Ðọc xong truyện ngắn "Tiếng Chuông
Ðồng", tôi càng thấm thía phần nào ý nghĩa của
Lời Chúa trong tuần này:
Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt
lành thí mạng sống vì chiên. Kẻ làm thuê không phải
là chủ chiên, và các chiên không phải là của
người ấy, nên khi thấy sói đến, nó bỏ chiên mà
trốn. Sói sẽ bắt chiên và làm cho chúng tản mác. Kẻ
chăn thuê chạy trốn, vì là đứa chăn thuê, và chẳng
tha thiết gì đến đàn chiên (Ga 10:11-13).
Người mục tử tốt lành là người
yêu quí đàn chiên. Chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ,
hiểu lầm, cay đắng cũng là để canh giữ cho đàn
chiên không bị tan tác. Lắm khi người chăn chiên phải
chống cự với bầy sói dữ đến trầy da sướt máu,
trông chừng chiên, không cho chúng tới gần những con
sói đội lốt nai tơ. Nhiều lúc gặp phải bầy sói
đông đảo dữ dằn, bảo vệ bầy chiên không khéo có
khi phải mất mạng, nhưng dường như quí mạng chiên
không thua chi mạng mình nên người chăn chiên đã
chẳng quản ngại từ nan.
Ấy thế mà nhiều lúc chiên không hiểu.
Chiên cho rằng chủ mình "hà tiện, tự ái."
Chiên nghĩ rằng những gì nó có được là nhờ kẻ
khác, từ kẻ chăn thuê, chứ không phải từ người
chủ chiên. Chiên có biết đâu rằng người làm thuê
chỉ nhìn vào tiền công. Ðối với họ, kiếm được
bất cứ món lợi nào từ đàn chiên đều ngàn lần
đáng quan tâm hơn tính mạng và "sự sống phong phú
dồi dào" của các con chiên. Nên chi khi mất lợi,
hay lúc hiểm nguy khó khăn, hoặc vì những cánh hoa ven
rừng quyến rũ gọi mời, họ bỏ rơi đàn chiên, trốn
đi tức thì.
Riêng Người Mục Tử tốt lành sẽ
chẳng bao giờ bỏ rơi đàn chiên mình. Người sẽ ở
cùng chúng mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28:20). Hơn thế
nữa, cứ mỗi ngày, Người Mục Tử tốt lành đó
lại "thí mình" để bảo vệ và dẫn dắt đoàn
chiên đến đồng cỏ xanh tươi và suối nước trong lành,
nơi đó có bóng giáo đường và tiếng chuông ngân,
nơi đó có xảy ra câu chuyện cảm động nhất trên
đời: Người Mục Tử đã hiến trót đời mình cho
sự sống đàn chiên.
Chúa chăn nuôi tôi, tôi nào còn thiếu
gì.
Chúa bảo vệ tôi, lẽ nào tôi còn sợ
chi... (Tv 23).
Chúa Nhật V Mùa Phục Sinh
21-05-2000
Cv
9:26-31; 1 Gn 3:18-24; Gn 15:1-8
TÌNH YÊU BIẾN
ÐỔI PHẬN NGƯỜI
"Ðiều làm cho Cha Thầy được vinh
hiển là các con sinh nhiều trái" (Ga 15:8).
Trong cuốn All Things Made New, Linh mục
Harold Beutow đã minh hoạ tình yêu có khả năng chuyển
hoá mọi sự nên tươi đẹp bằng câu chuyện như sau:
Tại một trường đại học ở Baltimore, một giáo sư
chuyên khoa xã hội học đã yêu cầu các sinh viên của
mình làm một cuộc nghiên cứu liên quan đến tình trạng
sống của 200 em thiếu niên trong một khu nhà ổ chuột.
Giáo sư cũng yêu cầu các sinh viên đánh giá và tiên
đoán tương lai của những em thiếu niên này. Sau khi
đọc qua tất cả các tài liệu nghiên cứu về từng em
thiếu niên trong khu nhà ổ chuột nghèo nàn kia, vị giáo
sư đều thấy các sinh viên có cùng một lời nhận
định: "Những đứa trẻ này không có tương lai."
Hai mươi lăm năm sau, một giáo sư xã
hội học mới được thay thế đã tình cờ đọc thấy
tập tài liệu nghiên cứu trên đây. Ông liền ra đề
án cho các sinh viên của mình: tìm hiểu xem sự gì đã
xảy ra cho 200 em thiếu niên nọ. Sau một thời gian không
lâu, họ thu được kết quả như sau: ngoài 20 em đi xa
không tìm ra tung tích hay đã chết, số còn lại có tất
cả 176 người đã trở thành luật sư, bác sĩ, hay
những nhà kinh doanh thành công.
Ngạc nhiên trước sự kiện này, vị
giáo sư đã quyết định tìm hiểu nguyên do. Thật may mắn,
tất cả 176 bác sĩ, luật sư, hay thương gia kia đều đang
sinh sống tại Baltimore. Thế là các cuộc phỏng vấn cá
nhân đã được thực hiện. Sau khi tổng kết, các sinh
viên đã thu được 176 câu trả lời có cùng một nội
dung: nhờ một cô giáo mà họ đã được như ngày nay.
Thêm một may mắn khác cho nhóm sinh viên
nghiên cứu là cô giáo kia còn sống. Sau khi nghe qua câu
hỏi "Nhờ bí quyết nào mà cô đã giúp cho những
đứa trẻ ‘không có tương lai’ kia nên thân nên
phận?" Cô giáo xưa tươi tỉnh trả lời: "Ðơn
giản lắm. Tôi đã thương yêu chúng nó."
Ðúng là tình yêu đã biến đổi phận
người. Tình yêu đã đón nhận, tha thứ, cải hoá, và
làm thăng hoa đời người.
Nếu không nhờ tình yêu thì làm sao một
con người mà quá khứ là "rất nhiệt thành trong
công việc bắt bớ đạo Chúa, đến giết chóc cũng
không từ, xiềng xích và tống ngục cả đàn ông lẫn
đàn bà" (Cv 22:4), người đã đồng loã trong việc
đổ máu Stêphanô, lại có thể trở nên cột trụ của
Giáo hội, vị chứng nhân nhiệt thành của Thiên Chúa?
Nếu không nhờ tình yêu thì làm sao Phaolô, tên của vị
chứng nhân, lại có thể được tháp nhập vào Chi Thể
Mầu nhiệm của Ðức Kitô, như cành nho gắn liền với
thân nho, hầu mang lại biết bao hoa trái ngọt ngào cho
nhân loại.
Chính tình yêu đã quật ngã bản tính
ngông cuồng, cứng đầu của Phaolô, và đưa ngài đến
với cộng đoàn Dân Chúa. Nhưng ngay thời gian đầu của
cuộc trở lại, Phaolô đã gặp phải muôn vàn khó
khăn, nghi kỵ, và xa lánh. Nhiều người thắc mắc: "Chứ
không phải tại Giêrusalem ông này đã ra công triệt
hạ những người kêu khấn Danh Giêsu, và đã tới
đây để bắt trói họ mà điệu về cho các thượng
tế sao?" (Cv 9:21). Người ta sợ Phaolô, không tin
ngài đã trở thành môn đệ (Cv 9:26). Thậm chí có
nhiều người Do thái, vì căm tức trước sự đổi
đời của Phaolô, nên đã tìm cách giết ông (Cv 9:23).
Trong cảnh điêu linh ngặt nghèo đó, tình
yêu nơi vị tông đồ có tên Barnaba đã giải thoát
Phaolô. Barnaba đã ưu ái dẫn Phaolô đến gặp các Tông
đồ. Ðây không phải là hình ảnh của cành nho được
tháp vào cây nho sao! Ðể rồi nhờ đó mà cành nho
đơm bông sinh trái. Sách Tông đồ Công vụ đã thuật
lại: "Từ đó Phaolô ra vào Giêrusalem và dạn dĩ
xưng Danh Chúa. Ngài cũng giảng dạy cho cả dân ngoại
nữa" (Cv 9:28).
Dòng nhựa ơn thánh đã tuôn chảy vào
đời Phaolô. Và như Thánh nhân quả quyết: "Ơn
Chúa xuống cho tôi đã không ra hư luống" (1 Cor
15:10).
Nhờ được yêu thương, nâng đỡ,
khuyến khích, mà những kẻ "không có tương lai"
đã tìm thấy tương lai cho đời mình và cho xã hội.
Nhờ được tình yêu bao bọc, chăm sóc, chở che, mà
một người ghét đạo, bắt đạo, chống đạo, đã
được biết đạo, theo đạo, mến đạo, và chết vì
đạo.
Trong thế giới hôm nay, có biết bao con
người đang sống trong sự nghèo nàn của tội lỗi, ích
kỷ, đam mê, dục tình. Biết bao linh hồn đang "không
có tương lai" hoặc đánh mất tương lai. Nhiều cõi
lòng không có cơ may tiếp nhận những dòng nhựa sống
từ thân nho là Ðức Kitô. Không phải vì cây đã
héo, nhựa đã khô. Song vì thiếu một bàn tay nhân ái,
một con tim nghĩa tình, một lời nói khích lệ để nối
cành về với thân, để làm cho đời dâng trào sức
sống.
Thử hỏi trong Giáo hội hiện nay có còn
những con người đang sống trong cô độc, héo hon? Chắc
chắn là có. Nhưng có phải vì họ không tiếp xúc với
ai hay vì không ai tiếp xúc với họ? Có thể là cả hai.
Dường như lắm người chỉ đến nhà thờ để khỏi mang
tội với Chúa, còn mối liên hệ với tha nhân là một
điều chi xa lạ. Ði lễ nhiều lần, tới lui nhà Chúa
nhiều lần, song hình như người ta không hề biết đến ai
khác ngoài người thân trong gia đình. Tình trạng hững
hờ, lạc lõng, đơn điệu này cần được tỉa sạch
để sinh hoa trái. Vì giới răn của Chúa không chỉ
là tin vào Chúa Giêsu Kitô, nhưng còn phải yêu thương
và liên kết với nhau trong niềm tin vào Ngài nữa (1 Ga
3:23).
Một cộng đoàn, một xứ đạo sẽ thêm
sức sống, khi người ta đến với Chúa và đến
với nhau.
Nếu từ giữa lòng Năm Thánh này, tôi
thoát ra khỏi ốc đảo cô đơn của mình để sống gắn
bó, tha thiết hơn với cộng đoàn Dân Chúa, nếu tôi
biết tìm đến với những tâm hồn đang mất niềm tin,
đang thiếu tình thương, và đang cần một lời gọi mời
trở về với Chúa, tức là tôi đang tích cực hiệp
thông với Ðức Kitô, như cành nho gắn liền với thân
nho, mà làm cho Danh Cha được vinh hiển—vì đời mình
sinh nhiều trái.
Chúa Nhật VI Mùa Phục Sinh
28-05-2000
Cv
10:25-26, 34-35, 44-48; 1 Ga 4:7-10; Ga 15:9-17
TINH CẦU YÊU
THƯƠNG
"Không có tình yêu nào cao quí hơn
tình yêu của người thí mạng mình vì bạn hữu" (Ga
15:13)
Khi thấy nhân số trên địa cầu cứ ngày
càng gia tăng, thì người ta đã vội phát minh ra nhiều
phương pháp giải quyết tình trạng "nhân mãn."
Các cách thức như ngừa thai, phá thai, tuyệt sản, diệt
chủng là những thứ mà con người đã sáng chế và
áp dụng hăng hái trong nhiều thập niên vừa qua. Nhưng
vì những phương pháp đó không phù hợp với đường
hướng luân lý và nhân phẩm nên ít nhiều đã bị
chống đối và lên án ở khắp nơi. Thay vì phải thi
hành lệnh truyền yêu thương là "hiến dâng mạng
sống mình cho tha nhân" thì người ta lại thí mạng tha
nhân để bao che sự sống của mình.
Thế rồi cách nay không lâu, vào tháng 8
năm 1991, con người đã nghĩ ra một phương pháp có vẻ
an toàn, không phải rắc rối khi đụng đến các vấn
đề luân lý, đạo đức: tìm cách chuyển người từ
trái đất sang một hành tinh khác.
Ðể thi hành phương án này, người ta
dự tính sẽ biến sao Hoả thành một trái đất thứ hai,
tức là làm cho sao Hoả có tất cả mọi điều kiện sinh
sống như trên mặt đất vậy. Thế nhưng vào thời điểm
đó, nhiều chuyên gia đã nghi ngờ và cho dự định này
là một điều không tưởng, bởi vì trong thực tế,
trên sao Hoả làm gì có dấu vết của sự sống. Với
lại, để có một chuyến bay đưa người lên Hoả tinh
phải mất ít nhất 300 tỉ đôla. Một số tiền khổng lồ.
Cộng với những điều kiện thời tiết quá khắc
nghiệt của sao Hoả, khiến cho dự án được xếp vào
một góc.
Thế nhưng từ hôm 6-8-1996, và nhất là
sau ngày 4-7-1997, ngày Ðộc lập của Hoa kỳ, khi một bộ
máy thăm dò có tên "Pathfinder" đáp an toàn
xuống sao Hoả, và khi các nhà nghiên cứu NASA tuyên bố
có dấu vết của sự sống trên đó cách nay khoảng 4
tỉ năm, người ta đã vội moi ra lại dự án "biến
sao hoả thành trái đất" vốn bị xếp xó trước
đây. Người ta cũng đưa ra ngay 3 dự án cơ bản để
cải biến ngôi sao này:
Bước thứ nhất: sưởi ấm hành tinh
bằng một chiếc gương khổng lồ, nhằm tạo ra bầu khí
quyển. Giai đoạn này có thể được tiến hành vào
năm 2050.
Bước thứ hai: tạo ra khí Oxy, loại khí
cần thiết cho sự sống. Dự định này có thể được
tiến hành vào năm 2150. Bằng việc chiết xuất khí oxy
từ những oxýt sắt vốn có rất nhiều trên sao Hoả,
người ta ước tính sẽ đưa vào bầu khí quyển của
hành tinh này mỗi ngày hàng triệu mét khối oxy. Nhờ
quá trình đó, nước bị giam giữ trong đất sẽ bay hơi,
và như vậy, sau nhiều lần bốc hơi và đông đặc, các
đám mây sẽ xuất hiện và tạo thành mưa.
Khi có nước, người ta sẽ bước sang
giai đoạn thứ ba: trồng trọt. Giai đoạn này ước tính
được thực hiện vào năm 2200. Những loại thực vật
và vi khuẩn có khả năng phát triển và sinh sản nhanh
để tăng thêm nồng độ của khí oxy sẽ được mang lên
sao Hoả trước nhất.
Nếu các tiến trình trên diễn ra tốt
đẹp thì khoảng 100.000 năm nữa, con cháu Adong sẽ tha hồ
bồng bế nhau lên sinh sống trên trái đất thứ hai này.
Dự án trên có thể trở thành hiện
thực được chăng? Sao Hoả rồi đây có được sưởi
ấm, có đầy đủ không khí, và trở thành môi
trường thích hợp cho sự sống con người không? Chưa ai
dám đoan quyết. Có thể không. Nhưng cũng có thể xảy
ra.
Tuy nhiên trước những vấn đề của khoa
học và tương lai, thiết tưởng chúng ta cũng nên có
đôi chút suy tư về hiện tại và đời sống đức tin
hiện nay của chính mình, kẻo Chúa sẽ nói: "Quân
giả hình, chuyện trời và đất thì ngươi biết xét
định; còn về thời buổi này, sao ngươi lại không biết
suy xét" (Lc 12:56).
Ðể bảo tồn và nâng cao giá trị sự
sống của nhân loại trong tương lai, người ta đã đi
từ dự phóng này đến hoạch định kia. Thế nhưng ngay
trong hiện tại, người ta cũng phát minh không biết cơ
man nào các phương thức ngăn ngừa và tiêu diệt sự
sống. Vô lý hết sức khi con người tìm cách triệt hạ
sự sống của ngày hôm nay và ra công giữ gìn sự
sống của ngày mai. Nếu hiện tại không có sự sống,
không còn con người, thì trong tương lai, lấy đâu ra con
người và sự sống để giữ gìn hay đưa lên sao Hoả.
Không chừng lúc con người chưa kịp cải biến sao Hoả
thành trái đất, thì trái đất đã bị thoái hoá thành
sao hoả mất rồi—khi mà trái đất biến thành vùng
đất bị tước mất sự sống, mất chân lý, và mất
yêu thương. Vì khi con người không dám sống sự thật,
chẳng biết nghĩa yêu thương, không nhìn nhận Thiên Chúa,
thì quả địa cầu này có khác chi sao Hoả, một hành tinh
chết!
Nhưng trái lại, nếu người ta tin phục
Thiên Chúa, bước theo sự thật, sống trong yêu thương
thì từ tâm hồn, gia đình, và xã hội đã phát sinh
những thứ "oxy" và "hơi ấm" cần thiết
để giữ cho trái đất luôn là một hành tinh của sự
sống rồi.
Thế nên, trong khi các nhà khoa học đang
tìm cách ném hơi ấm, oxy, và thực vật lên sao Hoả,
tôi phải bắt chước Ðức Giêsu ném "lửa"
xuống quả địa cầu này. Ðó là lửa của yêu thương
chứ không phải của hận thù ghen ghét, lửa của nhiệt
thành quảng đại chứ không phải lửa của dục tình
ích kỷ. Tôi phải làm cho lửa của Ðức Kitô cháy
bùng lên.
Mẹ Têrêsa Calcutta đã từng nói: nếu
chúng ta không giúp thắp sáng thế giới tức là đang
góp tay làm bóng tối bao trùm nhân loại. Nếu chúng ta
không giúp cho ngọn lửa Ðức Kitô đã "ném xuống
địa cầu với ước mong làm cho nó cháy bùng lên"
(Lc 12:49), thì ngọn lửa hoả ngục sẽ thống trị. Nếu
chúng ta không làm cho ngọn lửa yêu thương rực sáng,
cái ác sẽ chiếm đoạt thế gian.
Thế nhưng tôi sẽ làm gì để ánh lửa
Kitô rực sáng?
Người ta kể: tại Ide, một làng nhỏ ở
phía tây nam nước Hoà Lan, đã xảy ra một câu chuyện
cảm động về chàng trai mang tên Hans Bergen.
Có lẽ vì bị ngôi sao bạc phước chiếu
mạng nên từ lúc chào đời đến tuổi trưởng thành,
Hans phải mang một bộ mặt sần sùi ghê tởm. Mỗi khi
dân làng chợt trông thấy anh, họ liền tránh đi chỗ
khác. Thậm chí có kẻ còn xua đuổi hoặc trêu chọc.
Mặc cảm, buồn tủi, uất ức, Hans Bergen
tuy vẫn sống, song quả tim anh dường như đã bị bóp
chết từ lâu. Thế rồi, vào một đêm đông buồn tẻ,
người thanh niên đó chết thật.
Không luyến tiếc, không nước mắt, dân
làng vẫn vô tình. Ðám tang lạnh ngắt!
Thế nhưng, mọi người ngỡ ngàng sửng
sốt làm sao khi bản di chúc của Hans được đọc lên: "Phần
gia tài 40 ngàn Mỹ kim của tôi thuộc về bé Anne
Martine."
Bé Anne Martine là ai? Người ta ngạc nhiên
hỏi nhau vì thấy bé Anne chẳng là bà con thân thuộc gì
với Hans cả. Nhưng rồi mọi người đã hiểu duyên cớ
khi đọc đến phần cuối của chúc thư. Hans viết: "Mọi
người trong làng đã tỏ ra ghê tởm, khó chịu khi gặp
tôi. Họ đem đến cho tôi nỗi đau khổ quá mức chịu
đựng. Nhưng một ngày kia, tôi gặp bé Anne, và bé đã
tặng tôi nụ cười thân ái. Ðây là món quà đầu
đời và cũng là niềm hạnh phúc duy nhất của tôi."
Cao quí thay nụ cười của bé Anne! Nụ
cười cảm thông nhân ái của em đã đem lại sinh khí,
tự tin cho đời Hans. Tiếc thay, anh đã phải ra đi khi
vừa tìm thấy tia nắng ấm cho cuộc đời. Song có lẽ
Hans đã toại nguyện lắm.
Hans chết, nhưng hình ảnh Hans vẫn còn đó,
những bộ mặt thẫn thờ bạc phước, nghèo hèn, cô
đơn, xấu số, thất vọng vẫn còn đó, xung quanh ta. Hãy
trao tình thương cho nhau. Ít ra, hãy nở một nụ cười
thân thiện tặng nhau như bé Anne đã làm, để rồi cuộc
đời con người được sưởi ấm, thế giới đầy
thêm sức sống của tình thương, và nhờ đó mà quả
đất sẽ không biến thành sao Hoả.
"Này là lịnh truyền của Ta: các
ngươi hãy yêu mến nhau như Ta đã yêu mến các ngươi"
(Ga 15:12).
Chúa Nhật VII Mùa Phục Sinh
04-06-2000
Cv
1:1-11; Eph 1:17-23; Mc 16:15-20
GIÁO DỤC CON CÁI
"Vì chúng, Con đã tự thánh hoá,
để cả chúng cũng được thánh hoá trong chân lý"
(Ga 17:19)
Trước khi xa rời các môn đệ, trở về
cùng Thiên Chúa Cha, Ðức Giêsu đã thánh hoá chính
mình trong thương đau khổ giá, để nhờ đó các môn
đệ cũng được thánh hoá.
Trước khi con cái rời xa gia đình, vào
đời, đi đến một phương trời mới, cha mẹ có thánh
hoá chính mình để con cái cũng đón nhận được chút
gì làm hành trang cho tương lai của chúng chăng?
Có lẽ một trong những mối bận tâm
hàng đầu của người lớn trong một quốc gia tân tiến,
nhưng mang nặng chiều kích vật chất, hưởng thụ, và
tự do quá trớn như Hoa kỳ này, sẽ là mối bận tâm
về con cái.
Thông thường, đặc tính của cha mẹ là
thương con—trông mong, ước vọng những sự tốt lành
cho con. Thế nhưng lắm khi cha mẹ tưởng sự này điều
kia là tốt cho chúng lại là những thứ "tốt"
rất chủ quan và phiếm diện. Kinh Thánh có ghi lại câu
chuyện Bà Zêbêđê xin cho hai con mình là Gioan và
Giacôbê được làm bộ trưởng trong nước của Chúa.
Tưởng rằng kiếm chút quyền thế cho con mình là phải,
nhưng câu trả lời của Ðức Giêsu cho thấy như thế
là không đúng: "Các ngươi không biết các ngươi
xin gì" (Mt 20:22a). Ðiều bà Zêbêđê phải muốn
và phải xin cho con mình là muốn và xin cho con nên giống
Ngài: trong việc uống chén đắng, vâng theo ý Ðức
Chúa Cha, chấp nhận gian khổ hy sinh, bước đi trên con
đường khiêm nhường phục vụ để mang ơn cứu độ cho
tha nhân.
Muốn điều tốt điều lành cho con cái,
theo Ðức Giêsu, không gì khác hơn là giúp cho con cái
có tâm hồn cứu độ.
Nhiều cha mẹ mong ước con mình sau này
lớn lên sẽ làm ông này bà kia. Không bác sĩ thì
cũng luật sư, hay một vị thế nào gần như vậy. Thế
nhưng có nghề nghiệp, chức quyền, mà không có tâm
cứu độ, thiếu lòng bác ái vị tha, không có cảm
mến xót thương, thì chỉ làm khổ gia đình và làm hại
xã hội thôi. Thử hỏi một bác sĩ không có cái tâm,
chỉ biết lo làm tiền, bất chấp nhân phẩm con người,
không màng luân thường đạo lý, có khi còn khuyến
khích hoặc thông đồng trong việc phá thai, thì cha mẹ
nào có thể hãnh diện hay tự hào được không? Và
giả như lo lắng nuôi nấng con thành luật sư, nhưng con
lại không có tâm hồn của Ðức Giêsu, chưa có lòng
yêu thương phục vụ, thì rồi nó sẽ không lo cho người
nghèo, chỉ cãi cho người giàu, đạp đầu đè cổ
người khác để vươn lên, bất chấp tình người, bất
chấp chân lý, đạo đức. Thế thì thử hỏi cha mẹ
đã thực hiện nhiệm vụ của mình cách trọn vẹn chưa?
Nhưng nhiệm vụ của cha mẹ là gì?
Trong cuốn Giới Luật Yêu Thương,
Ðức Cha Bùi Tuần có nói: nhiệm vụ của cha mẹ là
dạy dỗ con cái nên người, giúp chúng trở thành kẻ
có đầu đội trời, chân đạp đất. "Chân đạp
đất, có nghĩa là con người ta một phần lệ thuộc vào
vật chất, thuộc về đất nhưng lại đạp trên đất.
Ðạp trên đất là một thái độ cai trị, một thái độ
chinh phục... Chân đạp đất là thái độ phải thắng
dẹp những lôi cuốn tội lỗi thế tục, là đạp lên
trên những gì đưa ta xuống đất, xuống địa ngục. Rồi,
nếu chân đạp đất chỉ những sự phàm trần thì đầu
đội trời chỉ những sự siêu phàm. Ðầu đội trời
chỉ thái độ vươn mình lên những gì cao thượng. Ðầu
đội trời chỉ sự cố gắng phóng mình tới lý tưởng
xa vời. Ðầu đội trời chỉ sự hướng tâm của con
người về mục đích ở tận bên kia thế giới. Ðầu
đội trời chỉ nỗ lực băng mình lên cao để tìm về
quê hương trên trời. Ðầu đội trời, chân đạp đất,
con người sống ở trên đất nhưng luôn hướng về
trời và đạp lên đất để tiến về trời. Mục đích
của con người là vậy, thì đường hướng giáo dục
cũng phải đi theo mục đích đó."
Thấu hiểu được mục đích người ta sẽ
dễ đi đến chỗ nhận thức rằng tập cho con biết làm
việc chưa đủ, lo cho con có nghề nghiệp, có địa vị
chức quyền chưa đủ, nuôi cho con lớn lên khoẻ mạnh,
được yên bề gia thất vẫn chưa đủ. Nếu như cha mẹ
chưa tập cho con cái biết sống nhân đức, biết mến
Chúa yêu người, biết làm lành lánh dữ thì kể như
cha mẹ chưa làm tròn cái chức phận cao cả của mình.
Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây
là phải giáo dục thế nào để con cái có được
những thứ đó? Khoán cho nhà trường hay nhà thờ
chăng? Giao phó cho các cha, thầy, sơ, hoặc các ông bà,
anh chị em thiện nguyện ư? Tất nhiên không phải vậy.
Bởi như Ðức Cha Nguyễn Văn Thuận có nói trong cuốn Những
Người Lữ Hành Trên Ðường Hy Vọng: "Chủng
viện thứ nhất, đệ tử viện thứ nhất, trường sư
phạm thứ nhất là gia đình Công giáo. Không vị giám
đốc nào tài ba, hay chuyên môn đến đâu có thể thay
thế cha mẹ được. Nếu cơ sở bậc nhất ấy bị hỏng,
tương lai Hội Thánh và xã hội nhân loại cũng rung rinh
sụp đổ."
Ðức Giáo hoàng Gioan XXIII khi còn là
giám mục trong một lá thư gởi cho cha mẹ cũng có viết
rằng: "Thưa ba mẹ, hôm nay con được 50 tuổi. Chúa
thương ban cho con nhiều chức tước trong Hội Thánh, đi
nhiều nơi, học nhiều sách, nhưng không trường nào dạy
dỗ con, làm ích cho con bằng hồi con được ngồi trên
chân ba mẹ."
Thế ra cha mẹ thương con, muốn con nên
người, và là loại người "đầu đội trời, chân
đạp đất," thì cha mẹ phải lo tự mình giáo dục
dạy dỗ con cái trước nhất. Có nhiều phương thức
giáo dục, nhưng một phương thức rất quan trọng và cần
thiết. Ðó là giáo dục bằng gương sáng. Làm gương
sáng là thánh hoá chính mình. Và thánh hoá chính mình
là bắt đầu thánh hoá gia đình và thế giới.
Trước lúc bước vào cuộc khổ nạn,
Ðức Giêsu đã tha thiết khẩn cầu cho các môn đệ. Bao
tâm tình thương mến xâu xa đã được bộc bạch trong
"lời nguyện hiến tế." Rồi vì quá yêu thương
những kẻ theo Ngài nên Ðức Giêsu đã "tự thánh
hiến để họ cũng được thánh hiến."
Chúa Giêsu đã làm gương khi muốn dạy
chúng ta bất cứ điều gì. Chính Ngài đã uống chén
đắng để mang ơn cứu độ, trao ban sự sống cho nhân
loại. Mẹ con ông Zêbêđê đã được mời gọi sống
theo mẫu gương đó. Họ đã đón nhận đầu rơi máu
chảy để hạt giống của đức tin, mầm non của sự
sống được nảy nở trên khắp thế giới.
Cũng vậy, một gia đình mà con cái thấy
cha mẹ hy sinh nhường nhịn, siêng năng kinh nguyện, yêu
thương giúp đỡ kẻ yếu đuối khổ đau; nếu con cái
thấy cha mẹ không say sưa rượu chè, không bê bối lem
nhem, không cộc cằn nóng nảy, không đay nghiến chanh chua,
không chê bai kẻ này nói xấu người kia, nhưng biết
sống bác ái công bình, thuận hoà dấn thân, thì tâm
hồn chúng sẽ có được những tinh chất cần thiết cho
một cuộc sống lành mạnh, hy vọng mang lại nhiều ơn ích
cho Giáo hội và cho xã hội.
Nói tới gương sáng thì không thể không
nói đến gương mù gương tối. Không ` gì huỷ diệt
tâm hồn con em chúng ta cho bằng gương xấu. Một lời
nói bất nhã trong gia đình, một đam mê phim ảnh xấu xa,
một hành động ích kỷ gian dối... sẽ như những nhát
dao làm nát tan và nhạt nhoà hình ảnh Thiên Chúa trong
linh hồn các em. Và tội này nặng lắm. Chính Chúa Giêsu
đã khuyến cáo rằng, "kẻ gây nên gương mù
gương xấu thì thà nó bị treo cối đá vào cổ mà xô
xuống biển thì hơn" (Mt 18:6).
Không gương sáng nào mà thiếu hy sinh
vất vả. Nhưng vì yêu thương con cái, tha thiết với mầm
non của Giáo hội và xã hội, hãy "tự thánh hoá
mình—trong lời ăn, tiếng nói, hành vi, thái độ, việc
làm, đạo đức, nguyện cầu—để chúng cũng được
thánh hoá trong chân lý [yêu thương]" như Ðức
Giêsu đã làm gương và mời gọi chúng ta tiến bước
theo Ngài.
CHÚA NHẬT
CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG
11-06-2000
Cv
2:1-11; 1 Cr 12:3b-7,12-13; Ga 20:19-23
ÐÁNH MẤT CẢM
THỨC VỀ TỘI
Bộ Gia Ðình tại Ðức quốc có thông
báo rằng trong mùa Xuân năm 2000 này, Bộ sẽ trình
trước Hạ viện một dự luật nhằm chính thức công
nhận việc "bán thân" của các cô gái giang hồ
là một nghề làm ăn hợp pháp, và cho những người
làm nghề này được hưởng mọi phúc lợi xã hội
giống như các nghề khác.
Trong tiến trình hợp pháp hoá dự luật,
bà Christine Bergmann, Bộ trưởng Bộ Gia đình, cho biết sẽ
cố gắng hết sức mình để đề nghị Hạ viện loại bỏ
chữ "vô đạo đức" ra khỏi định nghĩa của
nghề bán dâm. Sau đó luật sẽ cho các nhà kinh doanh
mở nhà chứa và đóng thuế cho chính phủ. Ðược
biết, Ðức quốc hiện nay đã có chừng 500 ngàn cô
gái "bán thân" trên tổng số 82 triệu dân.
Một tờ báo tại Ðức nhận định rằng
mặc dầu dự luật được nhiều thành phần đảng phái
ủng hộ, nhưng chắc chắn nó sẽ gặp sức chống đối
của đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo. Ông Norbert Geis,
một thành viên của đảng này đã phát biểu: "Không
thể cải thiện nền luân lý xã hội bằng cách hợp
pháp hoá những điều vô luân lý, vô đạo đức
được. Mặt khác, tôi không nghĩ những người chủ hay
công nhân trong các ngành nghề hợp pháp căn bản của
xã hội lại bằng lòng đóng thêm tiền bảo hiểm sức
khoẻ để chữa trị cho những người nhúng tay vào cái
nghề đồi bại đó."
Mẫu tin đầu năm trên đây đáng cho
người ta suy nghĩ: xã hội nào cũng có những tệ đoan,
không nhiều thì ít; đất nước nào cũng có những
vấn nạn, không chỉ về mặt kinh tế chính trị, nhưng còn
cả khía cạnh văn hoá, tinh thần. Nhiều quốc gia phải
đương đầu với những tệ đoan xã hội như nghiện
ngập, li dị, phá thai, mãi dâm, trộm cướp, tham ô...
Tệ nạn nào cũng cần giải quyết. Nhưng chưa có thời
đại nào mà cách giải quyết lại là hợp pháp hoá
các tệ đoan—cho sự xấu một chỗ đứng trong xã hội—và
như thế mở ngỏ cho chúng được tự do lan tràn.
Tại sao lại có tình trạng băng hoại xã
hội như vậy? Phải chăng vì người ta "yêu thương"
và muốn thông cảm, chở che cho những kẻ phải bán
thân? Nhưng "yêu thương" để rồi nhận chìm con
người trong vũng bùn tội lỗi, làm cho nhân phẩm
người ta càng trở nên bọt bèo là thứ yêu thương
giả tạo và cảm thông dối gạt.
Tình trạng băng hoại xã hội xảy ra
không chỉ vì người ta nhân danh "yêu thương" và
"con người" để tìm kiếm những lợi nhuận
riêng tư, nhưng còn vì khả năng cảm thức tội lỗi
đang ngày càng xuống dốc. Người ta không còn ý thức
tội lỗi, chai lỳ trong những gì là vô lý, vô đạo,
và vô luân đến nỗi muốn bình thường hoá, nếu
không muốn nói là tục hoá tất cả.
Ðức Giáo hoàng Piô XII đã rất chí lý
khi nhận định: "Tội lớn nhất của thời đại hôm
nay là đánh mất cảm thức về tội." Người ta
không còn nhìn thấy sự xấu xa nhơ uế trong những gì
đi ngược lại với luân thường đạo lý. Ðây quả
là một loại bệnh AIDS thiêng liêng của con người
hôm nay—khả năng đề kháng với những đam mê, dục
tình, tội lỗi đã bị huỷ diệt.
Người ta muốn tìm một sự bình an trong
tội lỗi. Tưởng rằng trước những điều trái nghịch
với đường lối của Thiên Chúa, sự phê chuẩn của
một cơ quan lập pháp hay hành pháp nơi trần thế sẽ mang
lại cho họ sự bình an tâm hồn. Nhưng thực ra đó chỉ
là thứ bình an vỏ bọc. Còn sự bình an chân thật và
thẳm sâu thì chỉ có từ Thiên Chúa, thứ bình an mà
Ðức Giêsu đem đến cho các môn đệ.
Trong lần hiện ra sau khi sống lại, lời
nói đầu tiên, hay ơn phúc trước nhất của Tin mừng
Phục sinh mà Ðức Kitô trao ban cho các tông đồ lại
là "Bình an cho các con." Tính chất của sự bình
an đích thật này chỉ có được sau cuộc chiến đấu
gian nan, đón nhận khổ nạn, và toàn thắng vinh quang.
Các môn đệ không chỉ được trao ban
bình an, nhưng còn được giao phó cho một sứ mạng: ra
đi mang bình an cho thế giới. Họ được sai đi với "hành
trang" là Chúa Thánh Thần và quyền tha tội: "Các
con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần, các con tha tội cho ai,
thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì
tội người ấy bị cầm lại" (Gn 20:22-23).
Như thế, hàm trong lời chúc phúc của
Chúa Giêsu là mối tương quan đảo nghịch giữa bình an
và tội lỗi: tội có được tha, an bình mới ngự trị.
Và tiến trình "tha thứ tội lỗi, đón nhận bình
an" này diễn ra dưới tác động của Chúa Thánh
Thần. Tất nhiên, chỉ ở đâu có sám hối, nơi đó
mới có ơn thứ tha. Nhưng làm sao có sám hối nếu như
cảm thức về tội đã bị triệt tiêu. Cho nên khi
người ta bóp chết tiếng nói của lương tâm, tô màu
bôi mật cho những vấn đề vô luân, vô đạo, dâm
bôn, ô uế là người ta đang tâm chống lại chính
Thánh Thần Thiên Chúa.
Mừng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống,
khai sinh nên Giáo hội—Thân mình mầu nhiệm của Ðức
Kitô—không thể không nhớ đến lời nhắc bảo của
Thánh Phaolô: "Thân mình anh em là chi thể của Ðức
Kitô (1 Cor 6:15) và là đền thờ của Chúa Thánh Thần"
(1 Cor 6: 19). Như vậy thử hỏi: tôi phải có thái độ
và lối cư xử thế nào đối với chi thể của Ðức
Kitô và đền thờ của Chúa Thánh Thần? Làm cho nó ô
uế và bất an? Hay biến nó thành chi thể của một cô
gái giang hồ?
"Ðừng nói gở," Thánh Phaolô
răn đe, "Anh em không biết sao, dan díu với điếm
tức là nên một thân mình với nó. Vì cả hai,
Kinh Thánh nói, sẽ nên một thân xác. Còn kẻ
kết hợp với Chúa, thì nên một Thần khí với Ngài.
Vậy anh em hãy tránh tà dâm! Phàm mọi tội người ta
phạm, đều là ở ngoài thân xác; còn kẻ tà dâm thì
có tội phạm đến thân xác mình" (1 Cor 6:16-18).
"Kẻ kết hợp với Chúa trong một
Thần khí" chính là những ai luôn biết tìm đến
với Ðức Kitô trong các bí tích, đặc biệt là bí tích
Thánh Thể và Giải tội. Chính nơi đây "chân lý
sẽ giải thoát con người" và "bình an sẽ ở
với kẻ thiện tâm."
Cuối cùng, xin được dâng lên một lời
nguyện:
"Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài ngự đến, canh
tân đổi mới đời sống chúng con; tăng sức linh hồn,
bồi thêm lửa mến, soi sáng trí khôn, hiệp nhất muôn
lòng. Hãy đến, Thánh Linh từ ái, đổ tuôn muôn ơn,
phù giúp chúng con. Xin thương, soi dẫn nhân tâm, nương
theo Thần trí, bước trong bình an." (Thánh ca "Lạy
Chúa Thánh Thần" của Thành Tâm).