Lm. Bùi Quang Tuấn, CSsR.

CHÚA NHẬT IV  MÙA PHỤC SINH.  14-05--2000 : NGƯỜI MỤC TỬ.

CHÚA NHẬT  MÙA PHỤC SINH.  16-04-2000 :  TÌNH YÊU BIẾN ÐỔI PHẬN NGƯỜI.

CHÚA NHẬT VI MÙA PHỤC SINH.   21-05-2000 :  TINH CẦU YÊU THƯƠNG. 

CHÚA NHẬT VII MÙA PHỤC SINH.   04-06-2000 :   GIÁO DỤC CON CÁI. 

CHÚA NHẬT CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG.  11-06-2000 :   ÐÁNH MẤT CẢM  THỨC VỀ TỘI. 

 

Back to Top Back to Top



Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh

14-05-2000
Cv 4:8-12; 1 Ga 3:1-2; Ga 10:11-18

NGƯỜI MỤC TỬ

 

Trong truyện ngắn "Tiếng Chuông Ðồng" trích trong tập truyện Tiếng Gọi Phía Bên Trong, từng được đăng trên Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp, tác giả Nguyễn Tầm Thường kể lại sinh hoạt của một giáo xứ tại quê nhà trước 1975. Cha xứ rất tằn tiện trong vấn đề sinh hoạt cá nhân đến nỗi bị nhiều giáo dân chê trách là "keo kiệt". Rồi khi cần phải xây lại nhà thờ, giáo dân không có đủ tiền quyên góp nhưng cuối cùng vẫn có một giáo đường khang trang. Sau ngày khánh thành nhà thờ, cha xứ ra đi để về hưu dưỡng ở một nơi khác với mớ hành trang đơn giản: chiếc va li bạc màu, mấy thùng giấy đựng đồ và chiếc xe đạp không còn đáng giá bao nhiêu. Âu cũng tại vì cha hà tiện quá không chịu mua sắm, có người nghĩ thế. Nhưng sau đó, ông trùm giải thích ra là cha xứ đã cố gắng chắt chiu tiền xin lễ hay biếu xén của người này người nọ không ngoài mục đích là giúp xây ngôi thánh đường và đóng góp cho giáo xứ ngày càng phát triển. Lúc bấy giờ, giáo dân mới biết được sự thật và cảm thấy thương mến cha xứ hơn lúc nào hết. Cha ra đi nhưng để lại ngôi thánh đường và quả chuông đồng ngày ngày vang lên như một lời mời gọi ấm áp, nhắn nhủ đàn chiên trên những cánh đồng xa mau trở về với đôi tay quan phòng yêu thương của Thiên Chúa.

Ðọc xong truyện ngắn "Tiếng Chuông Ðồng", tôi càng thấm thía phần nào ý nghĩa của Lời Chúa trong tuần này:

Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên. Kẻ làm thuê không phải là chủ chiên, và các chiên không phải là của người ấy, nên khi thấy sói đến, nó bỏ chiên mà trốn. Sói sẽ bắt chiên và làm cho chúng tản mác. Kẻ chăn thuê chạy trốn, vì là đứa chăn thuê, và chẳng tha thiết gì đến đàn chiên (Ga 10:11-13).

Người mục tử tốt lành là người yêu quí đàn chiên. Chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ, hiểu lầm, cay đắng cũng là để canh giữ cho đàn chiên không bị tan tác. Lắm khi người chăn chiên phải chống cự với bầy sói dữ đến trầy da sướt máu, trông chừng chiên, không cho chúng tới gần những con sói đội lốt nai tơ. Nhiều lúc gặp phải bầy sói đông đảo dữ dằn, bảo vệ bầy chiên không khéo có khi phải mất mạng, nhưng dường như quí mạng chiên không thua chi mạng mình nên người chăn chiên đã chẳng quản ngại từ nan.

Ấy thế mà nhiều lúc chiên không hiểu. Chiên cho rằng chủ mình "hà tiện, tự ái." Chiên nghĩ rằng những gì nó có được là nhờ kẻ khác, từ kẻ chăn thuê, chứ không phải từ người chủ chiên. Chiên có biết đâu rằng người làm thuê chỉ nhìn vào tiền công. Ðối với họ, kiếm được bất cứ món lợi nào từ đàn chiên đều ngàn lần đáng quan tâm hơn tính mạng và "sự sống phong phú dồi dào" của các con chiên. Nên chi khi mất lợi, hay lúc hiểm nguy khó khăn, hoặc vì những cánh hoa ven rừng quyến rũ gọi mời, họ bỏ rơi đàn chiên, trốn đi tức thì.

Riêng Người Mục Tử tốt lành sẽ chẳng bao giờ bỏ rơi đàn chiên mình. Người sẽ ở cùng chúng mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28:20). Hơn thế nữa, cứ mỗi ngày, Người Mục Tử tốt lành đó lại "thí mình" để bảo vệ và dẫn dắt đoàn chiên đến đồng cỏ xanh tươi và suối nước trong lành, nơi đó có bóng giáo đường và tiếng chuông ngân, nơi đó có xảy ra câu chuyện cảm động nhất trên đời: Người Mục Tử đã hiến trót đời mình cho sự sống đàn chiên.

Ðể rồi nhờ đó, con chiên nào chịu lắng nghe tiếng Người, bước theo sự dẫn dắt yêu thương của Người, không bỏ bầy đi theo dấu chân của chồn hoang cáo dại, sẽ cảm nhận được tình người chăn chiên, và đời nó sẽ mãi là khúc hát tri ân:

Chúa chăn nuôi tôi, tôi nào còn thiếu gì.

Chúa bảo vệ tôi, lẽ nào tôi còn sợ chi... (Tv 23).

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật V Mùa Phục Sinh

21-05-2000
Cv 9:26-31; 1 Gn 3:18-24; Gn 15:1-8

TÌNH YÊU BIẾN ÐỔI PHẬN NGƯỜI

 

"Ðiều làm cho Cha Thầy được vinh hiển là các con sinh nhiều trái" (Ga 15:8).

Trong cuốn All Things Made New, Linh mục Harold Beutow đã minh hoạ tình yêu có khả năng chuyển hoá mọi sự nên tươi đẹp bằng câu chuyện như sau: Tại một trường đại học ở Baltimore, một giáo sư chuyên khoa xã hội học đã yêu cầu các sinh viên của mình làm một cuộc nghiên cứu liên quan đến tình trạng sống của 200 em thiếu niên trong một khu nhà ổ chuột. Giáo sư cũng yêu cầu các sinh viên đánh giá và tiên đoán tương lai của những em thiếu niên này. Sau khi đọc qua tất cả các tài liệu nghiên cứu về từng em thiếu niên trong khu nhà ổ chuột nghèo nàn kia, vị giáo sư đều thấy các sinh viên có cùng một lời nhận định: "Những đứa trẻ này không có tương lai."

Hai mươi lăm năm sau, một giáo sư xã hội học mới được thay thế đã tình cờ đọc thấy tập tài liệu nghiên cứu trên đây. Ông liền ra đề án cho các sinh viên của mình: tìm hiểu xem sự gì đã xảy ra cho 200 em thiếu niên nọ. Sau một thời gian không lâu, họ thu được kết quả như sau: ngoài 20 em đi xa không tìm ra tung tích hay đã chết, số còn lại có tất cả 176 người đã trở thành luật sư, bác sĩ, hay những nhà kinh doanh thành công.

Ngạc nhiên trước sự kiện này, vị giáo sư đã quyết định tìm hiểu nguyên do. Thật may mắn, tất cả 176 bác sĩ, luật sư, hay thương gia kia đều đang sinh sống tại Baltimore. Thế là các cuộc phỏng vấn cá nhân đã được thực hiện. Sau khi tổng kết, các sinh viên đã thu được 176 câu trả lời có cùng một nội dung: nhờ một cô giáo mà họ đã được như ngày nay.

Thêm một may mắn khác cho nhóm sinh viên nghiên cứu là cô giáo kia còn sống. Sau khi nghe qua câu hỏi "Nhờ bí quyết nào mà cô đã giúp cho những đứa trẻ ‘không có tương lai’ kia nên thân nên phận?" Cô giáo xưa tươi tỉnh trả lời: "Ðơn giản lắm. Tôi đã thương yêu chúng nó."

Ðúng là tình yêu đã biến đổi phận người. Tình yêu đã đón nhận, tha thứ, cải hoá, và làm thăng hoa đời người.

Nếu không nhờ tình yêu thì làm sao một con người mà quá khứ là "rất nhiệt thành trong công việc bắt bớ đạo Chúa, đến giết chóc cũng không từ, xiềng xích và tống ngục cả đàn ông lẫn đàn bà" (Cv 22:4), người đã đồng loã trong việc đổ máu Stêphanô, lại có thể trở nên cột trụ của Giáo hội, vị chứng nhân nhiệt thành của Thiên Chúa? Nếu không nhờ tình yêu thì làm sao Phaolô, tên của vị chứng nhân, lại có thể được tháp nhập vào Chi Thể Mầu nhiệm của Ðức Kitô, như cành nho gắn liền với thân nho, hầu mang lại biết bao hoa trái ngọt ngào cho nhân loại.

Chính tình yêu đã quật ngã bản tính ngông cuồng, cứng đầu của Phaolô, và đưa ngài đến với cộng đoàn Dân Chúa. Nhưng ngay thời gian đầu của cuộc trở lại, Phaolô đã gặp phải muôn vàn khó khăn, nghi kỵ, và xa lánh. Nhiều người thắc mắc: "Chứ không phải tại Giêrusalem ông này đã ra công triệt hạ những người kêu khấn Danh Giêsu, và đã tới đây để bắt trói họ mà điệu về cho các thượng tế sao?" (Cv 9:21). Người ta sợ Phaolô, không tin ngài đã trở thành môn đệ (Cv 9:26). Thậm chí có nhiều người Do thái, vì căm tức trước sự đổi đời của Phaolô, nên đã tìm cách giết ông (Cv 9:23).

Trong cảnh điêu linh ngặt nghèo đó, tình yêu nơi vị tông đồ có tên Barnaba đã giải thoát Phaolô. Barnaba đã ưu ái dẫn Phaolô đến gặp các Tông đồ. Ðây không phải là hình ảnh của cành nho được tháp vào cây nho sao! Ðể rồi nhờ đó mà cành nho đơm bông sinh trái. Sách Tông đồ Công vụ đã thuật lại: "Từ đó Phaolô ra vào Giêrusalem và dạn dĩ xưng Danh Chúa. Ngài cũng giảng dạy cho cả dân ngoại nữa" (Cv 9:28).

Dòng nhựa ơn thánh đã tuôn chảy vào đời Phaolô. Và như Thánh nhân quả quyết: "Ơn Chúa xuống cho tôi đã không ra hư luống" (1 Cor 15:10).

Nhờ được yêu thương, nâng đỡ, khuyến khích, mà những kẻ "không có tương lai" đã tìm thấy tương lai cho đời mình và cho xã hội. Nhờ được tình yêu bao bọc, chăm sóc, chở che, mà một người ghét đạo, bắt đạo, chống đạo, đã được biết đạo, theo đạo, mến đạo, và chết vì đạo.

Trong thế giới hôm nay, có biết bao con người đang sống trong sự nghèo nàn của tội lỗi, ích kỷ, đam mê, dục tình. Biết bao linh hồn đang "không có tương lai" hoặc đánh mất tương lai. Nhiều cõi lòng không có cơ may tiếp nhận những dòng nhựa sống từ thân nho là Ðức Kitô. Không phải vì cây đã héo, nhựa đã khô. Song vì thiếu một bàn tay nhân ái, một con tim nghĩa tình, một lời nói khích lệ để nối cành về với thân, để làm cho đời dâng trào sức sống.

Thử hỏi trong Giáo hội hiện nay có còn những con người đang sống trong cô độc, héo hon? Chắc chắn là có. Nhưng có phải vì họ không tiếp xúc với ai hay vì không ai tiếp xúc với họ? Có thể là cả hai. Dường như lắm người chỉ đến nhà thờ để khỏi mang tội với Chúa, còn mối liên hệ với tha nhân là một điều chi xa lạ. Ði lễ nhiều lần, tới lui nhà Chúa nhiều lần, song hình như người ta không hề biết đến ai khác ngoài người thân trong gia đình. Tình trạng hững hờ, lạc lõng, đơn điệu này cần được tỉa sạch để sinh hoa trái. Vì giới răn của Chúa không chỉ là tin vào Chúa Giêsu Kitô, nhưng còn phải yêu thương và liên kết với nhau trong niềm tin vào Ngài nữa (1 Ga 3:23).

Một cộng đoàn, một xứ đạo sẽ thêm sức sống, khi người ta đến với Chúađến với nhau.

Nếu từ giữa lòng Năm Thánh này, tôi thoát ra khỏi ốc đảo cô đơn của mình để sống gắn bó, tha thiết hơn với cộng đoàn Dân Chúa, nếu tôi biết tìm đến với những tâm hồn đang mất niềm tin, đang thiếu tình thương, và đang cần một lời gọi mời trở về với Chúa, tức là tôi đang tích cực hiệp thông với Ðức Kitô, như cành nho gắn liền với thân nho, mà làm cho Danh Cha được vinh hiển—vì đời mình sinh nhiều trái.

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh

28-05-2000
Cv 10:25-26, 34-35, 44-48; 1 Ga 4:7-10; Ga 15:9-17

TINH CẦU YÊU THƯƠNG

 

"Không có tình yêu nào cao quí hơn tình yêu của người thí mạng mình vì bạn hữu" (Ga 15:13)

Khi thấy nhân số trên địa cầu cứ ngày càng gia tăng, thì người ta đã vội phát minh ra nhiều phương pháp giải quyết tình trạng "nhân mãn." Các cách thức như ngừa thai, phá thai, tuyệt sản, diệt chủng là những thứ mà con người đã sáng chế và áp dụng hăng hái trong nhiều thập niên vừa qua. Nhưng vì những phương pháp đó không phù hợp với đường hướng luân lý và nhân phẩm nên ít nhiều đã bị chống đối và lên án ở khắp nơi. Thay vì phải thi hành lệnh truyền yêu thương là "hiến dâng mạng sống mình cho tha nhân" thì người ta lại thí mạng tha nhân để bao che sự sống của mình.

Thế rồi cách nay không lâu, vào tháng 8 năm 1991, con người đã nghĩ ra một phương pháp có vẻ an toàn, không phải rắc rối khi đụng đến các vấn đề luân lý, đạo đức: tìm cách chuyển người từ trái đất sang một hành tinh khác.

Ðể thi hành phương án này, người ta dự tính sẽ biến sao Hoả thành một trái đất thứ hai, tức là làm cho sao Hoả có tất cả mọi điều kiện sinh sống như trên mặt đất vậy. Thế nhưng vào thời điểm đó, nhiều chuyên gia đã nghi ngờ và cho dự định này là một điều không tưởng, bởi vì trong thực tế, trên sao Hoả làm gì có dấu vết của sự sống. Với lại, để có một chuyến bay đưa người lên Hoả tinh phải mất ít nhất 300 tỉ đôla. Một số tiền khổng lồ. Cộng với những điều kiện thời tiết quá khắc nghiệt của sao Hoả, khiến cho dự án được xếp vào một góc.

Thế nhưng từ hôm 6-8-1996, và nhất là sau ngày 4-7-1997, ngày Ðộc lập của Hoa kỳ, khi một bộ máy thăm dò có tên "Pathfinder" đáp an toàn xuống sao Hoả, và khi các nhà nghiên cứu NASA tuyên bố có dấu vết của sự sống trên đó cách nay khoảng 4 tỉ năm, người ta đã vội moi ra lại dự án "biến sao hoả thành trái đất" vốn bị xếp xó trước đây. Người ta cũng đưa ra ngay 3 dự án cơ bản để cải biến ngôi sao này:

Bước thứ nhất: sưởi ấm hành tinh bằng một chiếc gương khổng lồ, nhằm tạo ra bầu khí quyển. Giai đoạn này có thể được tiến hành vào năm 2050.

Bước thứ hai: tạo ra khí Oxy, loại khí cần thiết cho sự sống. Dự định này có thể được tiến hành vào năm 2150. Bằng việc chiết xuất khí oxy từ những oxýt sắt vốn có rất nhiều trên sao Hoả, người ta ước tính sẽ đưa vào bầu khí quyển của hành tinh này mỗi ngày hàng triệu mét khối oxy. Nhờ quá trình đó, nước bị giam giữ trong đất sẽ bay hơi, và như vậy, sau nhiều lần bốc hơi và đông đặc, các đám mây sẽ xuất hiện và tạo thành mưa.

Khi có nước, người ta sẽ bước sang giai đoạn thứ ba: trồng trọt. Giai đoạn này ước tính được thực hiện vào năm 2200. Những loại thực vật và vi khuẩn có khả năng phát triển và sinh sản nhanh để tăng thêm nồng độ của khí oxy sẽ được mang lên sao Hoả trước nhất.

Nếu các tiến trình trên diễn ra tốt đẹp thì khoảng 100.000 năm nữa, con cháu Adong sẽ tha hồ bồng bế nhau lên sinh sống trên trái đất thứ hai này.

Dự án trên có thể trở thành hiện thực được chăng? Sao Hoả rồi đây có được sưởi ấm, có đầy đủ không khí, và trở thành môi trường thích hợp cho sự sống con người không? Chưa ai dám đoan quyết. Có thể không. Nhưng cũng có thể xảy ra.

Tuy nhiên trước những vấn đề của khoa học và tương lai, thiết tưởng chúng ta cũng nên có đôi chút suy tư về hiện tại và đời sống đức tin hiện nay của chính mình, kẻo Chúa sẽ nói: "Quân giả hình, chuyện trời và đất thì ngươi biết xét định; còn về thời buổi này, sao ngươi lại không biết suy xét" (Lc 12:56).

Ðể bảo tồn và nâng cao giá trị sự sống của nhân loại trong tương lai, người ta đã đi từ dự phóng này đến hoạch định kia. Thế nhưng ngay trong hiện tại, người ta cũng phát minh không biết cơ man nào các phương thức ngăn ngừa và tiêu diệt sự sống. Vô lý hết sức khi con người tìm cách triệt hạ sự sống của ngày hôm nay và ra công giữ gìn sự sống của ngày mai. Nếu hiện tại không có sự sống, không còn con người, thì trong tương lai, lấy đâu ra con người và sự sống để giữ gìn hay đưa lên sao Hoả. Không chừng lúc con người chưa kịp cải biến sao Hoả thành trái đất, thì trái đất đã bị thoái hoá thành sao hoả mất rồi—khi mà trái đất biến thành vùng đất bị tước mất sự sống, mất chân lý, và mất yêu thương. Vì khi con người không dám sống sự thật, chẳng biết nghĩa yêu thương, không nhìn nhận Thiên Chúa, thì quả địa cầu này có khác chi sao Hoả, một hành tinh chết!

Nhưng trái lại, nếu người ta tin phục Thiên Chúa, bước theo sự thật, sống trong yêu thương thì từ tâm hồn, gia đình, và xã hội đã phát sinh những thứ "oxy" và "hơi ấm" cần thiết để giữ cho trái đất luôn là một hành tinh của sự sống rồi.

Thế nên, trong khi các nhà khoa học đang tìm cách ném hơi ấm, oxy, và thực vật lên sao Hoả, tôi phải bắt chước Ðức Giêsu ném "lửa" xuống quả địa cầu này. Ðó là lửa của yêu thương chứ không phải của hận thù ghen ghét, lửa của nhiệt thành quảng đại chứ không phải lửa của dục tình ích kỷ. Tôi phải làm cho lửa của Ðức Kitô cháy bùng lên.

Mẹ Têrêsa Calcutta đã từng nói: nếu chúng ta không giúp thắp sáng thế giới tức là đang góp tay làm bóng tối bao trùm nhân loại. Nếu chúng ta không giúp cho ngọn lửa Ðức Kitô đã "ném xuống địa cầu với ước mong làm cho nó cháy bùng lên" (Lc 12:49), thì ngọn lửa hoả ngục sẽ thống trị. Nếu chúng ta không làm cho ngọn lửa yêu thương rực sáng, cái ác sẽ chiếm đoạt thế gian.

Thế nhưng tôi sẽ làm gì để ánh lửa Kitô rực sáng?

Người ta kể: tại Ide, một làng nhỏ ở phía tây nam nước Hoà Lan, đã xảy ra một câu chuyện cảm động về chàng trai mang tên Hans Bergen.

Có lẽ vì bị ngôi sao bạc phước chiếu mạng nên từ lúc chào đời đến tuổi trưởng thành, Hans phải mang một bộ mặt sần sùi ghê tởm. Mỗi khi dân làng chợt trông thấy anh, họ liền tránh đi chỗ khác. Thậm chí có kẻ còn xua đuổi hoặc trêu chọc.

Mặc cảm, buồn tủi, uất ức, Hans Bergen tuy vẫn sống, song quả tim anh dường như đã bị bóp chết từ lâu. Thế rồi, vào một đêm đông buồn tẻ, người thanh niên đó chết thật.

Không luyến tiếc, không nước mắt, dân làng vẫn vô tình. Ðám tang lạnh ngắt!

Thế nhưng, mọi người ngỡ ngàng sửng sốt làm sao khi bản di chúc của Hans được đọc lên: "Phần gia tài 40 ngàn Mỹ kim của tôi thuộc về bé Anne Martine."

Bé Anne Martine là ai? Người ta ngạc nhiên hỏi nhau vì thấy bé Anne chẳng là bà con thân thuộc gì với Hans cả. Nhưng rồi mọi người đã hiểu duyên cớ khi đọc đến phần cuối của chúc thư. Hans viết: "Mọi người trong làng đã tỏ ra ghê tởm, khó chịu khi gặp tôi. Họ đem đến cho tôi nỗi đau khổ quá mức chịu đựng. Nhưng một ngày kia, tôi gặp bé Anne, và bé đã tặng tôi nụ cười thân ái. Ðây là món quà đầu đời và cũng là niềm hạnh phúc duy nhất của tôi."

Cao quí thay nụ cười của bé Anne! Nụ cười cảm thông nhân ái của em đã đem lại sinh khí, tự tin cho đời Hans. Tiếc thay, anh đã phải ra đi khi vừa tìm thấy tia nắng ấm cho cuộc đời. Song có lẽ Hans đã toại nguyện lắm.

Hans chết, nhưng hình ảnh Hans vẫn còn đó, những bộ mặt thẫn thờ bạc phước, nghèo hèn, cô đơn, xấu số, thất vọng vẫn còn đó, xung quanh ta. Hãy trao tình thương cho nhau. Ít ra, hãy nở một nụ cười thân thiện tặng nhau như bé Anne đã làm, để rồi cuộc đời con người được sưởi ấm, thế giới đầy thêm sức sống của tình thương, và nhờ đó mà quả đất sẽ không biến thành sao Hoả.

"Này là lịnh truyền của Ta: các ngươi hãy yêu mến nhau như Ta đã yêu mến các ngươi" (Ga 15:12).

 

Back to Top Back to Top


 

Chúa Nhật VII Mùa Phục Sinh

04-06-2000
Cv 1:1-11; Eph 1:17-23; Mc 16:15-20

GIÁO DỤC CON CÁI

"Vì chúng, Con đã tự thánh hoá, để cả chúng cũng được thánh hoá trong chân lý" (Ga 17:19)

Trước khi xa rời các môn đệ, trở về cùng Thiên Chúa Cha, Ðức Giêsu đã thánh hoá chính mình trong thương đau khổ giá, để nhờ đó các môn đệ cũng được thánh hoá.

Trước khi con cái rời xa gia đình, vào đời, đi đến một phương trời mới, cha mẹ có thánh hoá chính mình để con cái cũng đón nhận được chút gì làm hành trang cho tương lai của chúng chăng?

Có lẽ một trong những mối bận tâm hàng đầu của người lớn trong một quốc gia tân tiến, nhưng mang nặng chiều kích vật chất, hưởng thụ, và tự do quá trớn như Hoa kỳ này, sẽ là mối bận tâm về con cái.

Thông thường, đặc tính của cha mẹ là thương con—trông mong, ước vọng những sự tốt lành cho con. Thế nhưng lắm khi cha mẹ tưởng sự này điều kia là tốt cho chúng lại là những thứ "tốt" rất chủ quan và phiếm diện. Kinh Thánh có ghi lại câu chuyện Bà Zêbêđê xin cho hai con mình là Gioan và Giacôbê được làm bộ trưởng trong nước của Chúa. Tưởng rằng kiếm chút quyền thế cho con mình là phải, nhưng câu trả lời của Ðức Giêsu cho thấy như thế là không đúng: "Các ngươi không biết các ngươi xin gì" (Mt 20:22a). Ðiều bà Zêbêđê phải muốn và phải xin cho con mình là muốn và xin cho con nên giống Ngài: trong việc uống chén đắng, vâng theo ý Ðức Chúa Cha, chấp nhận gian khổ hy sinh, bước đi trên con đường khiêm nhường phục vụ để mang ơn cứu độ cho tha nhân.

Muốn điều tốt điều lành cho con cái, theo Ðức Giêsu, không gì khác hơn là giúp cho con cái có tâm hồn cứu độ.

Nhiều cha mẹ mong ước con mình sau này lớn lên sẽ làm ông này bà kia. Không bác sĩ thì cũng luật sư, hay một vị thế nào gần như vậy. Thế nhưng có nghề nghiệp, chức quyền, mà không có tâm cứu độ, thiếu lòng bác ái vị tha, không có cảm mến xót thương, thì chỉ làm khổ gia đình và làm hại xã hội thôi. Thử hỏi một bác sĩ không có cái tâm, chỉ biết lo làm tiền, bất chấp nhân phẩm con người, không màng luân thường đạo lý, có khi còn khuyến khích hoặc thông đồng trong việc phá thai, thì cha mẹ nào có thể hãnh diện hay tự hào được không? Và giả như lo lắng nuôi nấng con thành luật sư, nhưng con lại không có tâm hồn của Ðức Giêsu, chưa có lòng yêu thương phục vụ, thì rồi nó sẽ không lo cho người nghèo, chỉ cãi cho người giàu, đạp đầu đè cổ người khác để vươn lên, bất chấp tình người, bất chấp chân lý, đạo đức. Thế thì thử hỏi cha mẹ đã thực hiện nhiệm vụ của mình cách trọn vẹn chưa?

Nhưng nhiệm vụ của cha mẹ là gì?

Trong cuốn Giới Luật Yêu Thương, Ðức Cha Bùi Tuần có nói: nhiệm vụ của cha mẹ là dạy dỗ con cái nên người, giúp chúng trở thành kẻ có đầu đội trời, chân đạp đất. "Chân đạp đất, có nghĩa là con người ta một phần lệ thuộc vào vật chất, thuộc về đất nhưng lại đạp trên đất. Ðạp trên đất là một thái độ cai trị, một thái độ chinh phục... Chân đạp đất là thái độ phải thắng dẹp những lôi cuốn tội lỗi thế tục, là đạp lên trên những gì đưa ta xuống đất, xuống địa ngục. Rồi, nếu chân đạp đất chỉ những sự phàm trần thì đầu đội trời chỉ những sự siêu phàm. Ðầu đội trời chỉ thái độ vươn mình lên những gì cao thượng. Ðầu đội trời chỉ sự cố gắng phóng mình tới lý tưởng xa vời. Ðầu đội trời chỉ sự hướng tâm của con người về mục đích ở tận bên kia thế giới. Ðầu đội trời chỉ nỗ lực băng mình lên cao để tìm về quê hương trên trời. Ðầu đội trời, chân đạp đất, con người sống ở trên đất nhưng luôn hướng về trời và đạp lên đất để tiến về trời. Mục đích của con người là vậy, thì đường hướng giáo dục cũng phải đi theo mục đích đó."

Thấu hiểu được mục đích người ta sẽ dễ đi đến chỗ nhận thức rằng tập cho con biết làm việc chưa đủ, lo cho con có nghề nghiệp, có địa vị chức quyền chưa đủ, nuôi cho con lớn lên khoẻ mạnh, được yên bề gia thất vẫn chưa đủ. Nếu như cha mẹ chưa tập cho con cái biết sống nhân đức, biết mến Chúa yêu người, biết làm lành lánh dữ thì kể như cha mẹ chưa làm tròn cái chức phận cao cả của mình.

Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là phải giáo dục thế nào để con cái có được những thứ đó? Khoán cho nhà trường hay nhà thờ chăng? Giao phó cho các cha, thầy, sơ, hoặc các ông bà, anh chị em thiện nguyện ư? Tất nhiên không phải vậy. Bởi như Ðức Cha Nguyễn Văn Thuận có nói trong cuốn Những Người Lữ Hành Trên Ðường Hy Vọng: "Chủng viện thứ nhất, đệ tử viện thứ nhất, trường sư phạm thứ nhất là gia đình Công giáo. Không vị giám đốc nào tài ba, hay chuyên môn đến đâu có thể thay thế cha mẹ được. Nếu cơ sở bậc nhất ấy bị hỏng, tương lai Hội Thánh và xã hội nhân loại cũng rung rinh sụp đổ."

Ðức Giáo hoàng Gioan XXIII khi còn là giám mục trong một lá thư gởi cho cha mẹ cũng có viết rằng: "Thưa ba mẹ, hôm nay con được 50 tuổi. Chúa thương ban cho con nhiều chức tước trong Hội Thánh, đi nhiều nơi, học nhiều sách, nhưng không trường nào dạy dỗ con, làm ích cho con bằng hồi con được ngồi trên chân ba mẹ."

Thế ra cha mẹ thương con, muốn con nên người, và là loại người "đầu đội trời, chân đạp đất," thì cha mẹ phải lo tự mình giáo dục dạy dỗ con cái trước nhất. Có nhiều phương thức giáo dục, nhưng một phương thức rất quan trọng và cần thiết. Ðó là giáo dục bằng gương sáng. Làm gương sáng là thánh hoá chính mình. Và thánh hoá chính mình là bắt đầu thánh hoá gia đình và thế giới.

Trước lúc bước vào cuộc khổ nạn, Ðức Giêsu đã tha thiết khẩn cầu cho các môn đệ. Bao tâm tình thương mến xâu xa đã được bộc bạch trong "lời nguyện hiến tế." Rồi vì quá yêu thương những kẻ theo Ngài nên Ðức Giêsu đã "tự thánh hiến để họ cũng được thánh hiến."

Chúa Giêsu đã làm gương khi muốn dạy chúng ta bất cứ điều gì. Chính Ngài đã uống chén đắng để mang ơn cứu độ, trao ban sự sống cho nhân loại. Mẹ con ông Zêbêđê đã được mời gọi sống theo mẫu gương đó. Họ đã đón nhận đầu rơi máu chảy để hạt giống của đức tin, mầm non của sự sống được nảy nở trên khắp thế giới.

Cũng vậy, một gia đình mà con cái thấy cha mẹ hy sinh nhường nhịn, siêng năng kinh nguyện, yêu thương giúp đỡ kẻ yếu đuối khổ đau; nếu con cái thấy cha mẹ không say sưa rượu chè, không bê bối lem nhem, không cộc cằn nóng nảy, không đay nghiến chanh chua, không chê bai kẻ này nói xấu người kia, nhưng biết sống bác ái công bình, thuận hoà dấn thân, thì tâm hồn chúng sẽ có được những tinh chất cần thiết cho một cuộc sống lành mạnh, hy vọng mang lại nhiều ơn ích cho Giáo hội và cho xã hội.

Nói tới gương sáng thì không thể không nói đến gương mù gương tối. Không ` gì huỷ diệt tâm hồn con em chúng ta cho bằng gương xấu. Một lời nói bất nhã trong gia đình, một đam mê phim ảnh xấu xa, một hành động ích kỷ gian dối... sẽ như những nhát dao làm nát tan và nhạt nhoà hình ảnh Thiên Chúa trong linh hồn các em. Và tội này nặng lắm. Chính Chúa Giêsu đã khuyến cáo rằng, "kẻ gây nên gương mù gương xấu thì thà nó bị treo cối đá vào cổ mà xô xuống biển thì hơn" (Mt 18:6).

Không gương sáng nào mà thiếu hy sinh vất vả. Nhưng vì yêu thương con cái, tha thiết với mầm non của Giáo hội và xã hội, hãy "tự thánh hoá mình—trong lời ăn, tiếng nói, hành vi, thái độ, việc làm, đạo đức, nguyện cầu—để chúng cũng được thánh hoá trong chân lý [yêu thương]" như Ðức Giêsu đã làm gương và mời gọi chúng ta tiến bước theo Ngài.

 

Back to Top Back to Top


 

CHÚA NHẬT
CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG

11-06-2000
Cv 2:1-11; 1 Cr 12:3b-7,12-13; Ga 20:19-23

ÐÁNH MẤT CẢM THỨC VỀ TỘI

 

Bộ Gia Ðình tại Ðức quốc có thông báo rằng trong mùa Xuân năm 2000 này, Bộ sẽ trình trước Hạ viện một dự luật nhằm chính thức công nhận việc "bán thân" của các cô gái giang hồ là một nghề làm ăn hợp pháp, và cho những người làm nghề này được hưởng mọi phúc lợi xã hội giống như các nghề khác.

Trong tiến trình hợp pháp hoá dự luật, bà Christine Bergmann, Bộ trưởng Bộ Gia đình, cho biết sẽ cố gắng hết sức mình để đề nghị Hạ viện loại bỏ chữ "vô đạo đức" ra khỏi định nghĩa của nghề bán dâm. Sau đó luật sẽ cho các nhà kinh doanh mở nhà chứa và đóng thuế cho chính phủ. Ðược biết, Ðức quốc hiện nay đã có chừng 500 ngàn cô gái "bán thân" trên tổng số 82 triệu dân.

Một tờ báo tại Ðức nhận định rằng mặc dầu dự luật được nhiều thành phần đảng phái ủng hộ, nhưng chắc chắn nó sẽ gặp sức chống đối của đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo. Ông Norbert Geis, một thành viên của đảng này đã phát biểu: "Không thể cải thiện nền luân lý xã hội bằng cách hợp pháp hoá những điều vô luân lý, vô đạo đức được. Mặt khác, tôi không nghĩ những người chủ hay công nhân trong các ngành nghề hợp pháp căn bản của xã hội lại bằng lòng đóng thêm tiền bảo hiểm sức khoẻ để chữa trị cho những người nhúng tay vào cái nghề đồi bại đó."

Mẫu tin đầu năm trên đây đáng cho người ta suy nghĩ: xã hội nào cũng có những tệ đoan, không nhiều thì ít; đất nước nào cũng có những vấn nạn, không chỉ về mặt kinh tế chính trị, nhưng còn cả khía cạnh văn hoá, tinh thần. Nhiều quốc gia phải đương đầu với những tệ đoan xã hội như nghiện ngập, li dị, phá thai, mãi dâm, trộm cướp, tham ô... Tệ nạn nào cũng cần giải quyết. Nhưng chưa có thời đại nào mà cách giải quyết lại là hợp pháp hoá các tệ đoan—cho sự xấu một chỗ đứng trong xã hội—và như thế mở ngỏ cho chúng được tự do lan tràn.

Tại sao lại có tình trạng băng hoại xã hội như vậy? Phải chăng vì người ta "yêu thương" và muốn thông cảm, chở che cho những kẻ phải bán thân? Nhưng "yêu thương" để rồi nhận chìm con người trong vũng bùn tội lỗi, làm cho nhân phẩm người ta càng trở nên bọt bèo là thứ yêu thương giả tạo và cảm thông dối gạt.

Tình trạng băng hoại xã hội xảy ra không chỉ vì người ta nhân danh "yêu thương" và "con người" để tìm kiếm những lợi nhuận riêng tư, nhưng còn vì khả năng cảm thức tội lỗi đang ngày càng xuống dốc. Người ta không còn ý thức tội lỗi, chai lỳ trong những gì là vô lý, vô đạo, và vô luân đến nỗi muốn bình thường hoá, nếu không muốn nói là tục hoá tất cả.

Ðức Giáo hoàng Piô XII đã rất chí lý khi nhận định: "Tội lớn nhất của thời đại hôm nay là đánh mất cảm thức về tội." Người ta không còn nhìn thấy sự xấu xa nhơ uế trong những gì đi ngược lại với luân thường đạo lý. Ðây quả là một loại bệnh AIDS thiêng liêng của con người hôm nay—khả năng đề kháng với những đam mê, dục tình, tội lỗi đã bị huỷ diệt.

Người ta muốn tìm một sự bình an trong tội lỗi. Tưởng rằng trước những điều trái nghịch với đường lối của Thiên Chúa, sự phê chuẩn của một cơ quan lập pháp hay hành pháp nơi trần thế sẽ mang lại cho họ sự bình an tâm hồn. Nhưng thực ra đó chỉ là thứ bình an vỏ bọc. Còn sự bình an chân thật và thẳm sâu thì chỉ có từ Thiên Chúa, thứ bình an mà Ðức Giêsu đem đến cho các môn đệ.

Trong lần hiện ra sau khi sống lại, lời nói đầu tiên, hay ơn phúc trước nhất của Tin mừng Phục sinh mà Ðức Kitô trao ban cho các tông đồ lại là "Bình an cho các con." Tính chất của sự bình an đích thật này chỉ có được sau cuộc chiến đấu gian nan, đón nhận khổ nạn, và toàn thắng vinh quang.

Các môn đệ không chỉ được trao ban bình an, nhưng còn được giao phó cho một sứ mạng: ra đi mang bình an cho thế giới. Họ được sai đi với "hành trang" là Chúa Thánh Thần và quyền tha tội: "Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần, các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại" (Gn 20:22-23).

Như thế, hàm trong lời chúc phúc của Chúa Giêsu là mối tương quan đảo nghịch giữa bình an và tội lỗi: tội có được tha, an bình mới ngự trị. Và tiến trình "tha thứ tội lỗi, đón nhận bình an" này diễn ra dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Tất nhiên, chỉ ở đâu có sám hối, nơi đó mới có ơn thứ tha. Nhưng làm sao có sám hối nếu như cảm thức về tội đã bị triệt tiêu. Cho nên khi người ta bóp chết tiếng nói của lương tâm, tô màu bôi mật cho những vấn đề vô luân, vô đạo, dâm bôn, ô uế là người ta đang tâm chống lại chính Thánh Thần Thiên Chúa.

Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, khai sinh nên Giáo hội—Thân mình mầu nhiệm của Ðức Kitô—không thể không nhớ đến lời nhắc bảo của Thánh Phaolô: "Thân mình anh em là chi thể của Ðức Kitô (1 Cor 6:15) và là đền thờ của Chúa Thánh Thần" (1 Cor 6: 19). Như vậy thử hỏi: tôi phải có thái độ và lối cư xử thế nào đối với chi thể của Ðức Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần? Làm cho nó ô uế và bất an? Hay biến nó thành chi thể của một cô gái giang hồ?

"Ðừng nói gở," Thánh Phaolô răn đe, "Anh em không biết sao, dan díu với điếm tức là nên một thân mình với nó. Vì cả hai, Kinh Thánh nói, sẽ nên một thân xác. Còn kẻ kết hợp với Chúa, thì nên một Thần khí với Ngài. Vậy anh em hãy tránh tà dâm! Phàm mọi tội người ta phạm, đều là ở ngoài thân xác; còn kẻ tà dâm thì có tội phạm đến thân xác mình" (1 Cor 6:16-18).

"Kẻ kết hợp với Chúa trong một Thần khí" chính là những ai luôn biết tìm đến với Ðức Kitô trong các bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể và Giải tội. Chính nơi đây "chân lý sẽ giải thoát con người" và "bình an sẽ ở với kẻ thiện tâm."

Cuối cùng, xin được dâng lên một lời nguyện:

"Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến, canh tân đổi mới đời sống chúng con; tăng sức linh hồn, bồi thêm lửa mến, soi sáng trí khôn, hiệp nhất muôn lòng. Hãy đến, Thánh Linh từ ái, đổ tuôn muôn ơn, phù giúp chúng con. Xin thương, soi dẫn nhân tâm, nương theo Thần trí, bước trong bình an." (Thánh ca "Lạy Chúa Thánh Thần" của Thành Tâm).

Back to Top Back to Top


   Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com