NĂM TOÀN XÁ

Minh Vũ

Người ta có thể mừng năm 2000 cách đơn giản như mừng kỷ niệm Chúa Yê-su giáng sinh cách đây độ 2000 năm. Như thế cũng là đã đủ lắm rồi. Nhưng Ðức Giáo Hoàng Yo-an Phao-lô II muốn thêm vào đây một chiều kích khác, một chiều kích đến từ truyền thống: Năm Toàn Xá. Ðối với nhiều người, năm 2000 có thể chỉ là một biến cố thế tục, nhưng năm Toàn xá không có ý nghĩa nào khác hơn là ý nghĩa tôn giáo. Người ta có thể nói năm 2000 nhắc nhở chúng ta về ân sủng của Thiên Chúa trong mầu nhiệm nhập thể giáng sinh của Ðức Yê-su, trong khi truyền thống Toàn xá lưu ý chúng ta về việc các tín hữu cần thực hiện những đòi hỏi về công bình và tự do của thời Thánh Kinh.

Bây giờ chúng ta hãy thử tìm hiểu nguồn gốc Năm Toàn Xá, Năm Toàn Xáù trong lịch sử, và rồi ý nghĩa mà Ðức Giáo Hoàng Yo-an Phao-lô II muốn đem đến cho Năm Toàn Xá.

 

I. NĂM TOÀN XÁ TRONG CỰU ƯỚC

Thiên Chúa Là Chủ Ðất Và Thời Gian .

"Ta là Yavê, Thiên Chúa của các ngươi, Ðấng đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, để ban cho các ngươi đất Ca-na-an và để làm Thiên Chúa của các ngươi" (Lv. 25:38). Lời tuyên bố này được lặp lui lặp tới trong suốt các sách Ngũ Thư. Thật vậy, đối với dân Is-ra-el, Thiên Chúa là Chủ Tuyệt đối của đất đai và của thời gian. Chính Thiên Chúa đã hành động thuận lợi cho con cháu hậu duệ của Ab-ra-ham. Chính người đã tước quyền lực của Pha-ra-ô, giải phóng họ khi đưa họ qua Biển Ðỏ, đuổi dân Ca-na-an đi, để lại cho họ miền đất này.

Các biến cố này có tác dụng cụ thể, theo đó dân chúng sẽ cố sức thực hiện.

Dự Trù Cho Một Xã Hội Công Chính.

Ngày xưa trong các xứ sở chung quanh Is-ra-el, ruộng đất đều thuộc quyền sở hữu của nhà vua, hoặc các địa chủ giàu có. Phần lớn dân chúng làm việc trên các vùng đất này chỉ là các người làm công hay nô lệ. Khi Is-ra-el kiểm soát được vùng đất Ca-na-an, họ dự trù một cách khác để quản trị đất đai. Trước hết, quyển làm chủ đất không phải là quyền tuyệt đối. Quyền này lệ thuộc vào hai điều luật căn bản nhất:

1. Quyền của Thiên Chúa: Ngài là chủ thật sự của đất đai.

2. Quyền của dân chúng đối với tự do: người ta không thể lại bắt làm nô lệ những người mà Thiên Chúa đã vĩnh viễn giải phóngï để làm dân riêng của Ngài.

Như thế, ở Is-ra-el, đất đai được chia ra giữa các thị tộc và gia đình khác nhau, tùy theo nhu cầu của mỗi người. Tất cả phải trở thành những công dân tự do, có trong tay đất đai đủ để sinh sống.

Nhưng chúng ta biết rằng cho các chương trình xã hội có đẹp đẽ đến mấy cũng khó mà đứng vững được với thực tế. Dù ở Is-ra-el, cũng có những điều không may, như hỏa hoạn, nạn ăn cắp, hạn hán hay tật bệnh. Cũng có những người thụ động ngồi lì, không biết sinh lợi trên miếng đất của mình. Và, đương nhiên, có những người khác thì khôn ranh chờ đợi thời cơ . Như thế, những người ở trong cảnh nghèo khó, thường phải bán ruộng đất, và ngay cả bán chính bản thân họ làm nô lệ cho những người giàu có.

Thế là giấc mơ tốt đẹp bị tan vỡ?

Nhưng trong lề luật, đã có khoản dự trù cho trường hợp này! Trong các thể chế nhằm tái lập trật tự lý tưởng cho xã hội, chúng ta nêu ra đây hai điều quan yếu nhất theo quan điểm của chúng ta:

Trước hết, kẻ "bảo vệ", theo nghĩa đen phải là người đi mua lại.

Luật quy định rằng, khi một người bán tài sản của mình cho người ngoài, thì người bà con thân quyến gần nhất, như người cha, người anh, chú, phải mua lại để giữ lấy tài sản vẫn ở trong thị tộc. Vì vậy, người ta gọi người bảo vệ là người đi mua lại. Mặt khác, người ta cũng áp dụng hình ảnh này vào Thiên Chúa, được xem như người bảo vệ cao cả đã mua lại dân mình từ Ai Cập, và, qua việc Xuất Hành, đã mang tự do lại cho dân của Ngài. Nhưng, ở đây lại cũng có chuyện lợi dụng. Có thể là một người bà con giàu, cuối cùng, chiếm đoạt hết tất cả đất đai của các người bà con nghèo.

Do đó có luật năm toàn xá can thiệp vào.

Chi tiết của luật này ở chương 25, sách Lêvi. Và đây là cách luật được thi hành. Vào cuối bảy tuần năm (là 7x7=49), sẽ có một năm Toàn Xá. Năm này được khai mạc bởi tiếng chuông yobel (sừng con dương cưu) ngày lễ thục tội, vào mùa Thu, mà hồi xưa là ngày đầu năm mới.

Trong năm Toàn Xá này, có ba luật phải được thi hành:

1. Tất cả những ai bị bán làm nô lệ được trả lại tự do.

2. Tất cả những ai đã mất đất đai do cha ông trối cho, được làm chủ trở lại.

3. Tất cả đất đai phải được nghỉ như một thời Hưu lễ môi sinh. Không được gieo vãi cũng như gặt hái trong năm này.

Như thế, một mặt, người ta nhận biết lãnh vực của Thiên Chúa trên thời gian và đất đai. Mặt khác, người ta tôn trọng chương trình hoạch định của Ngài, cho phép mỗi người tìm lại tự do mà Thiên Chúa đã ban cho họ qua việc Xuất Hành và qua ân huệ của ruộng đất. Cuối cùng, người ta đi đến thỏa hiệp bằng cách sửa chữa lại việc tập trung quá lớn về tài sản và đất đai, giúp những người nghèo nhận biết có một bước khởi đầu mới. Ðó là tinh thần của năm toàn xá.

Toàn Xá Chỉ Là Một Giấc Mơ?

Không có nơi nào trong Thánh Kinh mà người ta có thể thấy luật toàn xá được áp dụng một cách cụ thể.

Hồi thế kỷ thứ VIIIø trước Thiên Chúa Giáng Sinh, các Tiên tri Mi-kê và Y-sa-i-a đã tố cáo những người chiếm đoạt đất đai của người nghèo rằng: "Muốn cánh đồng nào là chúng tước lấy, muốn ngôi nhà nào là chúng chiếm đoạt; chúng bắt giữ cả chủ lẫn nhà, cả ruộng lẫn người (.). Phụ nữ của dân Ta, các người đuổi ra khỏi mái nhà ấm cúng của họ (.)" (Mk 2:2-9; Ys 5:8).

Vài thế kỷ sau, Tiên tri Yê-rê-mi-a tiên đoán việc sụp đổ thành Yê-ru-sa-lem, như hình phạt của Thiên Chúa giáng xuống dân Ngài vì họ từ chối không trả tự dọ cho những người nô lệ: "Các ngươi đã không nghe ta, không chịu phóng thích anh em mình, không chịu phóng thích đồng bào mình, thì này, sấm ngôn của Ðức Chúa, Ta sẽ để mặc các ngươi cho gươm đao, ôn dịch và đói khát tự do hoành hành" (Yr 34:17).

Như thế, chúng ta có nên kết luận rằng luật Toàn Xá chỉ là một giấc mơ không?

Thật ra, dân Is-ra-el chỉ có thể áp dụng các luật Toàn Xá trong thời gian đầu khi mới thành lập Thánh địa. Kinh Thánh, trong sách Ða-ni-el, có nói đến việc tha nợ cứ mỗi bảy năm (Ðnl 15:1-11). Ðể cho luật này được thực tế hơn, có thể người ta áp dụng luật nầy cứ mỗi năm mươi năm.

Rồi với việc tập trung quyền lực về trung ương ngày càng lớn, nhất là các trận chiến tranh, các cuộc xâm lăng, luật Toàn Xá đã không thể áp dụng được.

Nhưng luật vẫn giữ tất cả giá trị cao đẹp và tượng trưng. Cũng một cách như người ta nhắm đến cuộc Xuất Hành mới cho những người lưu đày có thể trở về nhà họ lại, người ta loan báo cho các người nghèo Năm Toàn Xá do chính Thiên Chúa ban hành, và tái phục hồi mỗi người trong tự do và nhân phẩm: "Thần Khí của Ðức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Ðức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho những người bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Ðức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta." (Ys 61:1-2)

 

II. ÐỨC YÊ-SU, KHAI MẠC NĂM TOÀN XÁ

Chính các lời nói của Tiên tri I-sa-i-a này, mà Ðức Yê-su đã trích dẫn làm bài diễn văn khai mạc sứ vụ của Ngài tại Ðền Thánh Yê-ru-sa-lem. Và Ngài đã kết thúc như sau: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe" (Luc 4:14-21).

Ðúng là qua cử chỉ và lời nói, Ðức Yê-su đã khai mạc Năm Toàn Xá bằng hai cách:

Trước hết, Ngài tuyên bố chính Thiên Chúa quyết định xóa tất cả nợ nần con người đã mắc với Thiên Chúa. Những ai ăn năn hối cải, tất cả tội lỗi của họ sẽ được thứ tha. Thiên Chúa sẽ hoàn tựu hành vi tha thứ này nơi Ðức Yê-su. Do đó, Ngài đón tiếp các người tội lỗi, ăn uống với họ, tha thứ cho họ. Người giải phóng mọi người khỏi quyền lực của sự dữ.

Thứ đến, Ðức Yê-su mời gọi các môn đồ cùng hành động một cách giống như Thiên Chúa. Như Thiên Chúa cho mặt trời mọc lên trên kẻ dữ và người lành, làm mưa xuống trên người ngay và kẻ ác, chúng ta cũng phải đại lượng với tất cả mọi loại nghèo khó (Mt 5:45). Cũng như Thiên Chúa đã xóa nợ cho chúng ta - thì chúng ta cũng phải xóa nợ cho nhau (Mt 18:23-35), Kinh Lạy Cha (Mt 6:12).

Lý tưởng của Năm Toàn Xá đã có từ cộng đoàn Ki-tô đầu tiên. Sách Thứ Luật viết: "Tuyệt nhiên giữa anh em sẽ không có người nghèo" (Ðnl 15:4). Thánh Lu-ca trong Công Vụ Tông Ðồ xác nhận rằng các Ki-tô hữu đầu tiên chia sẻ tài sản cho nhau, đến độ "trong cộng đoàn, không ai phải túng thiếu. Vì những người làm chủ đất đai hay nhà cửa, thì bán đi và đem giá cả bán được đặt dước chân các Tông đồ, để phân phát cho mỗi người, ai nấy tùy theo nhu cầu của mình" (Cv 4:34-35).

 

III. TOÀN XÁ TRONG TRUYỀN THỐNG KI-TÔ

Thể chế Toàn xá đã ảnh hưởng như thế nào trên cách suy nghĩ và hành động của người Kitô-hữu? Ví dụ việc cấm cho vay lấy lời?

Luật này đã được ấn định trong Cựu Ước. Dù vậy, trong suốt mười ba thế kỷ đầu của lịch sử Giáo Hội, không có tinh thần toàn xá như vậy xảy ra. Phải đến năm 1300, mới có Toàn Xá đầu tiên của kỷ nguyên Ki-tô. Như thế, ai có ý định này? Ai có sáng kiến này? Trong mục đích nào?

Ðể trả lời cho những câu hỏi này, chúng ta hãy tưởng tượng đâu đó ở bên nước Pháp vào năm 1300.

Ðâu đó ở bên Pháp vào đầu năm 1300, ngày 5 tháng Một trong vùng Touraine. Sáng sớm tinh mơ, bà Anne vào tiệm bánh của thầy Michel:

- Chào thầy, xin cho tôi xin chiếc bánh.

- Bánh bà đã làm xong. Tôi đã trang hoàng thiệt đẹp. Nhưng đây là công việc cuối cùng tôi làm trước khi đóng cửa tiệm một năm.

- Ðóng cửa tiệm một năm?

- Phải! Tôi sẽ đi hành hương La-mã viếng mộ Thánh Phê-rô và Phao-lô. Từ khi quân Sarrasins chiếm Yê-ru-sa-lem và Thánh địa, tôi không còn đi đến mộ của Chúa để cầu nguyện được. Do đó, tôi phải đi hành hương ăn năn đền tội ở ngôi mộ của các Thánh Tông Ðồ Phê-rô và Phao-lô.

- Nhưng đi đâu cho xa! Thầy cứ đến mộ Thánh Martin ở Tour cũng tốt mà còn ít nguy hiểm hơn.

- Không được bà ạ. Người ta cho biết rằng Ðức Thánh Cha sẽ ân xá và tha thứ trọn vẹn tất cả lỗi lầm cho những ai đi hành hương đến mộ Thánh Phê-rô. Tôi sẽ đi đến đó để được tha thứ hết mọi tội lỗi của tôi, và cũng để cầu nguyện cho cha tôi, người chết mà chưa xưng tội, cũng như chưa rước lễ, chắc hẳn người còn bị giam cầm trong lửa luyện hình.

- Thầy đã quá nghe lời ông cố đạo tuyên truyền.

- Thưa bà, tôi thề với bà rằng, ngài là một nhàø tiên tri. Này, hai bạn đồng hành của tôi đã đến kia. Tôi phải lên đường đi với họ bây giờ. Xin bà cầu nguyện cho chuyến đi hành hương của tôi được tốt đẹp và linh hồn tôi được cứu rỗi.

- Cầu xin Chúa chúc lành cho thầy được thượng lộ bình an.

Một tháng sau, ở La-mã...

Tại văn phòng Ðức Giáo Hoàng Bô-ni-fa-ci-ô VIII, một Hồng y đọc cho ngài nghe các tin tức mới nhất:

- Tâu Ðức Thánh Cha, có một nhóm hành hương người Pháp đang ở đây, xin được yết kiến Ðức Thánh Cha.

- Mấy người Pháp? Họ đi gặp vua Philippe của họ! Cái ông vua cứng đầu, không chịu vâng phục Giáo Hội.

- Tâu Ðức Thánh Cha, nhưng họ nằn nì quá. Họ xin Ðức Thánh Cha ân xá cho tất cả lỗi lầm của họ.

- Ðại xá?

- Dạ. Ðúng vậy. Họ nói họ nghe mọi người lặp lui lặp tới là Ðức Thánh Cha sẽ ban ơn đại xá cho những ai đi hành hương đến La-mã trong năm nay, năm chúng ta bước vào một thế kỷ mới.

- Lại mấy thầy Phan-xi-cô hay Ðô-mi-ni-cô đã gieo trong đầu họ những chuyện như vậy.

- Tâu Ðức Thánh Cha, chúng con đã lục tìm trong văn khố, nhưng không tìm ra dấu vết truyền thống này ở đâu cả. Có một cụ già đã trăm tuổi, nói cũng vì những lý do này mà thân sinh của cụ đã đi hành hương La-mã cách đây một thế kỷ. Nhưng không một văn kiện nào trong văn khố chúng ta nói đến Năm Toàn Xá, giống như các người Do-thái có truyền thống làm như vậy theo sách Cựu Ước.

- Một Năm Toàn Xá! Ðại xá? Tại sao không? Xét cho cùng, chẳng có gì ngăn trở cả. Và đây cũng là một cách tốt đẹp để xác định quyền uy của Ta trên toàn thể người ki-tô. Ta sẽ tuyên bố Năm Toàn Xá.

Một Biến Cố Thoát Thai Từ Dân Ki-Tô-Giáo.

Cuộc đối thoại trên đây chỉ là giả tưởng, nhưng là phản ảnh một sự thật. Ðúng là thoát thai từ một biến cố của một nhóm dân nhỏ trẩy hội hướng về thành La-mã, mà ý tưởng Năm Toàn Xá ra đời. Trong một bản văn rất ngắn gọn, Ðức Giáo Hoàng khai mạc Năm Thánh, với lời xác nhận ơn Toàn Xá cho những ai hành hương đến La-mã trong năm 1300. Các thế kỷ sau, Năm Toàn Xá sẽ có được chỗ đứng về mặt thần học và truyền thống phụng vụ.

Sau đây là tóm tắt lịch sử các Ơn Toàn Xá từ năm 1300.

Từ 1300 cho đến ngày nay, có tất cả 26 Toàn Xá (các Toàn Xá "thường" là 25). Sau đây là các Toàn Xá chính.

Năm 1350: Ðức Giáo Hoàng Bô-ni-fa-ci-ô VIII (1294-1303) dự trù Ơn Toàn Xá cho mỗi 100 năm.

Nhưng sau đó, người ta đổ xô đến Ðức Giáo Hoàng Clê-men-tê VI (1342-1352) ở Avignon, xin ngài rút bớt xuống mỗi 50 năm, vì "lý do đời người ngắn ngủi." Ðó là hai năm sau nạn dịch hạch đen, đã giết một phần ba dân số Âu châu. Một triệu hai trăm ngàn người đi hành hương đến La-mã. Năm sau (1351) Ðức Giáo Hoàng đồng ý cho các tín hữu được hưởng ơn toàn xá dù ở ngoài La-mã.

Năm 1390: Vì Chúa Yê-su sống trên trần gian trong 33 năm, Ðức Giáo Hoàng quyết định công bố các Năm Toàn Xá theo con số này. Người ban ơn toàn xá cho những ai dù ở nhà, nhưng đóng góp vào việc sửa chữa các công trình của La-mã.

Năm 1450: Trở lại theo nhịp 50 năm. Nới rộng ơn toàn xá cho một vài nước (Ðức, Ba-Lan, Tây ban Nha) trong năm tiếp sau Năm Toàn Xáù.

Năm 1475: Ðức Giáo Hoàng Phao-lô II ấn định cứ mỗi 25 năm là có Năm Toàn Xá, để mỗi thế hệ đều có thể được hưởng ơn toàn xá, và khai mạc Năm Toàn Xá vào ngày lễ Giáng Sinh năm trước.

Năm 1500: Ðức Giáo Hoàng A-le-xan-drô VI coi ơn Toàn Xá là quan trọng. Ngài cho chuẩn bị từ hai năm về trước, đặt ra một nghi lễ mở các cửa thánh. Nhận thấy đoàn người đi hành hương đông đảo, Ngài kéo dài ơn Toàn Xá đến ngày 6 tháng Giêng năm sau. Trong năm 1501, Ngài còn tiếp tục ban ơn toàn xá cho cho toàn thể Giáo Hội.

Năm 1525: Ðức Giáo Hoàng Clê-men-tê VII bắt đầu một truyền thống: người gắn những huy chương và đồng tiền vào bức tường của cánh cửa Ðền thánh.

Năm 1625: Ðức Giáo Hoàng Ur-ba-nô VIII nới rộng quyền hưởng Ơn Toàn Xá cho các nữ tu, các bệnh nhân và tù nhân.

Năm 1750: Ðức Giáo Hoàng Bê-nê-dic-tô XIV nâng cao tầm quan trọng của Ơn Toàn Xá, công bố đến những 9 sắc chỉ để chuẩn bị.

Năm 1800: Không có Ơn Toàn Xá: Ðức Giáo Hoàng Pi-ô VII được bầu lên ở Venise ngày 14 tháng 3 năm 1800. Ngài không thể về La-mã, vì thành phố nầy đang bị quân đội Napoléon chiếm đóng.

Năm 1825: Trong một hồi cố cuối cùng của Ki-tô giáo, Ðức Giáo Hoàng Lê-ô XII ra sắc chỉ cho các vua các nước Công giáo. Nhưng trước hết chính dân chúng lại lên đường đi hành hương La-mã.

Năm 1850: Ðức Giáo Hoàng Piô IX chỉ có thể về La-mã vào tháng Tư, vì thành phố nầy đang có cuộc bạo động. Ngài tuyên bố Ơn Toàn Xá vào năm 1851.

Năm 1875: Ðức Giáo Hoàng Piô IX tuyên bố năm Toàn xá, nhưng không mở cửa Ðền thánh Phêrô, bãi bỏ tất cả nghi lễ công cộng, vì thành La-mã đã trở thành độc lập đối với quyền lực của Giáo Hoàng.

Năm 1900: Ðức Giáo Hoàng Lê-ô XIII bế mạc Năm Toàn Xá bằng việc dâng hiến thế kỷ XX cho Chúa Cứu Thế.

Năm 1950: Trong năm Toàn Xá, ngày mồng Một tháng Mười Một, Ðức Giáo Hoàng Pi-ô XII tuyên bố Tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

Năm 1975: Theo hướng đi của Công Ðồng Vatican II, Ðức Giáo Hoàng Phao-lô VI loan báo năm Toàn Xá với chủ đề Canh tân và Hòa giải.

Năm 1983: Ðức Giáo Hoàng Yo-an Phao-lô II ban sắc chỉ Toàn Xá đặc biệt để kỷ niệm 1950 năm Ơn Cứu Chuộc.

Năm 2000: Vào Lễ Nửa Ðêm 24.12.1999, Ðức Giáo Hoàng Yo-an Phaolô II khai mở trọng thể Năm Thánh kỷ niệm biến cố Con Thiên Chúa nhập thể làm người cách đây 2.000 năm.

(Xin đọc thêm Le Petit Livre du Grand Jubilé của Georges Madore)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com