VIỆT NAM GIÁO SỬ Lm Phan Phát Huồn, CSsR PHẦN THỨ TƯ NHỮNG NĂM KIẾN THIẾT (1888-1933) CHƯƠNG BA MƯƠI
Công cuộc truyền giáo tại Việt Nam từ 1888 đến 1933 Trong giai đoạn này một biến cố quan trọng đã đến với Hội Thánh Việt Nam sau 300 năm bị bắt bớ cấm cách. Giáo Hội đã phong 64 anh hùng tử đạo Việt Nam lên bậc Chân Phước: Ngày 27-5-1900 Giáo Hoàng Leo XIII tại Vương Cung Thánh Ðường Thánh Phêrô đã long trọng tuyên dương trước thế giới đức tin can cường của 64 vị anh hùng đã chết vì đạo tại Việt Nam. Những vị mà trước đây các vua chúa Việt Nam đã đánh đập, xiềng xích, chém giết như một con thú thì nay cả thế giới ngưỡng mộ và kính tôn. Khắp nơi trên toàn cõi Việt Nam, giáo dân mở tuần tam nhật, đại lễ, rước kiệu hài cốt của các thánh tử đạo, nhất là ở quê hương các đấng như Bắc Ninh, Ngọc Ðồng, Tiên Chu, Ninh Cường, Phú Nhai, Trà Lũ, Kẻ Báng, Kẻ Sở, Vĩnh Trị, Quảng Trị, Kim Long, Thợ Ðúc, Phủ Cam, Qui Nhơn, Bình Ðịnh, Cái Nhum, Cái Mơn .v.v...
I. Các Tu Sĩ Dòng Ða minh Espanha Cuối thế kỷ XIX, vì chiến tranh và các cuộc bắt bớ Công giáo xảy ra liên tiếp nên công việc truyền giáo của các cha dòng Ða Minh Espanha tại Ðàng Ngoài phải tạm thời gián đoạn. Lúc Văn Thân đứng lên giết hại hàng nghìn người giáo dân ở miền Trung thì ở Bắc, ảnh hưởng của Văn Thân cũng không phải là không có. Từ khi lực lượng của quân viễn chinh Pháp định bành trướng ở Lạng Sơn bị thất bại thì thanh thế của Văn Thân ở Bắc rất mạnh. Có nhiều làng Công giáo bị thiêu hủy và triệt hạ. Tuy nhiên lúc bấy giờ vì sợ quyền hành của người Pháp, các vị truyền giáo, nhất là các Giám mục Espanha cũng được kính nể ít nhiều. Các vị này được đặt tại các nơi thuận tiện để họ có thể giúp đỡ giáo dân. Và các vị này thật lòng giúp đỡ để hòa bình chóng vãn hồi tại các trung tâm truyền giáo và trong toàn cõi Việt Nam. Trong thời kỳ rối loạn, nhiều giáo xứ trong đó có xứ Bàm đã anh dũng chống lại giặc Tàu Ô. Sau khi được bình an, Ðức cha Colomer và cha chính Isidro Foronda làm lễ tạ ơn tại xứ này. Làng Nha Long dưới chân núi tỉnh Thái Nguyên đã mạnh mẽ chống lại nhiều cuộc tấn công của giặc Tàu Ô. Các làng thuộc giáo phận Trung và giáo phận Ðông Ðàng Ngoài nhận thấy không thể nào nhờ ở sự che chở của chính phủ nên đã tự động tổ chức bảo vệ, và thành công tốt đẹp. Năm 1884, giáo phận Ðông mất cha Luca Miguel, năm 1885 giáo phận Bắc mất cha Isidro Foronda, cũng trong năm ấy, các giáo phận lại dược đặc ân đón tiếp 4 vị thừa sai trẻ trung: Các cha Bonifacio Garcia, Grégorio Carbajo, Mariano Nébred và Manuel Pérez. Trong lá thư ngày 29-4-1886 Barquero cho biết tướng Munier với một số tầu chiến và 2.000 quân đã bình định xong tỉnh Nam Ðịnh. Tỉnh này lúc bấy giờ bao gồm một phần lớn tỉnh Thái Bình bây giờ. Như vậy từ năm 1887 trật tự và hòa bình hầu như đã vãn hồi trên toàn cõi Bắc Việt. Tuy nhiên các đảng trộm cướp chỉ được hoàn toàn dẹp đi trong một vài năm sau. Kể ra các đảng ấy sinh phiền không ít đối với các làng mạc miền Bắc. Nhờ sự can thiệp của các nhà truyền giáo Espanha và các cha tuyên úy quân đội viễn chinh, các làng mạc ấy được tiếp tế mọi phương tiện để đối phó với các đảng đối lập. Về Ðức Giám mục Colomer, cha Ocio, phụ trách ký sự của giáo phận Manila đã có chép trong một đoạn riêng biệt về thân thế và sự nghiệp của người như sau: "Dưới triều Tự Ðức và sau khi Tự Ðức mất, giặc giã nổi lên quấy rối ở Bắc. Chính phủ Việt cũng như Pháp rất lúng túng trước sự phá phách của quân Tàu Ô và không làm sao có thể dẹp chúng một cách mau chóng và ổn thỏa được. Do đó chính phủ đã nhờ Giám mục Colomer làm trung gian để giàn xếp. Vụ điển hình nhất là Kẻ Nê. Lúc 2.000 quân giặc vây làng, lực lượng của Pháp dù đông đến đâu cũng không thể giải vây được. Ðức cha Colomer dám gửi một sứ giả cầm thư ông đến viên chỉ huy bọn giặc, đại khái yêu cầu rút lui đi và hứa sẽ giàn xếp vụ này với hai chính phủ Việt, Pháp. Viên chỉ huy chấp thuận lời đề nghị của Ðức cha". Thật ra từ năm 1887 đến 1889, trong một thời gian vắn, Ðức cha Colomer đã cộng tác với chính quyền đương thời để đem lại hòa bình cho xứ sở. Ðể tỏ lòng biết ơn Ðức cha, chính phủ Pháp đã trao tặng ông Bắc Ðẩu Bội Tinh, còn chính phủ Việt Nam dưới triều Tự Ðức và Ðồng Khánh đã tuyên dương công trạng ông đến bốn lần. Kết quả tốt đẹp nhất là ông đã gây được ảnh hưởng lớn lao trong dân chúng. Trong thời kỳ này có một số người xin theo học đạo và chịu phép rửa tội vì họ không còn gặp sự cấm đạo như các thời trước nữa. Việc tòng giáo trở nên một phong trào mạnh mẽ vào năm 1887, năm mà bệnh dịch đang gây tai họa tại Bắc Việt. Trong thời kỳ này, Hội Dục Anh, còn gọi là Hội Các Thánh Anh Hài được thiết lập để cứu vớt những em nhỏ sơ sinh, bằng cách lo liệu cho các em được chịu phép rửa tội. Theo những hồ sơ của các thừa sai để lại thì số các tân tòng có thể tăng thêm nhiều nhưng phần vì ảnh hưởng không tốt của quân đội Pháp đồn trú tại Hải Phòng, phần vì một số nhà cầm quyền địa phương tỏ ra chống đối các thừa sai, và họ công khai tuyên bố đạo Công giáo đã đem quân đội Pháp đến đặt quyền đô hộ trên đất nước chúng ta. Tuy vậy, nhờ sự nhiệt thành và hy sinh của các thừa sai, dân chúng vẫn nô nức xin chịu phép rửa tội. Năm 1884, sau khi quân Pháp chiếm đóng Bắc Ninh, các thừa sai đã gầy dựng được một giáo xứ trung bình, có cả nhà thờ lẫn nhà xứ, qua hai năm sau đã có hơn 300 bổn đạo và thêm nhiều họ đạo chung quanh. Có thể nói được, theo đà này, các nơi đây bành trướng mạnh, bất kể khu vực của các thừa sai Pháp hay Espanha. Phong trào trở lại đạo Công giáo bành trướng quá mạnh nên số thừa sai rất thiếu hụt, không đủ để đáp ứng cho các nơi. Vì thế Tỉnh Dòng Văn Côi Manila đã gửi tới Bắc Việt nhiều linh mục vào năm 1887 (1). Tất cả các giáo sĩ này đều thuộc tu viện Ocana. Các cha làm việc rất lâu năm tại giáo phận dòng ở Bắc Việt, có cha đã truyền giáo trong 40 năm liền. Tiếp theo những năm sau dòng đã gửi thêm 11 thừa sai Espanha (2). Những năm sau tỉnh dòng Ða Minh không gửi thêm một vị thừa sai nào đến Bắc Việt và như vậy lịch sử truyền giáo của các cha dòng Ða Minh bước sang giai đoạn mới của thế kỷ XX. Hình thức đời sống xã hội đã bắt đầu thay đổi và chuyển hướng. Cha Juan Viade trong một bài báo (3) nói về Hội Dục Anh và liên quan đến việc tăng dân số ở Bắc Kỳ đã viết: "Ở Tây phương có một thứ bệnh, theo chứng minh của các bác sĩ, đã cướp đi mất nhiều sinh mạng, đó là bệnh hoa liễu. Ai dám nói rằng ở Bắc Kỳ không có bệnh này? Thực ra bệnh này xuất hiện ở xứ sở này từ khi quân đội viễn chinh Pháp đặt chân lên đất nước Việt Nam. Ở Bắc Kỳ có những nơi buôn bán dâm một cách công khai nhưng cho đến nay vẫn chưa có sắc luật nào để hợp thức hóa tình trạng bất hợp pháp của các điếm này. Các sĩ quan Việt và Pháp có triệt phá một vài cơ sở, vì thế nạn mãi dâm rút lui và hình thức lén lút, như vậy có thể coi là pháp luật không thừa nhận những cơ sở mãi dâm trên. Trên thực tế vấn đề này còn nhiều phức tạp. Vì gái mãi dâm hành nghề lén lút nên các bác sĩ không kiểm soát được họ, và do đó bệnh hoa liễu có thể được truyền đi một cách dễ dàng. Quân viễn chinh Pháp đến Việt Nam không hề mang gia đình theo, không hề thấy bóng dáng phụ nữ Pháp trên đất Việt, vả lại nếu người Việt về mặt luật pháp được cưới nhiều vợ thì cũng chính người này lấy làm tủi nhục nếu phải kết bạn với một người ngoại bang. Vì những lý do này nên rất khó tránh nạn mãi dâm trong thời kỳ này. Do đó lập Hội Dục Anh, để thâu lượm những trẻ bị bỏ rơi ở đầu đường xó chợ là một việc rất cần thiết. Hồi ấy ngoài Bắc còn gọi hội này là Hội Hài Nhi" (4). Từ năm 1888 hòa bình được tái lập trên toàn cõi Việt Nam, chỉ trừ một vài nơi như Bắc Ninh, Hưng Yên là những nơi đồn trú cuối cùng của những đảng phái chống đối chính phủ. Bảo vệ nền độc lập là phận sự của mỗi người công dân, nhưng vịn vào lý do bảo vệ độc lập để đàn áp người Công giáo, dùng vũ lực để bắt họ xuất giáo, mà nếu họ không tuân lệnh thì đốt phá nhà cửa và thủ tiêu sinh mạng là một hành động dã man mà lịch sử không thể nào bỏ qua được. Sự kiện này đã xẩy đến cho họ đạo Nội Bài: Họ đạo bị phá bình địa vì người trong họ không chịu xuất giáo. Nhưng các đảng phái và lực lượng quân sự đối lập không thể nào chống chọi lâu dài với chính quyền. Ðến năm 1893 chỉ còn lực lượng khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám là có thể cầm cự với lực lượng của chính phủ bảo hộ. Cùng một chủ trương như Phan Ðình Phùng (5) và Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ Tĩnh, Ðề Thám không đụng đến Công giáo, ông không dồn giáo dân vào thế phải chống lại Cần Vương, trái lại Ðề Thám bí mật liên lạc với một số giáo sĩ Espanha. Bản thân Ðề Thám thường đến thăm các xóm đạo hẻo lánh trong vùng. Các giáo sĩ Espanha khôn khéo có thái độ trung lập, không dại gì hợp tác với Pháp để có thể bị tiêu diệt dễ dàng, hơn nữa các giáo sĩ Espanha lúc ấy đang bị nhà cầm quyền Pháp công khai gây khó dễ, âm mưu với một số thừa sai Pháp chặn đứng ảnh hưởng của giáo sĩ Espanha đang lên. Người mà Ðề Thám vẫn bí mật liên lạc là giáo sĩ Velasco, giáo phận Bắc Ninh. Ðề Thám dành cho các giáo sĩ Espanha "mọi sự dễ dàng" truyền đạo trong khắp vùng Bắc Giang, Bắc Ninh. Giám mục Colomer Lễ, cai quản địa phận Bắc Ninh (1883-1902) viết: "Trước năm 1884, trong tỉnh Bắc Ninh này chỉ có một gia đình Công giáo bây giờ đã được 300 giáo dân. Tôi đã mở 10 trường dạy kinh Bổn ở xung quanh tỉnh lỵ và nhiều trường khác ở vùng xa xôi trong giáo phận" (6). Giáo phận của giám mục Lễ nằm gọn trong vùng hoạt động của Ðề Thám, nên Công sứ Bắc Ninh Muselier tìm mọi cách cản trở và gây khó khăn cho các giáo sĩ Espanha trong việc truyền đạo, kể cả tỏ ra thù nghịch với giám mục cai quản giáo phận và các giáo sĩ Espanha. Nhờ sự che chở của nghĩa quân, giáo sĩ Ða Minh giáo phận Bắc Ninh được đi lại tự do khắp vùng Yên Thế. Thực dân kỳ thị ra mặt đối với giáo sĩ Espanha (7). Thực dân Pháp công khai bộc lộ "đuổi những người đó về Manila và thương thuyết với Rôma thay thế bằng các nhà truyền giáo Pháp trung thành với quyền lợi của chúng ta". Thực dân khinh miệt so sánh: "Tại Bắc Kỳ, người ta thấy đi theo sau một linh mục Espanha là một đám rách rưới, dơ bẩn kinh khủng, cho thấy thầy trò họ lười biếng ra sao. Tại Nam Kỳ, ở mỗi nơi cha cố nói chung và ở trường trung học Adran nói riêng, người ta thấy số học trò cần mẫn, sạch sẽ, ăn mặc đàng hoàng". Qua trung gian giáo sĩ Velasco, Ðề Thám trá hàng về hợp tác với Pháp, vị giáo sĩ này là bạn thân của ông và rất được ông và nghĩa quân tín cẩn nhưng Công Sứ Pháp Muselier nhiều lần tìm cách xin trục xuất ông khỏi Bắc Ninh. Muselier công khai thù nghịch giáo phận Công giáo Bắc Ninh vì trước kia các thừa sai Espanha đã bí mật tìm cách ngăn giáo dân làm phu vác đạn và vận chuyển quân nhu quân cụ cho Pháp và Lê Hoan (8). Biết giáo sĩ Velasco thân với Ðề Thám, người mà Muselier mạt sát đã cung cấp thuốc men cho "phiến loạn", Toàn Quyền F. Rodier nhờ Velasco đứng ra điều đình với Ðề Thám. Cuối cùng, không diệt được Yên Thế, Pháp phải chấp thuận các điều kiện về hợp tác của Ðề Thám như phải triệt thoái tất cả các đồn đóng trong phạm vi Yên Thế, nhường quyền cai trị bốn Tổng cho Ðề Thám: Nhã Nam. Mục Sơn, Yên Lê, và Hữu Thượng, nghĩa quân được quyền thu thuế ba năm trong bốn Tổng. Cuộc trá hàng để tổ chức và phát triển lực lượng với ý đồ tung ra khắp Bắc Kỳ lại bị tan vỡ khi Pháp tấn công Yên Thế với một lực lượng hùng hậu. Qua năm 1896 Pháp vẫn không thành công đành nhờ giáo sĩ Velasco đứng làm môi giới điều đình lần nữa. Cuộc hợp tác bắt đầu từ thượng tuần tháng 12-1897 và Yên Thế trở thành niềm kỳ vọng của cả nước sau khi các phong trào kháng chiến nối tiếp nhau tan rã. Nhiều sĩ phu đã đến Yên Thế như Kỳ Ðồng, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu. Ðầu năm 1905, trong vùng Yên Thế đã thấy xuất hiện một, hai ngôi nhà thờ dựng gỗ lợp lá, số giáo dân tân tòng là dân từ Hải Dương và Thái Bình. Sau cuộc gặp gỡ Phan Bội Châu, Ðề Thám thay đổi chiến lược, vượt ra khỏi phạm vi địa phương mà đưa cuộc đấu tranh lên bình diện quốc gia. Ông chủ trương thân thiện với Công giáo, không đẩy tập thể này vào thế chân tường phải chống đối. Ði xa hơn, cư dân trong vùng Yên Thế lại được tự do theo đạo để tìm sự che chở của các giáo sĩ thừa sai Ða Minh. Jean Chesneaux cho rằng, "Phong trào Cần Vương không thành công vì Công giáo làm cho Pháp không bị cô lập" (9). Isoart thì cho rằng, "Pháp đàn áp được cuộc khởi nghĩa của Văn Thân là do Công giáo cung cấp tin tức" (10). Rõ rệt là có như vậy nhưng chỉ giới hạn rất cục bộ ở một vài địa phương qua một số giáo sĩ vô ý thức như thừa sai Auger ở Qui Nhơn hay thừa sai Tortuyaux ở Ðồng Hới, Quảng Bình và một vài giáo sĩ Pháp trong vùng Nho Quan, Ðiền Hộ. Từ năm 1906, Ðề Thám hướng về Hà Nội và tập thể binh lính Việt Nam trong binh đoàn Pháp. Thượng du cho đến lúc bấy giờ vẫn chưa chinh phục được mà chỉ mới trên danh nghĩa chiếm đóng. Tháng 5, 1908 Ðề Thám mới quyết định hành động vì "thấy thế lực của Nghĩa Ðảng đã lớn, những chỗ hiểm yếu ở miền Xuôi đã có người của Nghĩa Ðảng. Sau khi hội họp các thủ lãnh, Ðề Thám cho rằng có thể khởi sự được rồi" (11). Cuộc binh biến bùng nổ vào ngày 27-6-1908, lúc 20 giờ, thuốc độc được thả vào các nồi xúp theo như kế hoạch đã định. Kết quả 126 lính Pháp bị trúng độc nằm bất tỉnh. "Cai Trường bị bắt giam, ra tòa sau bị xử án lưu đầy biệt xứ. Ông Trường sau khi tham dự vào vụ đầu độc, ông sợ phạm vào tội giết người nên đến nhà thờ Chính Tòa Hà Nội xưng tội với thừa sai Ân rồi ông này báo cho Pháp biết" (12). Cuộc đánh chiếm Hà Nội năm 1908 theo người ngoại quốc không thành công vì tổ chức kém và lãnh đạo tồi nhưng cũng đã làm cho thực dân điêu đứng ở Bắc Kỳ (13). Ðức cha Velasco đã hai lần làm môi giới hòa giải giữa Ðề Thám và chính quyền hồi ấy, nhưng ông thất bại. Không thắng được bằng vũ lực, quân Pháp bèn mua chuộc thủ hạ của Ðề Thám. Ông bị bội phản và bị hạ sát năm 1913 (14). Chú Thích:
14. Lê Thành Khôi: Le Vietnam, trg. 384. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |