|
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY. 09-04--2000 : LẼ SỐNG CHẾT. CHÚA NHẬT LỄ LÁ. 16-04-2000 : TÌNH YÊU MẠNH HƠN SỰ CHẾT. CHÚA NHẬT PHỤC SINH. 23-04-2000 : ÐỨC KITÔ PHỤC SINH, ALLÊLUIA. CHÚA NHẬT II MÙA PHỤC SINH. 30-04-2000 : TÌM LẠI AN BÌNH. CHÚA NHẬT III MÙA PHỤC SINH. 07-05-2000 : TỬ VÌ ÐẠO, SINH VÌ ÐẠO.
Chúa Nhật V Mùa Chay 09-04-2000 Gr 31:31-34; Dt 5:7-9; Ga12:20-33 LẼ SỐNG CHẾT
"Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình nơi thế gian này, thì sẽ giữ nó cho sự sống đời đời" (Gn 12: 25) Từ một câu chuyện có thật: Anh Sundar được sinh ra trong một gia đình theo Ấn giáo. Lớn lên, được nghe biết về Chúa Giêsu, anh đã xin rửa tội theo Kitô giáo, sau đó tình nguyện ở lại Ấn độ làm thừa sai, chứng tá cho niềm tin của mình. Một chiều kia, Sundar cùng với một tu sĩ Phật giáo phải băng qua vùng núi Himalaya để đi đến một tu viện. Trời lạnh buốt và màn đêm như sắp bao phủ không gian. Sundar và nhà tu kia được báo cho biết họ sẽ bị lạnh và có thể mất mạng nếu không kịp về đến tu viện trước khi trời tối. Ðang lúc đi vào một đoạn đường hiểm trở, với những vách đá cheo leo, thì chợt họ nghe có tiếng cầu cứu. Một người đàn ông đã trợt chân rơi xuống khe núi từ khi nào. Chân anh ta bị gãy, không thể nào leo lên được, và đang nằm chờ chết. Người tu sĩ kia lên tiếng nhắc nhở Sundar: - Chớ dừng lại. Ý trời đã định cho hắn như vậy rồi, ta không nên can dự vào làm chi. Phần chúng ta, phải đi gấp lên nếu như không muốn bỏ mình nơi này Sundar đáp lại: - Theo tôi, ý Trời đã định cho ta đi ngang qua đây để cứu giúp kẻ không may này đấy. Tôi không thể bỏ rơi anh ta. Nói xong Sundar tìm cách trèo xuống khe núi. Vị tu sĩ kia vội vã tiếp tục cuộc hành trình. Nơi khe núi, nhìn đôi chân bị gãy, biết nạn nhân không thể tự bước đi được, Sundar phải dùng tấm mền bó anh lại, cõng lên lưng, nặng nhọc lần mò trèo khỏi khe núi, tìm trở lại con đường lúc nãy. Sau mấy tiếng đồng hồ vất vả, Sundar và nạn nhân đến được lối mòn dẫn về tu viện. Lúc này tuyết rơi mỗi lúc một dày. Trời tối. Cóng lạnh. Sức lực hầu như khô cạn. Ðang lúc tưởng chừng không còn bước thêm được nữa thì Sundar chợt thấy có ánh lửa phát ra từ một cánh cửa sổ của tu viện. Mừng quá! Sức lực dường như được phụchồi. Sundar hăng hái dấn bước về phía có ánh lửa. Chợt anh vấp té, bổ nhào trên tuyết lạnh. Không phải anh đuối sức. Nhưng vì vấp phải một vật gì đó nằm chắn ngang đường đi. Sundar quì xuống, lấy tay gạt lớp tuyết phủ bên trên thì nhận ra đấy là xác của người tu sĩ đã cùng đi với mình ban chiều. Thương cho người bạn đồng hành xấu số, Sundar âm thầm dâng lên Chúa một lời nguyện.... Và rồi từ thẳm sâu của tâm hồn, anh chợt nghe vang vọng một câu Phúc Âm:"Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, ai ghét sự sống mình nơi thế gian này, thì sẽ giữ nó cho sự sống đời đời." (Theo lời kể của William Bausch) "Sự sống thoát thai từ nỗi chết," một linh mục đã nói như thế. Mà đúng lắm, trong thực tế của đời người, để sự sống tiếp diễn, sự chết đã phải xảy ra không ngừng. Khi chấp nhận nỗi đau thương mất mát trong cái chết, mầm sống mới được phát sinh và triển nở. "Nếu hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, nó sẽ trơ trọi một mình; nhưng nếu chết đi, nó mới sai hoa lắm quả" là vậy. Khi chỉ biết lo cho sự sinh tồn của mình mà làm ngơ trước nỗi khổ đau của kẻ khác, khi chỉ chú trọng đến lợi ích riêng tư hơn là nhu cầu của tha nhân, tôi đã tự đóng khung trong chiếc vỏ trấu để rồi cứ trơ trọi giữa giòng đời. Nhưng nếu biết chết đi con người vị kỷ, tôi sẽ có được một mầm sống mới làm phát sinh bao niềm hy vọng của một mùa gặt thành công. Thói ích kỷ trong tôi càng chết đi, hình ảnh Thiên Chúa càng rạng sáng. Càng cương quyết chiến đấu với chính mình, dung nhan Thiên Chúa càng được hiện tỏ. Nhưng cũng từ trong cái chết cho chính mình, chúng ta đi theo con đường của Chúa Giêsu. Bởi vì chính trong cái chết của Chúa Giêsu mà một cuộc phục sinh vinh quang được nẩy mầm. Thật vậy vì đây là cái chết diễn tả tình yêu. Mà tình yêu thì chẳng bao giờ chết. Tình yêu sẽ bất diệt. Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng những giá trị của yêu thương lắm khi không thể đo lường hay lý giải được. "Con tim có những tiếng nói mà lý trí không hiểu thấu" là vậy. Thế nhưng, ai có dám chết cho yêu thương--yêu thương Thiên Chúa và yêu thương những người đang sống bên cạnh mình--họ sẽ dần dần khám phá ra chân dung của sự không-thể-hiểu-thấu kia. Chính khi biết tự hủy những đam mê, ích kỷ, tự mãn, tự kiêu, tự ái..., con người sẽ cảm nhận sâu xa tại sao
Và niềm vui sống này chỉ được trao ban cho những ai biết quên mình vì Yêu Thương.
Chúa Nhật Lễ Lá 16-04-2000 Is 50:4-7; Pl 2:6-11; Mc 14:1-15:47 TÌNH YÊU MẠNH HƠN SỰ CHẾT
Tuần Thánh được bắt đầu bằng Chúa nhật Lễ Lá, kỷ niệm biến cố Chúa Giêsu long trọng tiến vào Thành Giêrusalem, giữa bao tiếng hoan hô chúc tụng tưng bừng của dân chúng: "Hôsana, chúc muôn ơn lành cho Ðấng nhân Danh Chúa mà đến". Rồi không đầy bốn ngày sau, Ðức Kitô lại bị đả đảo, sỉ nhục, kết án, và cuối cùng, chịu chết ô nhục trên thập giá. Tại sao mà chỉ trong mấy hôm, sự thể lại đổi thay quá thảm khốc và thê lương như vậy? Phải chăng vì người Do thái quá bất mãn trước một nhân vật mà họ nghĩ là sẽ tỏ uy quyền như các vị lãnh đạo Môisen hay Ðavit thời xưa: tưởng rằng sẽ gặp thấy nơi con người Giêsu một khuôn mặt kiêu hùng khả dĩ đáp lại nỗi hoài mong giải phóng quê hương xứ sở; đàng này lại gặp phải một hình ảnh của người nô bộc quá ư tầm thường? Tưởng rằng Ðấng Thiên Sai sẽ lẫm liệt ngự đến trên lưng con ngựa chiến oai phong, đàng này lại thấy một người ngồi trên lưng lừa, chẳng có gì là khí thế, sẵn sàng xung trận để giải thoát Israel gì cả. Phải chăng những hình ảnh đó đã làm bất mãn đám người ủng hộ, làm thất vọng những kẻ mong chờ đến nỗi họ chỉ còn một thái độ duy nhất: triệt hạ, lật nhào, khử trừ con người đó để khỏi bực bội vì đã tin tưởng và hy vọng viễn vông? Nhưng Ðức Giêsu đâu có chủ trương tiến vào thành Giêrusalem để thực hiện một cuộc suy tôn lãnh tụ, xưng hùng xưng bá, song là để thực hiện một sứ mạng siêu nhiên: bộc bạch đến tận cùng tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Và trong khi thi hành sứ mạng cao siêu này Ðức Giêsu lại hạ mình thẳm sâu: "Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết thập giá" (Phil 2: 8). Chết để chuộc tội nhân loại. Chết để thế gian được sống. Ngôn sứ Isaia đã thốt lên: "Chính vì tội lỗi chúng ta mà Người đã bị đâm thấu! Vì tội chúng ta, Người bị tan nát thân mình!" Chỉ qua một vài nét phác hoạ hình ảnh của Ðức Giêsu trong cuộc khổ nạn, người ta có thể đọc thấy ý nghĩa căn bản này: đường lối của Thiên Chúa không như đường lối của con người. Ðang lúc người ta đi tìm sự cứu thoát trong dáng dấp của những gì là oai phong, thông thái, khôn ngoan, uy quyền, giàu sang, bạo lực, thì Thiên Chúa lại ra tay trong một cách thức mà thế gian cho là điên rồ. Ðiên rồ đến nỗi người ta đã nghi ngờ thái độ, việc làm, và cả con người của Ðức Giêsu. Họ đặt nghi vấn: "Ông có phải là Ðức Kitô Con Thiên Chúa không?" (Mc 14: 61). Có lẽ cho đến tận thế nhiều người vẫn còn tự hỏi: Tại sao Ðức Kitô khi cứu thế lại không dùng gươm đao sáng ngời mà lại dùng cây thập giá ô nhục? Tại sao không tìm những sức mạnh của bạo lực phi thường mà lại dùng sự chết đau thương? Tại sao không cậy vào những biện bác khôn ngoan hùng hồn mà chỉ lặng câm như "con cừu bị đem đi giết, và như con chiên trước thợ xén lông"(Is 53: 7). Có lẽ chỉ trước bối cảnh lạ đời ấy mà "những tâm hồn khao khát Tin Mừng, những kẻ bị tù đày oan ức, những người bị mù loà áp bức, nhưng con tim tan vỡ, những kẻ phải sống lưu vong, và những con người hèn mọn không có tiếng nói" (Lc 4:18) mới có thể nhận ra được khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa và mới đọc thấu chân lý ngàn đời mà bây giờ đang được mạc khải trong Ðức Giêsu Kitô. Chân lý đó là yêu thương giải thoát con người. Sức mạnh của yêu thương là sức mạnh vô địch. Quyền lực của yêu thương thì thắng vượt quyền lực sự chết. Cho nên cái chết của Ðức Kitô trên thập giá không gì khác hơn là biểu chứng của một Tình Yêu Bất Diệt đang hiện hữu giữa nhân loại, để rồi sự sống lại của Ngài sau đó là một lời xác quyết hùng hồn: Tình Yêu mạnh hơn sự chết. Bước vào Tuần Thánh là bước vào cuộc khổ nạn của Ðức Kitô, nhưng đây cũng chính là hành trình tiếp cận gương mặt yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Bước vào Tuần Thánh cũng là đi vào hành trình tiến lên đỉnh cao Phục sinh với Ðức Giêsu. Nhưng sẽ chẳng có Ðức Giêsu phục sinh nếu không có Ðức Giêsu chịu khổ nạn và chịu chết. Sẽ chẳng có chiến thắng quang vinh nếu không có những chiến đấu gian nan và đau khổ tột cùng trên thập giá. Thật đúng như tục ngữ Hoa kỳ: "No cross, no crown. No pain, no gain." Ðón nhận khổ giá với sức mạnh của tình yêu là đồng hành với Ðức Kitô trên con đường cứu thoát, và không chỉ cứu thoát chính mình nhưng còn cả biết bao con người đang hiện hữu bên tôi. Ðón nhận mọi sỉ nhục, dại khờ, yếu đuối, điên rồ, vất vả, khó khăn vì Ðức Kitô và với Ðức Kitô bị đóng đinh là tôi đang cùng chết với Ngài, để cùng được phục sinh vinh hiển với Ngài. Ðây là tâm tình của Thánh Phaolô, nhưng cũng hãy là lối sống của những ai mang danh Kitô hữu--người có Chúa Kitô. Chúa Nhật Phục Sinh 23-04-2000 ÐỨC KITÔ PHỤC SINH, ALLELUIA
Gần ba ngàn năm về trước, Ðức Phật Thích Ca, khi nhìn vào cuộc sống con người, đã đưa ra một nhận xét như sau: đời là một nỗi khổ triền miên được diễn tả dưới nhiều hình thức khác nhau trong suốt chiều dài của một kiếp sống, bắt đầu từ lúc chào đời cho đến giây phút chấm dứt cuộc đời. Và như thế: Sinh là khổ, Bệnh là khổ, Lão là khổ, Tử cũng là khổ. Ðời là bể khổ. Cuộc đời con người gồm có Sinh Bệnh Lão Tử, và cái khổ khống chế thống trị đời người. Ðứng trước thân phận đầy khổ đau của con người, đối diện với vấn nạn đã từng trải dài qua bao thế hệ và qua mọi thời đại, con người tự hỏi: Ðâu là nguyên do và ý nghĩa của khổ đau, của sự chết? Ðã có không ít các tôn giáo xuất hiện để trình bày cho nhân loại những con đường cứu sinh và thoát khổ, những triết thuyết đầy đạo tính nhằm giải đáp cho những vấn đề của sự sống và sự chết. Trong cuộc hành trình đi tìm chân lý về ý nghĩa đời người, Thánh Augustinô, trước khi nhận chân giá trị Kitô giáo đã phải thốt lên câu này, "Tôi không biết cuộc đời này là một sự sống đang chết, hay là một sự chết đang sống," và dù câu trả lời là "sự chết đang sống" hay "sự sống đang chết" thì danh động từ "chết" kia, là hình bóng nhưng cũng là hiện hữu của khổ đau kia, vẫn đang gậm nhấm cái sự sống mong manh của con người. Nhưng rồi nơi Kitô giáo, Thánh Augustinô đã bắt gặp được Ðức Giêsu, Ðấng giải thoát con người khỏi viễn tượng rùng rợn, kinh hoàng của sự khổ và sự chết, qua mầu nhiệm xuống thế làm người, chia sẻ nỗi khổ đau của con người, chịu chết như con người, để rồi phục sinh giải thoát con người. Dân Chúa đang sống trong niềm hân hoan của mầu nhiệm Phục sinh của Ðức Giêsu Kitô-- mầu nhiệm căn bản của niềm tin và hy vọng của người Kitô hữu. Chính trong mầu nhiệm Phục sinh này Giáo hội đã tuyên bố rằng "Ðây là ngày Chúa đã làm ra," để rồi cùng một lúc Giáo hội kêu mời con cái mình "Hãy hân hoan vui mừng trong ngày đó, Alleluia! Alleluia!" Thế là, đối với các Kitô hữu thì Sinh không còn là khổ nữa, mà sinh là một hồng ân--món quà tuyệt vời Thiên Chúa tặng ban. Khi sinh ra, con người được tạo nên giống hình ảnh của Ðấng Tạo Hoá để rồi sẽ được thông phần vào sự sống và hạnh phúc viên mãn của Ngài. Ðối với Kitô giáo thì Bệnh cũng không còn là nỗi khổ đau vô vọng và vô ích nữa, nhưng với cơn bệnh và qua cơn bệnh, con người được hiệp thông vào mầu nhiệm Thánh giá, hay còn gọi là mầu nhiệm đau khổ với Ðức Giêsu, hầu chuẩn bị cho ngày Phục sinh vinh quang. Ðối với người Kitô thì Lão cũng không còn là nỗi đau khổ của kẻ chờ đón tử thần, hay nỗi bất lực của con người trước sự thống trị của thời gian nữa. Song với Ðức Kitô và trong Ðức Kitô-- Ðấng đang làm chủ thời gian và không gian, là Anpha và Omega--thì tình trạng Lão nơi con người đã được xem như bước đi cần thiết cuối cùng cho một cuộc sống mới và đời đời. Thế nên đối với người Kitô hữu thì Tử không còn là khổ nữa, không phải là một chấm hết đầy bế tắc. Nhưng chính nhờ sự sống lại của Ðức Kitô, con người đã có lối thoát. Tử không còn là cùng tận, nhưng là một trạng thái và tiến trình chuyển hoá trước khi được hiệp thông trọn vẹn với sự sống đời đời của Ðức Kitô. ("Hiệp Thông Mục Vụ, Ðức Kitô với Thân Phận Con Người"). Chính niềm tin vào Ðức Kitô đã mang lại cho chúng ta niềm hân hoan hy vọng ngay trong Sinh, Bệnh, Lão và Tử của kiếp người. Tất nhiên