FATIMA: HAI TÂN CHÂN PHƯỚC BÍ MẬT THỨ BA ÐƯỢC CÔNG BỐ Hùng Linh
Vào chiều thứ Sáu 12.05.2000, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã bay đến Bồ Ðào Nha, thực hiện chuyến công du lần thứ 92 (ngoài nước Ý) của ngài. Mục đích của cuộc du hành mà chỉ kéo dài có 23 tiếng đồng hồ này là để phong Chân phước cho hai bậc Ðáng Kính Phanxicô Martô và Giaxinta Martô, hai trong số ba trẻ mục đồng đã được Ðức Mẹ hiện ra tại Fatima vào năm 1917. Sau khi đến Phi trường Thủ đô Lisbon và được Tổng thống Jorge Sampaio cũng như Thủ tướng Antonio Gutteres đón tiếp trong một buổi lễ ngắn gọn nhưng không kém phần long trọng, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã dùng trực thăng bay trong 40 phút tới Fatima, cách thủ đô Lisbon 87 dặm về phía bắc. Tại đây có đến cả 100.000 người hiện diện hoan hô chào đón Ðức Thánh Cha khi ngài đến Ðền thờ và quì cầu nguyện trước tượng Ðức Mẹ Fatima. Và bằng một hành động bất ngờ, Ðức Thánh Cha đã tháo chiếc nhẫn vàng ra và để lại Ðền thờ. Ðây là chiếc nhẫn Cố Hồng y Stefan Wyszinski của Tổng Giáo phận Thủ đô Varsovie (Ba Lan) tặng Ðức Thánh Cha sau khi ngài được bầu làm giáo hoàng năm 1978. Qua sáng thứ Bảy 13.05.2000, trước sự hiện diện của khoảng 600.000 người đổ về từ khắp nơi trên thế giới, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong chân phước cho hai người trẻ tuổi nhất trong Giáo Hội từ trước đến giờ mà không phải là tử đạo. Ðó là hai anh em Phanxicô Martô, qua đời lúc 11 tuổi, và Giaxinta Martô khi lên 10 tuổi. Trước khi bắt đầu Thánh Lễ, Ðức Thánh Cha đã đến cầu nguyện tại mồ của hai vị thụ khải trong Ðền. Ngài cũng đã gặp riêng với vị thụ khải thứ ba đến dự lễ phong Chân phước cho hai người em họ của mình. Ðó là nữ tu Luxia dos Santos, 93 tuổi, thuộc Dòng Kín Cát Minh. Hai Vị Chân Phước Trẻ Tuổi Phanxicô Martô và Giaxinta Martô là con của ông Manuel Pedro Martô và bà Olimpia de Jesus dos Santos ở làng Aljustrel, giáo xứ Fatima (Bồ Ðào Nha). Phanxicô sinh ngày 11.06.1908 và Giaxinta sinh ngày 11.03.1910. Cha mẹ của Phanxicô và Giaxinta là những người nông dân nghèo nhưng rất đạo đức, vì thế Phanxicô và nhất là Giaxinta không có điều kiện học hỏi nhiều. Tuy nhiên, về mặt đạo hạnh, hai trẻ được sự chăm sóc kỹ lưỡng của gia đình, nhất là được người dì ruột Maria Rosa dos Santos sự dạy dỗ về giáo lý. Mặc dầu Phanxicô và Giaxinta giống nhau về khuôn mặt nhưng lại khác nhau về cá tính. Phanxicô có vẻ tư lự, dè dặt, tốt lành, dễ dãi, và luôn sẵn sàng nhượng bộ để tránh xích mích. Còn Giaxinta trái lại, rất linh hoạt, nhạy cảm nhưng cũng rất tự ái, hay nổi nóng và khá ích kỷ. Nhưng nói chung cả hai trẻ đều ngoan, chịu khó đọc kinh, và biết vâng lời bố mẹ. Dẫu còn nhỏ, cả hai đều phải đi chăn cừu ngoài đồng và thường đi cùng với chị họ cũng gần trạc tuổi với họ là Luxia de Jesus dos Santos. Một khi ra đồng, cả ba người vừa để mắt trông đàn cừu vừa chơi giỡn, nhưng cũng không quên lần chuỗi Mân côi tuy nhiều khi có hơi "ăn gian" bằng cách đọc nhanh và đọc rút ngắn để có thêm giờ chơi. Nhưng mọi sự biến đổi khi thiên thần đã hiện ra ba lần cho cả ba người tại đồi Cacebo gần làng Fatima vào năm 1916, thúc giục các trẻ hãy siêng năng cầu nguyện và làm việc đền tội cá nhân cũng như nhằm hoán cải người tội lỗi trở về với Chúa. Từ đó trở đi, Phanxicô và Giaxinta cố thi hành những điều thiên thần chỉ dạy. Giaxinta đã thay đổi để trở thành gương mẫu của sự khiêm nhường, hãm mình và đại lượng. Riêng Phanxicô sau khi được thiên thần hiện ra thì càng trở nên trầm lặng hơn và tăng gia sự cầu nguyện cũng như các việc làm đạo đức và hy sinh để cầu cho những người không tin hay không yêu Chúa. Nhất là Phanxicô cảm thấy khao khát được rước Mình Thánh Chúa, điều mà Phanxicô chỉ được phép ngay trước khi chết. Những cuộc hiện ra của thiên thần chỉ là bước mở đường cho nhiều 6 lần hiện ra của Ðức Trinh Nữ Maria cho ba trẻ Luxia, Phanxicô và Giaxinta trong thời gian từ ngày 13.05 đến 13.10 năm 1917tại một địa điểm gọi là Cova da Iria, gần Fatima. Ðức Mẹ yêu cầu ba trẻ cầu nguyện và hy sinh để đền bù cho những tội lỗi con người xúc phạm đến Thiên Chúa và Khiết Tâm Mẹ, cũng như để cầu cho người tội lỗi ăn năn hoán cải. Theo lời chỉ bảo của Mẹ Maria, các em đã cố gắng hãm mình, tránh xa các dịp tội và cầu nguyện liên lỉ để đáp lại tình yêu bao la của Thiên Chúa và nhằm mưu ích cho các linh hồn. Các em cũng cầu nguyện cho Ðức Thánh Cha, cho Hội Thánh, cho hoà bình thế giới. Ðúng như lời Mẹ Maria báo trước, hai trẻ Phanxicô và Giaxinta đã được Thiên Chúa sớm gọi về hưởng phần phúc thiên đàng. Kể từ tháng 09.1918, cả hai bị cúm và kẻ trước người sau lần lượt về với Chúa. Phanxicô qua đời ngày 04.04.1919, còn Giaxinta từ giã cõi đời vào ngày 20.02.1920. Trong thời gian bạo bệnh, cả hai trẻ đều dâng lên những đau khổ, đớn đau lên cho Chúa và Mẹ Maria. Hương thơm thánh thiện của hai trẻ Phanxicô và Giaxinta lúc còn sống tiếp tục lan toả ngay cả sau khi qua đời. Nhiều tín hữu đã cậy nhờ lời cầu bàu của hai trẻ mà được nhiều ơn phần hồn cũng như phần xác. Tiến trình điều tra phong chân phước được chính thức bắt đầu ở cấp Giáo phận (Leiria-Fatima) vào năm 1952 với lời chứng quan trọng nhất của Sơ Luxia, một trong ba trẻ mục đồng ngày xưa. Ngày 13.05.1989, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chấp thuận ban hành sắc lệnh ghi nhận các nhân đức anh hùng của hai trẻ Phanxicô và Giaxinta. Ngày 28.06.1999, Ðức Gioan Phaolô II công nhận một phép lạ đã được diễn ra nhờ lời cầu bàu của Phanxicô và Giaxinta Martô. Ðó là trường hợp của một phụ nữ người Bồ Ðào Nha được chữa lành khỏi bệnh bại liệt vào năm 1989 sau 22 năm cầu nguyện với hai trẻ mục đồng Phanxicô và Giaxinta. Và ngày 13.05.2000 được chọn là ngày tôn phong lên bậc Chân phước của hai vị Ðáng kính này. Bí Mật Thứ Ba Ðược Công Bố Khi nói về sứ điệp Fatima người ta liên tưởng ngay đến ba điều này: Cải thiện đời sống - Siêng năng lần chuỗi Mân Côi và Tôn sùng Khiết Tâm Mẹ Maria. Ðây là những mệnh lệnh mà qua ba trẻ Fatima, Ðức Mẹ yêu cầu mọi người khắp nơi hãy thực hành. Tuy nhiên còn có ba điều khác hay được gọi là "Bí mật Fatima" được Ðức Mẹ tiết lộ trong lần hiện ra ngày 13.07.1917. Ðến năm 1935, theo lời yêu cầu của các bề trên trong dòng, Sơ Luxia, một ba thụ khải Fatima, bắt đầu ghi xuống những điều Ðức Mẹ đã tiết lộ. Theo chính lời của Sơ Luxia, thật ra chỉ có một "bí mật" mà thôi nhưng gồm 3 phần riêng biệt trong đó 2 phần đầu đã được công bố. Phần đầu là thị kiến hoả ngục khủng khiếp Mẹ Maria cho ba trẻ được thấy. Phần hai là Mẹ Maria báo trước (những 22 năm) về hiểm hoạ Ðệ II Thế chiến nếu loài người vẫn còn sống trong đường tội lỗi xúc phạm đến Thiên Chúa; do đó thế giới cần phải ăn năn và tăng lòng sùng kính Khiết Tâm Mẹ cũng như tận hiến nước Nga cho Mẹ. Phần ba được Sơ Luxia viết ra vào năm 1943. Sau đó, chị bỏ vào trong một phong bì niêm kỹ gửi đến giám mục địa phương Leiria-Fatima và sau đó được chuyển về Toà Thánh nhưng Ðức Thánh Cha Piô XII không mở ra đọc và cho lệnh cất trong bảo khố Vatican. Do đó, thật sự cho đến nay chỉ có một vài người đọc mà thôi. Ðó là Ðức Thánh Cha Gioan XXIII (mở lá thư lần đầu tiên năm 1960) và thư ký của ngài là Cha Capovilla, Ðức Hồng y Ottaviani nguyên là Tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lý thời Ðức Gioan XXIII, một linh mục người Bồ Ðào Nha dịch nội dung lá thư ra tiếng Ý cho Ðức Gioan XXIII, Ðức Thánh Cha Phaolô VI, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Ðức Hồng y Tổng trưởng Thánh bộ Tín lý hiện nay Giuse Ratzinger. Do nội dung phần ba của bí mật Fatima không được công bố, trong mấy thập kỷ qua có rất nhiều người đồn đại về nó mà phần lớn cho rằng có liên quan đến điềm báo ngày tận thế. Tuy nhiên, Toà Thánh đã mấy lần phủ nhận điều này. Trong một cuộc phỏng vấn với một đài truyền thanh Công Giáo tại Bồ Ðào Nha năm 1996, Ðức Hồng y Giuse Ratzinger nói rằng: "Ðối với những ai tò mò, tôi muốn nói rằng Ðức Mẹ không xen vào những chuyện ‘giật gân’. Mẹ không gây ra sợ hãi. Mẹ không đưa ra thị kiến tận thế, nhưng hướng dẫn người ta trở lại với Ðức Giêsu, con Mẹ". Vào tháng 11 năm 1997, Ðức Hồng y Giuse Ratzinger và Ðức Tổng Giám mục Capovilla (nguyên thư ký Ðức Gioan XXIII) đã phản bác nhận định của Cha René Laurentin, một nhà Thánh mẫu học nổi tiếng thế giới, và của ký giả Victor Messori khi hai người này cho rằng bí mật Fatima thứ ba liên quan đến việc Ðức Mẹ tiên báo về sự chống đối giáo huấn của Giáo Hội nơi một số con cái và dẫn đến sự chia rẽ. Chính vì thế, vào năm 1960 sau khi đọc lá thư của Sơ Luxia, Ðức Gioan XXIII không muốn công bố vì sợ tạo thêm ngăn cách mặc dầu Sơ nói rằng lời tiết lộ có thể được công bố vào năm này. Sự im lặng của Toà Thánh trong một thời gian dài đã gây thêm hoang mang cho nhiều người đến nỗi vào năm 1981 có một cựu linh mục Công giáo tên là Laurence J. Downey đã cướp một chiếc phi cơ đang bay từ thủ đô Dublin của Ái Nhĩ Lan đến thủ đô Luân Ðôn của Anh với lời hăm doạ sẽ cho nổ phi cơ nếu Toà Thánh không chịu tiết lộ phần ba của bí mật Fatima. Cũng may là ông ta không có chất nổ thật và do đó đã bị bắt. Và vì thế, vào sáng ngày 13.05.2000, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tạo ngạc nhiên bất ngờ cho những người dự lễ phong Chân phước hai trẻ Phanxicô và Giaxinta cũng như mọi người trên thế giới khi ngài cho công bố phần ba của bí mật Fatima. Sau khi Ðức Thánh Cha ban phép lành kết thúc Thánh Lễ ở Fatima, Bồ Ðào Nha, Ðức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Toà Thánh Angelo Sodano đã đọc một bài bằng tiếng Bồ Ðào Nha có liên quan đến bí mật Fatima thứ ba. Bản văn từ đầu đến cuối như sau:
"Anh Chị Em thân mến trong Chúa Kitô, Vào lúc kết thúc cuộc cử hành long trọng này, tôi cảm thấy buộc phải thay mặt cho tất cả mọi người hiện diện nơi đây để dâng lên Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II dấu yêu của chúng ta những lời chúc mừng tốt đẹp tận đáy lòng hướng về ngày sinh nhật 80 tuổi sắp đến của ngài, cũng như để cám ơn ngài về sứ vụ chăn dắt quan trọng của ngài cho lợi ích của toàn thể Hội Thánh Chúa. "Trong dịp trọng đại ngài đến Fatima này, Ðức Thánh Cha đã chỉ thị cho tôi công bố cho anh chị em rõ. Như anh chị em đã biết, mục đích của việc ngài viếng thăm Fatima là để phong chân phước cho hai ‘mục đồng nhỏ’. Tuy nhiên, ngài cũng muốn cuộc hành hương của ngài đây là một cử chỉ lập lại lòng tri ân cảm tạ của ngài đối với Ðức Mẹ về việc Mẹ đã phù trì giáo triều của ngài trong những năm qua. Việc phù trì này của Mẹ dường như được dính liền với của điều gọi là ‘phần thứ ba’ của bí mật Fatima. "Bản văn này chất chứa một thị kiến tiên tri tương tự như những thị kiến trong Thánh Kinh. Những thị kiến ấy không diễn tả chi tiết các biến cố tương lai bằng hình ảnh rõ ràng, mà là tổng hợp và tóm gọn các biến cố có cùng một bối cảnh, những biến cố trải rộng qua một thời gian liên tục và kéo dài không được xác định. Bởi thế, bản văn ấy cần phải được giải thích bằng một mấu chốt biểu tượng. "Thị kiến Fatima này trước hết liên quan đến cuộc chiến gây ra bởi chế độ vô thần chống lại Giáo Hội cũng như thành phần Kitô hữu. Thị kiến cũng diễn tả cho thấy cuộc khổ đau khôn xiết của các chứng nhân đức tin trong thế kỷ cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai. Ðó là một Con Ðường Thập Giá gian nan khốn khó mà các Vị Giáo Hoàng của thế kỷ 20 phải trải qua. "Theo sự giải thích của ‘các mục đồng nhỏ’ và mới đây cũng đã được Nữ Tu Lucia xác nhận, thì vị ‘giám mục mặc áo trắng’, vị đang cầu nguyện cho tất cả mọi tín hữu là Ðức Giáo Hoàng. Khi ngài đang tìm hết cách tiến đến Cây Thập Giá ở giữa các thi thể của những vị tử đạo (là các vị giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và nhiều giáo dân), thì ngài cũng bị ngã xuống đất như chết trước một phát súng nổ. "Sau cuộc mưu sát ngày 13.05.1981, Ðức Thánh Cha đã thấy rõ là chính ‘bàn tay từ mẫu đã điều khiển lằn đạn’, làm cho ‘Vị Giáo Hoàng đang hấp hối’ dừng bước ‘trước ngưỡng cửa tử thần’. (Suy niệm của Ðức Gioan Phaolô II với các Giám mục Ý, Policlinico Gemelli, Insegnamenti, vol XVII/1, 1994, p. 1061). Trong dịp vị giám mục cai quản giáo phận Leiria-Fatima vào lúc ấy viếng thăm Rôma, Ðức Giáo Hoàng đã quyết định đưa cho vị này viên đạn còn ở chiếc xe díp sau cuộc mưu sát, để vị ấy mang về giữ ở Ðền Thánh. Theo ý của vị giám mục này, viên đạn ấy sau đó được đặt ở triều thiên của tượng Mẹ Fatima. "Những biến cố liên tục trong năm 1989, cả ở Liên Bang Sô Viết cũng như ở một số quốc gia Ðông Âu, đã dẫn đến việc sụp đổ của chế độ Cộng Sản, một chế độ cổ võ chủ nghĩa vô thần. Bởi thế Ðức Thánh Cha cũng hết lòng tạ ơn Rất Thánh Trinh Nữ về điều này nữa. Tuy nhiên, ở những phần đất khác trên thế giới, những cuộc tấn công vào Giáo Hội cũng như thành phần Kitô hữu, cùng với gánh nặng khổ đau họ phải chịu, vẫn tiếp tục xẩy ra một cách thê thảm. Cho dù những biến cố được phần thứ ba của Bí Mật Fatima nói đến giờ đây dường như đã qua rồi, nhưng lời Mẹ kêu gọi cải thiện và thống hối, được vang lên từ đầu thế kỷ 20, cho đến nay vẫn còn hợp thời và khẩn thiết. ‘Ðức Mẹ của sứ điệp này như đọc được các dấu chỉ thời đại - các dấu chỉ của thời đại chúng ta đây - bằng một cái nhìn hết sức sáng tỏ... Việc Rất Thánh Maria tha thiết kêu gọi thống hối không là gì khác ngoài việc Mẹ muốn tỏ ra mối quan tâm từ mẫu của mình đối với vận mệnh của gia đình nhân loại cần phải cải thiện và ơn tha thứ’ (Ðức Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Bệnh nhân Thế giới năm 1997, N. 1, Insegnamenti, vol XIX/2, 1996, p. 561). "Ðể tín hữu có thể nhận lãnh sứ điệp của Mẹ Fatima ích lợi hơn, Ðức Giáo Hoàng đã giao trách nhiệm cho Thánh Bộ Tín Lý trong việc phổ biến phần thứ ba của bí mật này, sau khi soạn thảo phần dẫn giải sứ điệp ấy cho thích đáng. "Chúng ta hãy cám ơn Mẹ Fatima về việc Mẹ phù trợ. Chúng ta hãy ký thác Giáo Hội của Ngàn Năm Thứ Ba trong sự cầu bầu từ mẫu của Mẹ." (Bản dịch của Cao Tấn Tĩnh) Như thế, phần ba của bí mật Fatima có liên quan đến việc Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II bị một người Thổ Nhĩ Kỳ tên Mehmet Ali Agca mưu sát vào ngày 13.05.1981 ở Công trường Ðền thờ Thánh Phêrô. Người ta vẫn chưa hiểu tại sao Ðức Thánh Cha lại quyết định cho tiết lộ bí mật Fatima lúc này bởi vì các giới chức Toà Thánh cũng đã không giải thích lý do. Tuy nhiên, có thể suy đoán là việc tiết lộ này phù hợp với viễn ảnh của Ðức Thánh Cha về Ðại Năm Thánh 2000 như một thời gian thuận tiện để thanh tẩy và làm sáng tỏ quá khứ cũng như sứ mạng của Giáo Hội. Dù sao đi nữa, điều rõ ràng là Ðức Thánh Cha đã được Ðức Mẹ gìn giữ khi ngài đã bị ám sát vào ngày 13.05.1981, đúng 64 năm sau khi Ðức Mẹ hiện ra lần đầu tại Fatima. Vì thế, sang năm 1982, Ðức Thánh Cha đã đến tận Fatima để cảm tạ Ðức Mẹ và ngài còn qua lần thứ hai vào năm 1991 kỷ niệm biến cố Ðức Mẹ gìn giữ Ngài khỏi bị sát hại. Kết Luận Với việc hai mục đồng Phanxicô Martô và Giaxinta Martô được tôn phong Chân phước vào ngày 13.05.2000 vừa qua, Ðức Thánh Cha như thế cho đến nay đã thực hiện được ba cuộc phong Chân phước trong Ðại Năm Thánh (2 cuộc kia ở Rôma). Hai Tân Chân phước được tôn phong không phải vì đã được thấy Ðức Mẹ cho bằng đã vâng theo lời Mẹ biết ăn năn thống hối, cầu nguyện liên lỉ, và canh tân đời sống không phải chỉ cho bản thân nhưng trước hết để đáp trả tình yêu bao la của Thiên Chúa và nhằm cứu vớt các linh hồn. Mặc dầu cả hai Tân Chân phước đều rất trẻ tuổi nhưng điều đó cho thấy rằng con đường nên thánh là của tất cả mọi người không trừ một ai, miễn là bao lâu chúng ta biết mở lòng lắng nghe và sẵn sàng đáp trả lời mời gọi sống đời yêu thương mà Mẹ đang chỉ ra. Và đó cũng là ý nghĩa của toàn bộ bí mật Fatima: Hãy ăn năn sám hối và chạy đến cùng Mẹ. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |