TRONG DÒNG ÐỜI

Lm. Phạm Quốc Hưng, CSsR.

LUÔN LUÔN HIỆN DIỆN

Trên Nhật báo Houston Chronicle số ra ngày 04-05-2000, tôi đọc được tin Ðức Hồng Y John O’Connor, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận New York, mới qua đời đêm thứ Tư 03-05-2000, hưởng thọ 80 tuổi.

Ðức Hồng y là giám mục còn hoạt động cao niên nhất tại Mỹ khi ngài qua đời. Ngài cũng là một khuôn mặt nổi bật trong hàng giáo phẩm Hoa Kỳ. Ngài sinh ngày 15-01-1920, vào Chủng Viện Thánh Charles Borromeo ở Philadelphia năm 1936, chịu chức linh mục ngày 15-12-1945. Năm 1952, ngài bắt đầu làm tuyên úy cho Hải Quân Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Korea. Tháng 05-1979, ngài trở thành Tuyên Úy Trưởng của Hải Quân Hoa Kỳ. Cũng năm 1979, ngài được chọn làm giám mục phụ tá của Tổng Giáo phận New York. Tháng 05-1983, ngài được bổ nhiệm làm giám mục Ðịa phận Scranton, PA. Và ngày 19-03-1984, ngài chính thức bắt đầu sứ vụ làm Tổng Giám Mục New York. Lúc ấy, New York là địa phận lớn nhất tại Mỹ (Theo báo Houston Chronicle 05-05-2000).

Người ta sẽ nhớ đến ngài như một vị chủ chăn đầy nhiệt thành, can đảm và trung thành trong việc rao giảng trọn vẹn Tin Mừng Chúa Kitô và các giáo huấn của Hội Thánh, không chấp nhận bất cứ một sự cắt xén và thỏa hiệp nào với các đòi hỏi của thế gian. Báo Houston Chronicle nhận xét: "Ở thời điểm mà những người Công Giáo Mỹ ngày càng hướng về việc theo ý riêng về các vấn đề đức tin và luân lý, Ðức Hồng Y O’Connor đã gan lỳ dẫn đầu việc tuân phục Tòa Thánh Vatican về các vấn đề kiểm soát sinh sản, phá thai và đồng tính luyến ái". Về sự nhiệt tâm và kiên quyết bênh vực sự sống con người và chống phá thai, Ðức Hồng y đã phát biểu dứt khoát: "Khi chính sự sống bị nguy hiểm, chúng ta không thể làm ít hơn".

Niềm xác tín vào sự chân thực và tốt lành của giáo huấn Giáo Hội khiến ngài không ngại lên tiếng chỉ trích những chính trị gia Công Giáo nhưng không sống theo niềm tin của mình, như cựu Thống đốc Tiểu bang New York Mario Cuomo và ứng viên phó Tổng thống của Ðảng Dân Chủ năm 1984, bà Geraldine Ferraro. Hai chính khách này nói rằng bản thân họ chống lại việc phá thai nhưng tin rằng phụ nữ có quyền chọn phá thai!!! Ðức Hồng Y O’Connor bác bỏ luận điệu này của họ. Năm 1990, ngài tuyên bố những người Công Giáo chống lại giáo huấn của Hội Thánh về việc phá thai bằng cách "bênh vực các luật ủng hộ phá thai hay trợ giúp việc phá thai bằng công quỹ.phải được cảnh cáo rằng họ đang liều việc tuyệt thông với Giáo Hội. Nếu những hành động như thế cứ tái diễn, các giám mục có thể coi việc ra vạ tuyệt thông như một chọn lựa duy nhất".

Dù không có cùng lập trường với ngài về việc phá thai, chính Tổng Thống Clinton cũng bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với ngài như sau: "Suốt hơn 50 năm, ngài đã dấn thân phục vụ nhu cầu của những người Công Giáo Hoa Kỳ với một sự can trường hiếm có. Sự can đảm và niềm tin kiên vững mà ngài thể hiện trong cơn bệnh cuối cùng đã phấn chấn hết thảy chúng ta". Mới đây, Quốc Hội Hoa Kỳ đã quyết định trao tặng ngài Huy Chương Quốc Hội.

Ðức Cha Joseph A. Fiorenza, Giám Mục Ðịa Phận Galveston-Houston và Chủ Tịch Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ, đã gọi Ðức Hồng Y O’Connor là một con người vĩ đại và đáng yêu của Giáo Hội, một biểu tượng của sự thiện hảo và lòng thương xót của Chúa Giêsu Kitô đối với tất cả những ai ngài gặp gỡ. Ðức Cha nói: "Ngài đã là một quán quân của những người nghèo, những người di dân, những người bệnh tật và những trẻ chưa sinh. Ngài đã lên tiếng và hành động nhân danh họ với sự hùng hồn, sức mạnh và một lượng khôn ngoan lạ thường".

Linh Mục Richard John Neuhaus, Chủ Nhiệm tạp chí First Thing và là người đã được chính Ðức Hồng y đón nhận vào Giáo Hội Công Giáo ngày 08-09-1990 và truyền chức linh mục cho ngày 08-09-1991, trong số báo tháng 05-2000, đã gọi ngài là "người bạn yêu quý và trỗi vượt của tôi". Cha Neuhaus đã cho độc giả biết rõ hơn tâm hồn của Ðức Hồng y: Ngài là một người rất yêu mến thiên chức linh mục, Bí Tích Thánh Thể và mầu nhiệm Thập Giá.

Trong thư mục vụ bàn về thiên chức linh mục đề ngày 08-09-1989 với tựa "Luôn Là Một Linh Mục, Luôn Luôn Hiện Diện" (Always A Priest, Always Present), Ðức Hồng y viết: "Tôi tin rằng đau khổ thuộc về yếu tính của thiên chức linh mục. Linh mục trước hết phải là một con người biết hy sinh (a man of sacrifice)". Ngài viết thêm: "Tôi luôn cảm động nhận biết rằng ngay cả thân xác phục sinh của Người cũng bị mang thương tích bởi những vết thương của Khổ Hình Thập Giá. Tôi không thể mường tượng một linh mục không bị mang thương tích, vì tôi không thể mường tượng một Chúa Kitô không mang thương tích".

Dĩ nhiên, Thánh Lễ và Bí Tích Thánh Thể mang nhiều ý nghĩa phong phú khác nhau, nhưng với Ðức Hồng Y O’Connor, ý nghĩa Lễ Vật Hy Sinh phải luôn được nhấn mạnh. Linh mục phải là người luôn hiện diện nơi hiến tế của Chúa Kitô và trong hiến tế của Chúa Kitô, Linh Mục Thượng Phẩm.

Cha Neuhaus nhận xét: "Trong suy tưởng của Ðức Hồng y, và trong chứng từ đời sống của ngài, hy sinh là sự viên trọn và là niềm vui không thể đo lường của việc thông dự vào những đau khổ cứu độ của Chúa Kitô, bao gồm mọi khổ đau của thế giới. Trong cơn đau yếu hiện nay của Ðức Hồng y, ngài hiểu biết một cách thâm sâu hơn sự viên trọn và niềm vui đó. Ðau khổ cứu độ sẽ lưu lại dấu ấn".

Một trong những dấu ấn Ðức Hồng y để lại là sự tiếc nuối mến thương của dân chúng nơi ngài phục vụ. Ít tuần trước đây, Chủ Tịch của Hội Ðồng Thành Phố New York nhận xét rằng, trong hơn ba trăm năm lịch sử của thành phố, không có một nhân vật công cộng nào để lại một ấn tượng thiện hảo lớn lao như ngài.

Cha Neuhaus kết luận như sau về Ðức Hồng Y John O’Connnor:

"Ðức Hồng Y thường nói về cha ngài là một người thợ công nghệ tài giỏi ở Philadelphia. Ông cố là một thợ dát vàng lá, làm việc dát vàng cho các biệt thự và các sản phẩm nghệ thuật. Ðức Hồng y đã dõi theo các bước chân của cha ngài. Dĩ nhiên, đó là một loại vàng khác: một loại vàng nhân loại đã được đụng đến bởi Thiên Chúa; vàng của lòng tốt, của sự quảng đại, của việc làm chứng cho sự thật một cách không thỏa hiệp, của sự phục vụ tận tâm đến cùng.

"Trong những năm sắp đến, người ta sẽ khám phá ra nơi thành phố thường bị nhơ uế này thứ vàng của tài khéo của người bạn tôi. Và khi họ thấy những dấu lóng lánh chiếu sáng của nó, họ sẽ nói rằng: ‘Ðức Hồng Y O’Connor đã ở đây. Ngài đã luôn là một linh mục. Ngài đã luôn luôn hiện diện".

Tôi là một trong những người đã khám phá ra sự lóng lánh chiếu sáng của loại vàng thánh thiêng mà Ðức Hồng Y John O’Connor đã đem dát vào lòng người, lòng đời, qua lời giảng dạy và chứng tá đời sống của ngài.

Từ lâu, qua báo chí tôi đã được biết ngài là một chủ chăn tận tâm bênh vực sự sống, chống phá thai và hết lòng trung thành với giáo huấn Giáo Hội. Cho đến mùa hè năm 1996, khi dự khóa tĩnh huấn dành cho các linh mục Việt Nam tại Florida, tôi được biết thêm ngài là một người có một niềm tin sống động dành cho Chúa Giêsu Hiện Diện Thực nơi Bí Tích Thánh Thể. Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, lúc ấy mới gặp gỡ ngài ở cuộc tĩnh tâm quốc tế dành cho các linh mục tại Fatima, thuật lại rằng Ðức Hồng Y John O’Connor đã nhắc nhở các linh mục ở đó sự thật này: "Phép lạ mặt trời quay trước sự chứng kiến của 70.000 người tại Fatima ngày 13-10-1917 tuy là một phép lạ cả thể, nhưng phép lạ ấy vẫn không thể so sánh được với phép lạ vẫn xảy ra trước mắt tôi mỗi ngày trên bàn thờ: bánh và rượu trở thành chính Máu Thịt Chúa Kitô".

Tôi càng nhận ra niềm tin sâu xa và tình yêu mãnh liệt của Ðức Hồng y dành cho Chúa Giêsu Thánh Thể và sự trân quý lớn lao của ngài đối với thiên chức linh mục, khi được trực tiếp lắng nghe ngài giảng dạy tại khóa tu nghiệp linh mục tổ chức tại New Jersey mùa hè 1998. Khi ấy, tôi đã cảm được niềm đau sâu thẳm nơi trái tim của vị mục tử can trường và khả ái này, khi ngài phải nỗ lực với bao trăn trở để lội ngược dòng đời, trung thành rao giảng toàn bộ Tin Mừng của Chúa Kitô và giáo huấn của Hội Thánh.

Nước mắt tôi bỗng trào ra khi nghe ngài chia sẻ từ đáy lòng kinh nghiệm sau: "Một ngày nọ cách đây ít lâu, những người ủng hộ việc phá thai, ngừa thai nhân tạo và đồng tính luyến ái đã vào Nhà Thờ Chánh Tòa Thánh Patrick khi tôi đang cử hành Thánh Lễ. Lúc rước lễ, một số đã lên hất đổ bình đựng Mình Thánh Chúa. Rồi họ chà đạp lên, nhổ bọt vào, cùng lúc họ ném lên cao những bao cao su (condom) và la hét đả đảo.Chưa bao giờ tôi cảm thấy yêu mến Chúa Giêsu như ngày hôm ấy.khi Người bị xúc phạm, bị chà đạp, bị sỉ nhục vì yêu tôi, vì muốn ở cùng tôi."

Về thiên chức linh mục, ngài nói: "Báo chí ngày nay thích nhấn mạnh và rêu rao những gương xấu của một số linh mục. Nhưng người ta quên rằng, qua bàn tay các linh mục, Chúa Giêsu Thánh Thể được hiện diện giữa chúng ta và được trao ban cho chúng ta. Chúng ta không được phép coi nhẹ những tội ác do các linh mục hư đốn gây ra và phải cầu nguyện xin Chúa gìn giữ các ngài khỏi phạm tội. Nhưng dù tất cả các tội ác của nhân loại gồm lại cũng không thể sánh được với phúc lộc Thiên Chúa ban cho nhân loại qua bàn tay các linh mục của Người trong việc cử hành Thánh Lễ và ban ơn tha tội". Và ngài đã tiên báo một sự gia tăng ơn gọi linh mục trong Giáo Hội sẽ xảy ra vào đầu thế kỷ 21.

Sau khi nghe Ðức Hồng Y O’Connor giảng, tôi cảm thấy như ngài đã chuyển thông cho tôi lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và sự trân quý chức linh mục của chính ngài. Tôi quyết định sẽ cầu nguyện đích danh cho ngài mỗi ngày từ lúc đó để tỏ lòng yêu mến biết ơn ngài. Tôi ước ao được ra gặp ngài, bắt tay ngài và ngỏ lời cảm ơn. Chúa quan phòng đã nhận lời tôi. Dù ngài và cha thư ký phải về ngay sau buổi thuyết giảng, tôi vẫn được diễm phúc gặp ngài ở hành lang và bắt tay ngỏ lời cảm ơn và hứa sẽ cầu nguyện cho ngài như lòng mong muốn.

Trong Thánh Lễ Thứ Sáu đầu tháng sáng nay, tôi đã cảm tạ Chúa và Ðức Mẹ đã ban muôn thánh ân cho Ðức Hồng Y John O’Connor trong cuộc đời 80 năm viên mãn của ngài và nài xin Chúa cho ngài về hưởng Nhan Thánh như một tôi tớ trung tín của Người. Tôi cũng cảm tạ Chúa và Ðức Mẹ đã cho tôi được gặp gỡ ngài như một mục tử gương mẫu trong dòng đời, để được ngài làm gia tăng nơi tôi lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể, sự trân quý thiên chức linh mục, lòng trung thành can đảm làm chứng cho sự thật và lòng tận tụy phục vụ Dân Chúa. Và từ nay, tôi hy vọng khi ngài được chiêm ngưỡng Nhan Thánh, ngài sẽ bầu cử cho tôi được trung thành bước theo dấu chân phục vụ Tin Mừng Sự Sống của Chúa Kitô như ngài.

Ước mong sao thứ vàng ròng thánh thiêng của sự thật và lòng mến mà Ðức Hồng Y O’Connor đã cố công dát vào lòng người và lòng đời trong suốt cuộc hành trình dương thế của ngài, luôn được tìm thấy nơi cuộc đời của mỗi tín hữu Chúa Kitô, cách riêng nơi lời rao giảng và đời sống của mỗi linh mục của Người.

(May 4-5, 2000)

__________________________________________________________________

TÂM TÌNH YÊU MẸ

 

Tâm tình yêu mến Ðức Mẹ nơi những người tôi có dịp gặp gỡ trong dòng đời cũng như những kỳ công của tình thương Ðức Mẹ dành cho họ luôn là những gì tôi hết lòng trân quý và muốn ghi nhớ trong lòng, để thêm lòng yêu mến cậy trông Mẹ và thêm lời ngợi ca tình thương và quyền phép của Mẹ.

Trong dịp đi giảng tĩnh tâm Mùa Chay ở thành phố Lincoln, Nebraska hồi tháng 04-2000, tôi đã được gặp Chị Mary Perpetua Cửu Nguyễn, thuộc Dòng Nữ Tu Thừa Sai Trinh Vương Thương Xót, và đã được chị chia sẻ một cách đơn sơ và chân thành những tâm tình yêu mến Ðức Mẹ thật thiết tha của chị.

Nhận thấy những chia sẻ của chị chắc chắn sẽ giúp ích cho nhiều người thêm lòng yêu mến cậy trông Ðức Mẹ, tôi đã xin chị viết cho tôi những tâm tình và kinh nghiệm nhờ Ðức Mẹ sống niềm tin của chị. Vì lòng yêu mến Ðức Mẹ, chị đã nhận lời.

Trong lá thư đề ngày 13-04-2000, chị đã chia sẻ với tôi những kinh nghiệm quý giá sau:

"Thưa cha, vì cha muốn xin con một ít tài liệu về Mẹ của chúng ta, con nhớ được bằng nào thì con xin kể cho cha bằng đó nhé. Nhưng trước hết, con xin gửi tặng cha những lời yêu thương nhất con đã tập được và nhắc đi nhắc lại mỗi ngày từ khi con 13 tuổi mới vào Dòng cho tới nay.

"Trong mỗi Thánh Lễ vào lúc truyền phép, khi linh mục bắt đầu đặt hai tay lên chén thánh, là tự động con đọc lên câu: ‘Lạy Mẹ Maria Trinh Vương Thương Xót là Mẹ Chúa Giêsu Thánh Thể và là Hiền Mẫu của các vị linh mục. Xin Mẹ ban ơn thánh hóa các ngài, để các ngài trở nên những vị linh mục đích danh của Chúa Kitô’. Và một câu thứ hai: ‘Giêsu-Maria-Giuse, con mến yêu, con mến yêu nhiều, con mến yêu lắm, con mến yêu hết tình, xin thương cứu các linh hồn, xin thương các linh mục cùng muôn tâm hồn đã hiến dâng’.

"Lời Mẹ gửi các con Trinh Vương ngày 04-05-1963: ‘Khi nhìn đến chuỗi này, Mẹ nhìn ra ngay đó là đứa con Mẹ đoái thương. Nếu con cố gắng tha thiết sốt sắng đọc kinh Mân Côi mỗi ngày, thì giây phút sau cùng con sẽ được hạnh phúc Mẹ đến thăm con’.

"(Lời Thánh Cả Giuse) ‘Các con ơi! Cỗ chuỗi này nói lên tình yêu thắm thiết giữa Cha với Ðức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm và Chúa Giêsu Hài Ðồng-Ngôi Lời Nhập Thể. Không ai đã yêu thương bằng ba tâm hồn thánh phúc ở nhà Nazareth. Các con biết không? Khi yêu nhau người ta chiều ý nhau biết chừng nào! Vì vậy, khi nhìn thấy dấu hiệu yêu thương ấy, Cha cảm nhận được ý muốn can thiệp rõ rệt của Chúa Giêsu và Bạn Rất Trinh Khiết Cha, Cha sẽ không thể nào bỏ qua lời kêu nài của các con. Chuỗi ngọc yêu thương đó là dấu hiệu bảo đảm tình yêu, sự an bình, hợp nhất và lòng trung kiên giữa các con với nhau, giữa các con với Hội Dòng vá các Bề Trên, đặc biệt với Ðức Trinh Nữ Maria’.

"Thưa cha, cha xin con kể về em con mà Ðức Mẹ đã chữa khỏi bệnh tê liệt, con xin kể lại một tí thôi nhé.

"Em con tên là Sơ Maria Phúc Nguyễn, con Ông Bà Trùm Nguyễn Văn Hoạt ở Xứ Thanh Bình và tu ở Dòng Trinh Vương Việt Nam, đã khấn trọn. Năm 1990, Sơ Phúc đã bị bệnh, ban đầu tê liệt nửa người dần dần bị tê liệt cả người, đã không làm gì cho mình được. Ba má cũng như nhà dòng đã lo chạy đủ thứ thuốc, hết bác sĩ rồi đến ông lang, hết thuốc tây rồi đến thuốc ta, nhưng cũng chẳng đỡ. Chị y tá và các sơ phải lo làm cho hết. Có người bày cho uống hết lá này đến lá khác, ngay cả uống nước tiểu, nhưng cũng chẳng khỏi. Gia đình ba má, các anh chị, cháu cũng như nhàdòng chỉ biết cầu nguyện cho Phúc được biết tuân theo Thánh Ý Chúa.

"Ngày 10-02-1991, Cha Sáng Lập hội cả nhà. Vì trong nhà dòng có thói quen Cha thường hội và nói về Mẹ trước các ngày lễ lớn. Hôm sau 11-02 là Lễ Mẹ Lộ Ðức. Cha nói với cả nhà là ngày mai Lễ Mẹ Lộ Ðức, các chị em khấn xin cho Chị Phúc, nếu Mẹ muốn Mẹ sẽ chữa cho Phúc khỏi bệnh tê liệt. Nửa đêm hôm 10-02-91, chỉ có một mình Chị Phúc ngủ trong phòng bệnh nhân. Chị y tá ngủ phòng khác. Nửa đêm hôm đó Chị Phúc đang ngủ nghe thấy tiếng gọi dậy sửa soạn đi lễ. Chị Phúc mở mắt ra và thấy một bà rất đẹp và đã đưa cho Chị Phúc cái đèn bão. Chị Phúc tự động dạy một mình sau khi Bà Ðẹp gọi và đã cầm đèn bão đi theo Bà Ðẹp. Ra tới cửa phòng bệnh nhân thì Chị Phúc đã không nhìn thấy Bà Ðẹp đâu nữa. Chị Phúc đã cầm đèn bão đi sang phòng chị y tá gọi chị y tá dạy. Chị y tá giật mình dạy thấy Chị Phúc đứng đó sợ quá vội dẫn Chị Phúc về phòng bệnh nhân lại.

"Sáng hôm sau, ngày 11-02-1991, Chị Phúc đã tự động dậy một mình làm các thứ cho mình, sau đó đi lễ ngồi phía dưới. Khi lên rước lễ lại là người đầu tiên đi lên rước lễ, không cần phải ai dẫn. Cha Bề Trên Sáng Lập sau đó đã nói Ðức Mẹ đã chữa cho Chị Phúc được khỏi bệnh tê liệt. Nhà dòng và Cha Sáng Lập cũng như gia đình đã tạ ơn Ðức Mẹ Lộ Ðức. Từ ngày 11-02-1991 cho tới nay em con chỉ còn đau ốm thỉnh thoảng thôi, làm được các thứ việc như các chị em khác.

"Cảm ơn Chúa và Mẹ cũng như Cha Thánh Giuse đã cho anh chị em chúng con có được một người cha mẹ đạo đức dạy các con yêu mến Chúa và Mẹ cũng như Cha Thánh Giuse và các thánh quan thày. Ba má con ngày còn sống thường hay nhắc bảo chúng con phải chịu khó đi lễ, nhà thờ, lần hạt kính Ðức Mẹ. Có chịu khó lần hạt yêu mến Ðức Mẹ thì Mẹ mới giúp. Con thấy đúng thế, mình xin cái gì nơi Chúa thì cũng phải qua Ðức Mẹ, nhờ Mẹ để Mẹ xin với Chúa ơn này ơn kia, nhưng đừng theo ý con, một theo ý Chúa và Mẹ.

"Ba má con yêu mến Kinh Mân Côi, đến khi gần chết nhắc các anh chị đọc kinh lần hạt cho ba má con theo. Riêng má con, trước khi qua đời, má nói chị dâu và em con là Sơ Phúc lần hạt cho má theo. Sơ Phúc hỏi má, má muốn lần mùa nào? Má thì thào trên môi trả lời mùa Mừng. Hai chị em lần hạt mùa Mừng cho má theo. Từ chục thứ nhất đến chục thứ tư môi má còn mấp máy, đến chục thứ năm má đi từ từ, hết chục thứ năm mùa Mừng má đã tắt thở. Thật anh chị em cũng như các cháu chúng con rất mừng và được an ủi khi thấy ba má đi một cách bằng an. Sau khi má con đi thì cả nhà hát bài Magnificat tạ ơn Mẹ.

"Thưa cha, con xin kể lại má con một tí ngày con chưa đi tu. Có một hôm má con đánh mất tràng hạt, vì má con lần hạt nhiều lắm, đi làm tay làm cỏ nhưng vẫn lần hạt. Hôm đó má làm mất, má buồn mất ăn mất ngủ vì cỗ tràng hạt yêu dấu của má. Hôm sau, sau khi đi lễ về, điểm tâm xong, má không có đi làm việc. Má con đã đi bộ từ nhà ra vườn (rẫy), vừa đi vừa lần hạt bằng đốt ngón tay và vừa để ý tìm tràng hạt. Cha biết không, từ nhà con ra tới rẫy phải leo qua hai cái đồi cao đi hết gần một giờ mới tới vườn. Thế mà má con đã đi một mình ra vườn tới chỗ mình làm cỏ để tìm. Cuối cùng má đã thấy cỗ tràng hạt chỗ má con làm cỏ hôm trước, vội vàng đi về nói với các em con, mừng rỡ lắm, má đã tìm thấy cỗ tràng hạt của má rồi các con ơi, cám ơn Chúa và Mẹ.

"Trước khi má con qua đời, má con đã ước ao gặp con lần cuối cùng. Nhưng vì quá xa xôi từ Mỹ về Việt Nam, anh con nói với má con, thưa má bây giờ má không thể gặp em Cửu được vì xa, mai mốt lên Thiên Ðàng má sẽ gặp lại sau. Má trả lời vậy cũng được và má đã trối lại cho con một cỗ tràng hạt rất đẹp màu xanh áo Ðức Mẹ, hột hình trái tim. Má nói em con (Sơ Phúc) gửi sang Mỹ cho con. Thế là má con yên trí để đi.

"Thưa cha, con nghĩ tới đây con kể đã quá dài, chắc cha không có nhiều thì giờ để đọc đâu, nên con xin tạm ngừng. Con xin cha tiếp tục cầu cho con cũng như các anh chị em con được luôn yêu mến Mẹ nhiều và siêng năng lần hạt như ba má con đã để lại. Con xin cầu chúc cha được khỏe mạnh luôn và nhờ những lời giảng dạy của cha mà nhiều người yêu mến Chúa và Mẹ".

Chị còn viết thêm trong mảnh giấy nhỏ kèm theo lá thư trên: "Thưa cha, nếu cha muốn biết người Việt Nam yêu mến Ðức Mẹ, khi nào cha về Việt Nam, cha về vào tháng 5, hay tháng 8, hoặc tháng 12. Nhà chúng con ở Bùi Môn (Tân Tiến) hay tổ chức lễ lớn. Ðức Mẹ ban phép lành, nhất là ngày 22-08 và 08-12. Có rất nhiều người từ khắp nơi tuôn đến nhà Mẹ ở Việt Nam (Trinh Vương) để cầu khấn với Ðức Mẹ. Họ lấy nước Ðức Mẹ đem về uống. Những người này nhà dòng không mời họ cũng tấp nập tuôn tới, có cả ngàn người tuôn đến để cầu xin. Xin cha nhớ cầu cho con nhé. Có Mẹ là có tất cả đó. Làm con Mẹ, réo Mẹ cái gì Mẹ cũng cho, không cho trước thì cũng cho sau".

Với những hàng tâm sự trên, Chị Mary Perpetua chẳng những cho thấy tâm tình yêu mến Ðức Mẹ nơi chị, nhưng còn cho thấy tâm tình ấy nơi ba má chị, gia đình chị, hội dòng của chị và nơi cả dân tộc Việt Nam.

Ðó là niềm an ủi và hy vọng của tôi mỗi khi nghĩ đến Giáo Hội và quê hương Việt Nam.

Nhờ lòng yêu mến Ðức Mẹ, trong quá khứ dân tộc Việt Nam đã dâng hiến cho Giáo Hội hàng trăm ngàn anh hùng tử đạo, và hôm nay vẫn tiếp tục đóng góp cho Giáo Hội thật nhiều ơn gọi tu sĩ và linh mục, không những ngay trên quê hương Việt Nam mà còn tại các quốc gia có người Việt sinh sống trên khắp thế giới.

Như vậy, lòng biệt kính Mẹ Maria là di sản quý báu và bí quyết sống đạo, sống thánh của người tín hữu Việt Nam.

Chị Mary Perpetua thật có lý để "cám ơn Chúa và Mẹ cũng như Cha Thánh Giuse đã cho anh chị em chúng con có được một người cha mẹ đạo đức dạy các con yêu mến Chúa và Mẹ cũng như Cha Thánh Giuse và các thánh quan thày". Và "xin cha cầu cho con cũng như các anh chị em con được luôn yêu mến Mẹ nhiều và siêng năng lần hạt như ba má con đã để lại".

Tôi nghĩ, đối với những tín hữu Công Giáo đích thực, không có một lời khen ngợi nào của con cái dành cho cha mẹ lớn lao hơn, tốt đẹp hơn, quý giá hơn những lời của chị Mary Perpetua viết về cha mẹ chị như trên.

Cũng như chị, tôi sung sướng cảm tạ Chúa và Ðức Mẹ đã ban cho tôi có ba mẹ là những người chẳng những đã ban tặng tôi sự sống, nhưng còn chuyển thông cho tôi niềm tin Công Giáo với tâm tình biệt kính Mẹ Maria là món quà quý báu nhất trên trần gian. Và tôi cũng muốn trao tặng món quà quý báu ấy cho tất cả những ai tôi đã, đang hay sẽ gặp gỡ trong dòng đời.

(May 11-12, 2000)

 


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com