niềm tin của chúng ta sẽ vượt qua đau khổ, thập giá, tội lỗi, hay sự chết để tiến đến ơn tha thứ, tình thương, sự sống, và hạnh phúc trường tồn. Ta tin vào một niềm vui bất diệt--niềm vui phát xuất từ Chúa Giêsu phục sinh. Ðây mới thật là Tin Mừng cho nhân loại, Tin Mừng mà Thánh Phaolô Tông đồ đã không ngừng xác tín: "Hỡi anh em, tôi muốn nhắc đi nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi rao giảng là Ðức Giêsu đã chết vì tội lỗi ta, theo lời Kinh Thánh, là Ngài đã bị chôn cất, là Ngài đã sống lại ngày thứ ba, theo lời Kinh Thánh, là Ngài đã hiện ra cho Kêpha, đoạn cho nhóm mười hai. Rồi Ngài hiện ra cho hơn 500 anh em... rồi cho Giacôbê, đoạn cho hết các tông đồ, và cuối cùng là cho chính tôi" (1 Cor 15:1-8). Thánh Phaolô, dù đến bất kỳ nơi đâu, dù gặp phải dân tộc nào, Do thái hay Hy lạp, Rôma hay Tiểu Á, cũng đều rao giảng về sự chết và sự sống lại của Ðức Kitô. Chết và sống lại là hai biến cố căn bản và bất khả phân trong Tin Mừng được rao giảng của Thánh nhân: Không thể có sống lại nếu không có sự chết, và nếu chết là hết, chết là đi vào hư không đời đời, thì Ðức Giêsu cũng đã ra hư vô, đã chấm hết, đã không còn sống nữa, và cũng chẳng có sống lại gì cả. Mà nếu thật như thế, nếu không có sự sống bên kia sự chết, nếu không có cuộc đời mai sau, nếu chúng ta bám vào một ông Giêsu đã chết vĩnh viễn, thì như lời Thánh Phaolô, "chúng ta là những kẻ khốn nạn nhất trong cả thiên hạ.... Ðức tin của chúng ta chỉ là hư không, trống rỗng, và hão huyền" (1 Cor 15:14). Ðời sống của người Kitô hữu với những hy sinh, tha thứ, yêu thương chỉ là uổng công, nếu như không có sống lại--không có một cuộc đời đàng sau cái chết. Nếu chết rồi không còn gì nữa, thì tại sao người ta phải dấn thân, hy sinh, phục vụ làm chi? Tại sao phải sống bác ái, nhịn nhục, tha thứ, hy sinh, giúp đỡ làm gì? Tại sao trước những cám dỗ hay lời mời gọi của thế gian, xác thịt, đồng tiền đầy hấp lực mà nhiều người lại chống trả hoặc từ khước? Tại sao không hưởng thụ thời gian và vật chất đang có mà lại dùng những thứ ấy cho đoàn thể, nhà thờ, hay các tổ chức sinh hoạt? Tại sao không làm cho mình bớt khổ, mà trái lại, với cái nhìn khách quan, thì dường như người ta lại chất thêm gánh khổ cho đời mình như vậy? Bởi vì nói cho cùng thì chống trả hay từ khước một lôi cuốn trần tục nào mà lại không có chút khổ đau. Nhịn nhục, tha thứ, hy sinh, yêu thương nào mà lại không hàm chứa một cân lượng của gian nan khốn khổ. Thế nhưng, ta đón nhận và làm được tất cả những điều đó nhờ một niềm tin: Niềm tin vào Chúa Giêsu sống lại và niềm tin vào sự phục sinh tâm linh của con người. Chính trong niềm tin này mà ta thấy được giá trị của khổ đau: đau khổ là nhịp đi tất yếu để sự sống được khởi phát. Cũng chính trong niềm xác tín này mà Thánh Phaolô đã nói rằng: Tôi nay đã được vui sướng trong các nỗi thống khổ, vì như thế tôi đang bù đắp những gì còn thiếu sót trong sự đau khổ của Chúa Kitô, để hoàn tất cuộc tử nạn và cứu độ nhân loại của Người. Cho nên nhà thần học Huysman đã khẳng định: "Những bệnh nhân thâm niên, những người liệt giường liệt chiếu, những người đang phải đau khổ thể xác lẫn tinh thần. Những người đó phần nhiều là những lễ vật hy sinh được đặc cử. Nhưng có được mấy người trong họ biết mình đang được thi hành một công việc vĩ đại là đền tội mình và tội kẻ khác qua sự hiệp thông với Ðức Giêsu?" Cho nên con người được mời gọi vào một sứ mạng cao cả là yêu thương và mang ơn cứu độ--mang lại sự sống phục sinh cho thế giới, một thế giới sa đoạ đang cần cứu vớt, một thế giới bị vô thần hoá đang cần được tái sinh, một thế giới bị tục hoá đang cần phục sinh bằng những giá trị thiêng liêng. Tạ ơn Thiên Chúa trong Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã mang ý nghĩa đến cho đời ta qua sự chết và phục sinh quang vinh của Ngài. Sinh, Bệnh, Lão, Tử không còn là những tác nhân đau khổ mà ta phải diệt, song là những phương thế để đạt đến một cuộc sống siêu nhiên vẹn toàn. E. Mersch đã nhận định rằng: "Ðau khổ của nhân loại đã đổi hẳn khi Ngôi Hai làm người đã nhận lấy nó. Vì sự đau khổ đã hợp nhất với Thiên Chúa nên nó có giá trị tuyệt đối. Trước kia nó là di tích của tội, nhưng nay nó trở nên đối lập với tội và biến thành nguyên lý cho cuộc sống siêu nhiên." Và đây chính là cuộc sống mà ta đang tiến tới. Chúa Nhật II Mùa Phục Sinh 30-04-2000 TÌM LẠI AN BÌNH
"Hãy lãnh lấy Thánh Thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ" (Gn 20: 22-23) Khởi đầu sứ mạng cứu chuộc nhân loại nơi trần gian của Ðức Giêsu, người ta nghe có tiếng hát vang vọng:"Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm." Trước ngày về trời, trong nhiều lần hiện ra với các môn đệ, Ðức Giêsu luôn trao cho họ một lời chúc phúc căn bản: "Bình an cho các con." Dường như sứ mạng của Ngài là đem bình an cho nhân loại! Bình an không chỉ là một ước mơ, một khát vọng thâm sâu của nhiều quốc gia, dân tộc, nhất là những nơi đang xảy ra hiềm khích, chiến tranh như Lebanon, Sudan, Israel, Palestine, Pakistan, Ấn độ... nhưng bình an còn là một nhu cầu tha thiết của bao gia đình và lòng người. Nhưng vì đâu người ta thiếu bình an? Tại sao con người lại cần đến an bình như vậy? Ðọc Kinh Thánh người ta có thể tìm ra được một số nguyên do làm cho con người mất bình an như lo lắng, sợ hãi, tội lỗi. Kinh Thánh kể rằng có ông nhà giàu kia cứ mãi lắng lo không biết phải đầu cơ tích trữ của cải làm sao: bồ to, kho nhỏ bây giờ không còn đủ chứa thóc gạo nữa rồi, chẳng biết phải làm sao để trộm cướp không xâm phạm tài sản. Bồn chồn lo lắng, ông mất bình an. Ăn không ngon ngủ không yên. Ông đắn đo suy nghĩ không nguôi. Rồi khi tưởng tìm được an bình với phương cách phá quách các kho nhỏ, làm một cái kho thật lớn để chứa của, thì không ngờ ông lại rơi vào một tình trạng lo lắng bi đát hơn: giờ hồn lìa khỏi xác của ông đã đến. Một yếu tố khác cũng thường làm cho con người đánh mất bình an là sự sợ hãi. Theo Phúc âm, những lần Chúa phải ra tay đem lại an bình cho các môn đệ là những lúc họ rơi vào trạng thái kinh hoàng sợ hãi: nào là sợ sóng nước, sợ bắt bớ, sợ ma quỉ, sợ người Do thái.... Bên cạnh những lý do làm người ta mất bình an như trên, còn một yếu tố căn bản làm cho con người không thể an tâm hay "bình chân như vại" được. Ðó là "TỘI". Sách Sáng Thế Ký có nói đến câu chuyện của Cain, vì quá ghen với em mình là Aben, nên đã đem lòng căm ghét. Rồi khi sự căm ghét lên đến cực điểm, chàng đã ra tay hạ sát em mình. Kể từ hôm ấy lòng Cain không khi nào bình an. Bước đến đâu, anh cũng trông thấy vết máu của Aben. Chạy tới ngõ ngách nào, anh cũng bị dằn vặt bởi tội ác đã phạm. Tóm lại, chính sự lo lắng, sợ hãi, và tội lỗi là những tác nhân ảnh hưởng đến bình an của cõi lòng. Nhưng xét cho cùng, nguyên nhân chính yếu của tình trạng mất hay thiếu bình an chính là vì tâm hồn đã không còn bóng hình của Thiên Chúa hay không còn nhận ra Ngài trong cuộc đời mình nữa. Thế nên không lạ gì khi mà trước bao cảnh lo âu khổ sở của các môn đệ vì sóng cả ba đào, vì sự săn lùng của người Do Thái, Ðức Giêsu đã trấn an các ông: "Chính Thầy đây, đừng sợ" (Mt 14:27; Lc 24:39). Hoặc là trước sự tác yêu tác quái của vật chất thế gian, Ðức Giêsu cũng chỉ nhắn nhủ rằng: "Các ngươi đừng quá lo lắng về thân xác mình, song hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa cùng sự công chính, và rồi những thứ khác sẽ được ban thêm cho các ngươi" (Mt 6:33). "Tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài" chính là sống trong ngay thẳng, công bình, bác ái, yêu thương, san sẻ. Nó tương phản với lọc lừa, gian lận, xảo quyệt, mưu mô, ích kỷ, bất công. Những thứ này sẽ tước con người khỏi bình an và nguồn vui chân thật. Chúng sẽ đưa con người vào tình trạng thiếu vắng Thiên Chúa. Mà thiếu Thiên Chúa trong tâm hồn, con người sẽ càng tham lam, càng gian dối, càng tìm tư lợi, và càng phạm tội. Mà càng phạm tội, càng ích kỷ, thì càng lo lắng và càng mất an bình. Nhắc đến tội, không thể nào không nói đến nhận định của Ðức Giáo Hoàng Piô XII: "Tội lớn nhất của thời đại hôm nay là đánh mất cảm thức về tội." Nhiều người làm điều sai trái, nhưng lương tâm không còn cắn rứt hay áy náy gì nữa. Họ cho rằng Thiên Chúa là Tình yêu; Ngài đón nhận con người trong tình trạng bất toàn của nó, và tình yêu Thiên Chúa thắng vượt cùng phủ lấp tất cả tội lỗi. Thế rồi họ dùng tình yêu Thiên Chúa làm bức chắn cho mọi thứ tội, kể cả những tội đã bị Thánh Kinh công nhiên lên án như li dị, ngoại tình, tà dâm, hay đồng tính luyến ái. Ðiển hình cho thái độ này là tổ chức Call to Action tại Hoa kỳ, hay còn gọi là tổ chức Kêu Gọi Hành Ðộng đã chủ trương rằng Giáo hội phải chấp nhận nơi con người cái "bản chất" hay "khuynh hướng thực tại" của họ. Tức là nếu ai đó có khuynh hướng đồng tính thì Giáo hội phải để cho họ được sống như vậy, và điều đó không phải là tội. Từ chủ trương đó, nhóm Kêu Gọi Hành Ðộng ngày càng lún sâu vào sự rối đạo. Thí dụ, theo họ việc ngoại tình hay li dị có thể là những phương cách tốt nhất để con người tìm được bình an, tìm ra lối thoát, và nhận thấy tình yêu Thiên Chúa rõ hơn trong cuộc đời. Ðây quả là một lối nguỵ biện nhằm che phủ bản chất ích kỷ và sự hèn nhát đầu hàng trước yếu đuối. Thế rồi người ta cứ mãi sa lầy trong khuynh hướng tội lỗi của mình, không có sự phấn đấu để khuất phục và vượt thắng cái bản ngã con người. Trong một bài tham luận về tội, Anthony Mastroem đã có những lời lẽ châm biếm về tình trạng mất nhận thức tội lỗi như sau: "Dường như chẳng còn ai phạm tội ăn cắp nữa, vì đó chỉ là việc nhấc đi một cái gì đó khỏi vị trí của nó mà thôi. Chẳng còn ai phạm tội nói dối nữa, vì đó chỉ là một sự trình bày chưa đúng với sự gì xảy ra thôi. Chẳng còn ai phạm tội ngoại tình nữa, vì vợ chồng không hiểu nhau nên phải tìm người chia sẻ thôi. Chẳng ai còn phạm tội giết chết thai nhi nữa, vì đó chỉ là một sự chấm dứt cảnh mang thai thôi." Từ việc không muốn nhìn vào thực chất của tội, người ta dễ dàng phủ nhận hay chống đối tiếng nói của Thiên Chúa hay của vị đại diện Thiên Chúa. Thí dụ, những người trong nhóm Kêu Gọi Hành động đã khuyến khích các thành viên hãy dẹp qua một bên những giáo huấn nào không thích hợp với những gì họ đang "tin". Ðiều đó có nghĩa là nếu những người đồng tính luyến ái, những người phá thai, hay những kẻ bỏ vợ bỏ chồng, tin rằng việc họ làm là phương cách tốt nhất để giải quyết vấn đề thì họ cứ làm, bất chấp việc Giáo hội có lên án phá thai, đồng tình luyến ái, hoặc li dị hay không. Thế rồi, một khi phủ nhận hoặc chống đối giáo huấn, thì người ta cũng dễ đi đến không nhìn nhận việc làm của mình là tội lỗi. Họ cũng chẳng coi quyền tha tội vốn đã được Chúa Giêsu trao cho Hội thánh khi Ngài phán: "Các con tha tội cho ai thì tội người ấy được tha, các con cầm tội ai thì tội người đó bị cầm giữ." Rốt cuộc, họ không còn đến với toà cáo giải, không muốn cúi mình trước vị đại diện Thiên Chúa và Giáo hội để nói "Xin cha ban phép lành cho con, vì con là kẻ có tội" nữa. Nhân loại đang sống trong một thời điểm mà những quan điểm sai lầm và những khuynh hướng "không nhận thấy tội" đang lan tràn và xâm nhập vào tư duy của con người. Dựa vào những quan điểm và khuynh hướng này, nhiều người tưởng có thể xoa dịu những cắn rứt của lương tâm, có thể biện minh cho các việc làm tội lỗi, và có thể đem cho họ đôi chút bình an, nhưng trái lại, chúng đã hủy diệt và càng ngày càng làm mất an bình trong xã hội, gia đình và tâm hồn con người. Niềm an bình chân thật chỉ đến với tâm hồn khi người ta biết tiến đi trên nẻo đường trật tự và yêu thương của Thiên Chúa--một đường lối được tỏ bày qua Thánh Kinh và giáo huấn của vị đại diện Ðức Kitô là Ðức Thánh Cha cùng với những giám mục, linh mục hiệp thông với Ngài. Một điều đáng nói là ngay cả khi người ta sa ngã vì yếu hèn thì an bình cũng sẽ trở về với họ nếu như biết nhìn nhận lầm lỗi của mình, biết xin ơn tha thứ qua bí tích giải tội, và nhất là biết vươn mình lên trong tình thương vô bờ của Thiên Chúa. Ðây chính là lối đi của Tin Mừng mà những người Kitô hữu chân chính đang không ngừng dấn bước.
Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh 07-05-2000 Cv 3:13-15,17-19; 1 Ga 2:1-5a; Lc 24:35-48 TỬ VÌ ÐẠO, SINH VÌ ÐẠO
"Còn các con, các con sẽ làm chứng nhân về những điều ấy"(Lc 24: 48). Trong một bài viết trên nhật báo Los Angeles Times, ký giả John Daniszewski đã đề cập đến tình trạng sống đạo vô cùng khó khăn của những người Kitô hữu tại các nước vùng Trung Ðông. John Daniszewski kể lại câu chuyện của một gia đình nọ có tiệm buôn tại Hy lạp. Một hôm, họ nhận được bức thư với những lời đe doạ: "Ngày mai phải có 10 ngàn đồng; chúng tao sẽ không nhận nếu thiếu một xu. Nếu trễ một ngày thì số tiền sẽ phải là15 ngàn. Còn nếu trễ hơn thì ngay cả một triệu, chúng tao cũng không lấy... Và các ngươi thừa biết hình phạt sẽ như thế nào rồi chứ." Cuối thư ký tên "Nhóm Hồi Giáo." Gia đình người bị tống tiền lập tức báo cho cảnh sát, nhưng họ lại nhận được lời khuyên: cứ trao tiền cho bọn kia, và cảnh sát sẽ phục bắt chúng. Nhưng e bị chết giữa hai lằn đạn, hoặc của cảnh sát hoặc của bọn tống tiền, nên cả gia đình đã bỏ làng ra đi, để lại phía sau tất cả nhà cửa và sản nghiệp. Có người thắc mắc: Ðâu là nguyên do gây nên cảnh rời bỏ quê hương làng nước? Tại sao lại có tệ nạn tống tiền và khủng bố độc ác thế kia? Xin thưa, nguyên do duy nhất--theo sự trình bày của ký giả John Daniszewski--chính là vì gia đình đó đã theo Kitô giáo, đã tin "ông Giêsu" giữa một xã hội mà đa phần là người Hồi giáo, môn đồ của Mohamed. Sự phân biệt và hiềm khích tôn giáo đã gây nên cảnh chết chóc cho nhiều người theo đạo Kitô, cũng như đã tạo áp lực bắt nhiều người Kitô hữu hoặc chối bỏ niềm tin, hoặc bị mất tài sản, hoặc phải rời bỏ làng nước ra đi--nếu muốn an toàn tính mạng và nếu muốn giữ vững đức tin. Thế ra, không phải chỉ có trong thời Giáo hội sơ khai, hay trong cuộc cách mạng Châu Âu, hoặc trong những thế kỷ của vua chúa ghét đạo mà người tin vào Ðức Kitô mới bị bách hại, khủng bố, và giết chết. Nhưng chính trong thời đại hiện nay, ngay giữa những ngày giờ của văn minh và tự do, người tin vào Chúa Kitô vẫn không ngừng chịu các cơn bách hại và tử đạo. Sẽ có người đặt vấn đề: "Có ở bên Trung đông hay trong những vùng đất mà tôn giáo bị đàn áp thì người Kitô hữu mới thấy gần gũi với danh động từ ‘tử đạo.’ Chứ còn sống giữa các nước văn minh tự do như Tây phương này thì làm gì có chuyện đàn áp hoặc tử đạo?" Nhưng nếu nói như thế là chưa hiểu gì về tử đạo. Ai cũng biết từ "tử đạo," tiếng Anh gọi là martyrdom, có gốc từ chữ "marthuleton" của tiếng Hy lạp, với nguyên nghĩa là "làm chứng" hay "chứng nhân." Như vậy sự làm chứng không chỉ hệ tại nơi việc chết, mà còn cả nơi việc sống. Không phải chỉ có đầu rơi máu chảy mới làm chứng cho niềm tin, nhưng sống, và sống cho trọn vẹn niềm tin cũng là một lời chứng hùng hồn rồi. Không phải chỉ có "tử vì đạo," nhưng còn phải "sinh vì đạo;" chết để làm chứng cho đạo là điều cao quí và cần thiết, nhưng sống và sống trọn vẹn đời sống của người có đức tin thật sự thì cũng cao quí và cần thiết không kém. Song câu hỏi được đặt ra là tôi sẽ làm chứng cho cái gì? Làm chứng cho ông Giêsu ư? Nhưng ông Giêsu là ai? Nơi Ngài có điều gì hay để tôi làm chứng? Nếu không biết và không hiểu Ðức Giêsu là ai thì làm sao người ta có thể xác tín và làm chứng cho Ngài được. Nếu không tin nhận Chúa Giêsu là Ðấng Cứu thế, là Thiên Chúa, là Tình Yêu làm người, là chân lý ngàn đời không phai, thì làm sao ta có thể làm chứng cách vững vàng cho Ngài được. Không chừng lại là phản chứng. Mọi thời và mọi nơi những ai mang danh Kitô hữu đều được mời gọi để làm chứng cho chân lý yêu thương. Nếu không được chết để làm một cuộc "marthuleton" thì người Kitô hữu cũng được mời gọi sống chứng tá cho niềm tin của mình. Do đó không phải chỉ bên Trung Ðông người ta mới phải sống chứng nhân, nhưng ngay trong gia đình, tại sở làm, nơi cộng đoàn, tôi cũng đã được mời gọi làm nhân chứng rồi. Ðể tuyên xưng rằng Thiên Chúa là tuyệt đối, niềm tin vào Ngài là trên hết, gia đình người Hy lạp kia đã ra đi. Ra đi để giữ vững niềm tin. Ra đi để làm chứng và nói cho người Hồi giáo biết rằng thà mất tất cả chứ không thể mất Chúa. Quả họ là những người đã dám nói lên lời của Thánh Phaolô: "Những điều kể được như lợi lộc trần gian cho tôi đó, tôi đã coi là thua lỗ bất lợi vì Ðức Kitô. Mà chẳng những thế, tôi còn coi mọi sự hết thảy là thua lỗ bất lợi cả, vì cái lợi tuyệt vời là được biết Ðức Kitô Giêsu, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón, để lợi được Ðức Kitô, và được thuộc về Ngài"(Philip 3: 7-8). Vì muốn luôn thuộc về Ðức Kitô nên gia đình Hy lạp kia đã lên đường, tìm một chỗ trú ngụ khác. Họ đang thực hiện lời Chúa bảo: "Ai bắt bớ con trong thành này thì hãy tránh qua thành khác"(Mt 10: 23). Vì muốn thuộc về Ðức Kitô nên Thánh Phaolô đã sẵn sàng chấp nhận thua lỗ, thiệt thòi, mất mát, đau thương--chung qui là để lợi được Ðức Kitô, vì như thế là lợi được sự thật, lợi được yêu thương, và cuối cùng, lợi được sự sống. Sống giữa một thế giới tự do và có luật pháp bảo vệ, dường như người Kitô hữu chẳng phải trốn đi đâu vì vấn đề hiềm khích tôn giáo. Người ta chưa phải tranh giành hay đánh cuộc với ai để phải sợ mất Ðức Kitô. Nhưng nếu nghĩ thế là ta đang lầm to. Lời Chúa nhắc bảo: "Các con hãy tỉnh thức vì ma quỉ thù địch của các con như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé"(1 Pr 5: 8). Ma quỉ và bè đảng của chúng không bao giờ để ta yên. Có thể tôi không phải tránh xa hay chạy trốn những người bách hại khủng bố đức tin, nhưng nếu không nhận ra những "kẻ thù dấu mặt" thì không chừng tôi sẽ bị mất đức tin, mất chân lý, và mất luôn yêu thương, nếu không muốn nói là mất Chúa. Ðơn giản là vì "kẻ thù dấu mặt" không buộc người ta đưa tiền cho nó, thậm chí có khi còn bảo họ kiếm thêm tiền cho mình. Nó bảo người ta càng có nhiều tiền nhân phẩm giá trị con người càng cao; cho nên cứ tha hồ kiếm tiền, bất chấp phương thế, bất chấp hình thức làm tiền đúng hay sai. Kẻ thù dấu mặt không bắt buộc tôi rời bỏ chân lý, nhưng nó làm cho tôi hiểu lầm những điều sai trái là chân lý. Nó có thể nói rằng mọi sự là của Chúa ban cho, vì thế sống là phải hưởng thụ, không cần biết việc hưởng thụ sẽ mang lại hậu quả như thế nào cho đạo, cho tha nhân, hay cho chính mình. Kẻ thù dấu mặt khuyến khích giải trí, hãy làm thoải mái tinh thần bằng những phim ảnh sách báo xấu xa; nó khuyên người ta hãy bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ đời sống con người bằng cách tuyệt sản, ngừa thai nhân tạo, phá thai. Kẻ thù dấu mặt không nói với người Kitô hữu: "không có Thiên Chúa." Nhưng chúng lại thuyết phục họ bằng triết lý không có hoả ngục, không có hình phạt, và như thế sẽ không còn tội phúc. Ngày nay ít có những cảnh ép buộc chối đạo bằng những hình thức dã man, nhưng vẫn có đó những lôi kéo mãnh liệt của cám dỗ ngọt ngào. Ngày nay kẻ thù không dùng nhiều những tra tấn đánh vào thân xác, nhưng lại khai thác tối đa những ngón đòn nguy hiểm đánh vào tận tâm hồn. Ngày nay ít còn cảnh đổ máu để làm chứng cho niềm tin, nhưng như thế không có nghĩa là niềm tin không cần đến chứng nhân. Ðứng trước những khủng bố, bắt đạo tinh vi của thời đại cần có những con người dám sống vì đạo, dám làm chứng cho niềm tin bằng lối sống không buông thả, không để cho dục tình đam mê lướt thắng, dám làm chứng cho thế hệ và xã hội hôm nay biết rằng Thiên Chúa là tuyệt đối, các giá trị của sự sống, nhân bản, trong sạch, yêu thương, hy sinh, tiết chế là cao quí. Không được chết vì đạo như các tiền nhân, nhưng tôi sẽ sống vì đạo. Không phải đổ máu ra để làm chứng cho niềm tin, nhưng tôi sẽ cố gắng sống cho xứng danh là người đã tin vào Ðức Kitô Phục sinh và được thuộc về Ngài.
Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |