một bữa ăn để mọi người cùng vui vẻ kết tình thân hữu với nhau và với Chúa, nên ai cũng có thể đón Bánh Thánh tượng trưng cho sự hiện diện tinh thần của Chúa Giêsu.

- Giáo huấn chính thức của Giáo hội dạy rằng, "Chỉ những người Công giáo không mắc tội trọng, đang sống trong ân sủng mới được Rước Lễ."

5. Thành phần "giải phóng" nói rằng dù Bánh Thánh được xem là sự hiện diện của Chúa Giêsu thì sự hiện hữu đó cũng bị gián đoạn sau khi Thánh Lễ kết thúc, nên không cần việc tôn kính hay chầu Mình Thánh gì cả.

- Giáo huấn chính thức của Giáo hội dạy rằng, "Sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể vẫn còn tồn tại sau Thánh Lễ. Dù để trong Nhà Tạm hay trong Chén Thánh thì Thánh Thể vẫn nguyên trạng, nghĩa là vẫn có sự hiện hữu của Thần hồn và Thân xác Chúa Giêsu để mọi tín hữu kính thờ và tôn vinh."

Những thành phần muốn có một sự thay đổi giáo thuyết, để phù hợp với những biến chuyển của xã hội đã gieo rắc những tư tưởng "giải phóng" trên đây. Và rồi khi cố gắng "canh tân" họ đã đi quá xa trong việc làm băng hoại niềm tin của nhiều người vào Bí tích Thánh Thể, một Bí tích Tình Yêu và căn bản của niềm tin Công giáo.

Chúng ta hãy cầu xin với Chúa hằng ngày, hàng tuần, nhất là mỗi lần rước Lễ để chính Chúa sẽ trục xuất những tư tưởng sai lạc, những giáo lý ngông nghênh, những thần ô uế của thời đại ra khỏi tâm hồn của người theo Chúa.

"Hãy câm đi, và ra khỏi người này." Chắc rằng lời quát bảo với thần ô uế đó của Chúa Giêsu năm xưa vẫn còn vang vọng cho đến hôm nay. Nhất định Chúa Giêsu sẽ không để cho chi thể mầu nhiệm của Ngài là Giáo hội bị những giáo thuyết của các thần ngoại lai hay của các tiên tri giả thống trị. Bởi vì, như lời Chúa đoan quyết trong sách Ðệ Nhị Luật: "Kẻ nào không nghe lời của Ta mà lại đi nói nhân danh Ta, chính Ta sẽ hỏi tội nó. Còn những tiên tri nào tự phụ, dám nhân danh Ta mà nói càn lời Ta không truyền phải nói, hoặc nhân danh các thần khác mà nói, thì nó sẽ phải chết" (Ðnl 18: 19-20).

Ước gì mỗi người Kitô hữu luôn biết học hỏi, đón nhận và sống theo những giáo lý chính thống của Giáo hội, được thông truyền qua Ðức Thánh Cha và hàng giáo phẩm hiệp thông với ngài, hầu có được niềm tin kiên vững vào sự hiện diện của Chúa Giêsu trong hình Bánh và Rượu. Ðồng thời không quên cầu nguyện cho các linh mục, các vị giảng dạy, để họ cũng xác tín và mến yêu luôn mãi Chúa Giêsu Thánh Thể, hầu qua đó, tình yêu và sức sống của Thiên Chúa tuôn tràn trong mọi tâm hồn, gia đình, cộng đoàn, và thế giới.

 Back to Top Back to Top



Chúa Nhật V Thường Niên

06-02-2000
G 7:1-4,6-7; 1 Cr 9:16-19,22-23; Mc 1:29-39

MÙA XUÂN GIÁO HỘI

 

"Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã lân cận, để rao giảng ở đó nữa"(Mc 1: 38).

Khi nắng ấm về bao trùm vạn vật, khi muôn loài như bừng dậy sau giấc ngủ đông dài, cây đâm chồi, cành nẩy lộc, hoa hé nụ, bướm ong bắt đầu dập dìu đó đây, tiếng chim cất lên lảnh lót khắp không gian, thì ta cảm nhận được xuân đã về, một năm mới lại đến.

Phải chăng nhân loại có được xuân mới là vì thiên nhiên có hoa khoe sắc, có tiếng chim ca, và có nắng ấm chan hoà?

Thiết tưởng trong mùa đông, đôi khi cũng vang lên những tiếng chim lạc loài, và không ít vài bông hoa dại nở trái mùa, nhưng những hương sắc và âm thanh đơn điệu đó không làm thay đổi được quang cảnh của mùa đông, chưa biến nổi mùa đông thành mùa xuân. Song chỉ lúc mọi loài nhận được hơi ấm của mặt trời, để cùng bừng dậy phô bày những tinh hoa sức sống của mình thì sự tươi đẹp và phấn khởi của mùa xuân mới được cảm nếm dạt dào.

Ðúng là "một con én không làm nên mùa xuân." Vì mùa xuân không chỉ dành riêng cho một cánh én, hay một loài hoa, nhưng là cho tất cả.

Chính vì lẽ đó mà ngay trong bài giáo huấn đầu tiên cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã bảo: "Chúng ta hãy đi đến các làng lân cận để rao giảng ở đó nữa."

Ðức Giêsu và Tin Mừng Cứu Ðộ của Ngài không chỉ dành riêng cho một làng, một thành, hay một gia đình nào, nhưng là cho khắp muôn nơi và cho hết mọi người.

Thế nên thật vô lý khi độc chiếm Ðức Giêsu: "Ngài là của tôi chứ không phải của anh," hay "Ơn cứu độ của Ngài chỉ dành cho người có đạo, chứ không ở nơi lương dân." Có lẽ không ít người vẫn đang thắc mắc về một lời tuyên bố trong thế kỷ 13: "Ngoài Giáo hội, không có ơn cứu độ." Nhiều người lầm tưởng rằng Giáo hội đã giới hạn ơn cứu độ và chỉ dành nó cho ai tin nhận Chúa Giêsu qua Phép Rửa mà thôi. Ðúng ra, giá trị và ý nghĩa của lời tuyên bố đó là: Chỉ có nơi Chúa Giêsu, người ta mới tìm gặp được Tin Mừng Cứu Ðộ; ai có được ơn cứu rỗi, dù là lương dân hay ngoại giáo, thì chắc một điều là họ đã ở trong Ðức Kitô; dưới một khía cạnh nào đó, kẻ ấy đã ở trong mối liên hệ với Chi thể mầu nhiệm của Chúa Giêsu là Giáo hội rồi, tức là họ đã sống thông hiệp trong tinh thần ngay chính, biết làm lành lánh dữ, thực thi công bình yêu thương, dầu rằng họ chưa có cơ may nghe biết về Ðức Giêsu để tin nhận Ngài.

Nhưng do đâu mà nhiều người chưa được nghe biết Ðức Giêsu? Phải chăng vì Giáo hội, sự hiện diện mầu nhiệm của Ngài, đang bị người Kitô hữu đóng khung trong một đoàn thể, một khu xóm hay một nhà thờ? Có phải vì sự hiện diện của Ðức Giêsu chưa được họ làm vươn tới nơi các tâm hồn?

Thiên Chúa đâu muốn giới hạn ơn cứu độ của Ngài trong một làng, một thành, hay riêng cho tâm hồn mình. Song Tin Mừng của Ơn Cứu Ðộ phải được chia sẻ trao ban cho hết mọi người. "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã lân cận, để rao giảng ở đó nữa." Ðây là một lời kêu mời, hay đúng hơn, là một lệnh truyền sai đi.

Nếu tôi chưa làm cho Tin Mừng được lan toả đến các tâm hồn thì đời tôi mới chỉ như chiếc hoa mùa đông, chứ chưa là cánh hoa mùa xuân. Tôi vẫn còn đơn điệu khép kín. Thế nên, thật "khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin mừng" (1Cor 9: 16b), nếu tôi không mở cửa lòng cho hồng ân tuôn chảy đến với tha nhân.

Thần học gia Maurice Zundel từng quả quyết rằng: "Chúng ta không phải là Kitô hữu cho riêng mình, mà cho Ðức Kitô, cũng như chúng ta thuộc về Giáo hội vì Ðức Kitô, hầu mở đường cho tính công giáo của tình yêu Ngài được lan rộng và cho ơn cứu chuộc của Ngài trải ra khắp hoàn cầu. Ðức Kitô còn dở dang và chưa thành toàn bao lâu toàn thể nhân loại chưa tháp nhập vào với Ngài" (À L’Ecoute de Silence).

Vì chúng ta thuộc về Giáo hội, và sâu xa hơn, chúng ta là chi thể Giáo hội mà Ðức Giêsu là đầu, nên sứ mạng cần thực thi là bước ra khỏi những ranh giới cục bộ và cuồng tín của mình để làm cho sự hiện diện của Ðức Giêsu được bừng sáng. Chúng ta thực sự thuộc về Giáo hội khi bạn và tôi có Chúa Kitô và nên giống Ngài trong tinh thần và sứ mạng ra đi, ra đi để trao ban sự sống cho người khác, ở những nơi khác. Bao lâu còn đắm chìm trong tìm kiếm những lợi ích và thoả mãn riêng tư, người Kitô hữu chưa phải là Giáo hội đúng nghĩa, vì chưa chịu ra đi.

Nhưng bước đi của tôi có can trường dứt khoát, hay ngập ngừng chán ngán? Tôi sẽ ra khỏi bức thành của lòng mình để đến với tâm hồn của những người lân cận, hay tôi vẫn đi, nhưng chỉ đi loanh quanh bên trong bức tường thành?

Bước chân đến với tha nhân mạnh yếu thế nào còn tuỳ thuộc rất nhiều vào bước chân đến với Thiên Chúa. Thánh Marcô ghi lại: "Sáng sớm tinh sương, Ngài chỗi dậy ra đi, đến một nơi hoang vắng, và Ngài cầu nguyện ở đó." Thế ra, để không bị "bám rễ" và để thực hiện trọn vẹn sứ mạng được sai đi, Ðức Kitô đã thường xuyên bước đến với Thiên Chúa Cha, trong thanh vắng, nơi núi cao, lúc sáng sớm, khi chiều về. Ngài cầu nguyện. Rồi sau khi cầu nguyện với Cha, Ngài bước đến với con người. Cầu nguyện với Thiên Chúa là để múc lấy nơi Ngài sức mạnh cho bước chân đến với tha nhân.

Ðể có những bông hoa ngát hương, thắm tươi cho cuộc đời, và để trở nên những cánh én tô điểm mùa xuân trong lòng Giáo hội, tôi phải là những cánh hoa không khép kín và những con én dám rời chiếc tổ của mình. Ánh sáng và hơi ấm của Tình Yêu Thiên Chúa được truyền ban qua cầu nguyện sẽ giúp tôi rộng mở đôi tay, vững vàng đôi chân, để ra đi trao ban niềm vui và tình mến cho muôn tâm hồn.

Nhưng cũng như Chúa đi rao giảng cho các làng xã "lân cận", có lẽ trước hết, Ngài đang muốn tôi đem tình mến và niềm vui đó cho những tâm hồn "lân cận." Mà ai là người lân cận của ta vậy? Bạn hãy trả lời câu hỏi này.

  Back to Top  Back to Top


   Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com