|
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN. 16-07--2000 : SAI ÐI. CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN. 23-07-2000 : QUYỀN NĂNG GIẢNG DẠY. CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN. 30-07-2000 : BA HÌNH ẢNH CỦA CHÚA GIÊSU TRONG MỘT PHÉP LẠ. CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN, LỄ CHÚA HIỂN DUNG. 06-08-2000 : CHIẾC BÁNH BẺ ÐÔIÙ. Chúa Nhật XV Thường Niên 16-07-2000 Am 7:12-15; Ep 1:3-14; Mc 6:7-13 SAI ÐI Vào thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, sau một cuộc tranh chấp ác liệt, đất Do thái bị chia làm đôi: hai chi tộc phía Nam là Giuđa và Bengiamin làm thành quốc gia Giuđa với Giêrusalem là thủ đô; mười chi tộc còn lại ở phía Bắc lập thành nước Israel với Samaria là thủ phủ. Dưới triều đại của Giêrôbôam đệ nhị (786-726 BC), đất nước Israel trở nên hưng thịnh. Vương quốc được mở mang và trở nên giàu có. Ðể lôi kéo thêm dân chúng từ các nơi về, và để dân trong nước không đi lên đền thờ Giêrusalem trong các dịp lễ, Giêrôbôam và các vua trước ông đã cho lập đền thờ tại Bethel, cách Giêrusalem chừng 14 dặm về phía bắc. Hàng tư tế tại đây được ưu đãi và khuyến khích thi hành những lễ nghi đặc biệt, tạo nên không khí huy hoàng và sầm uất hầu làm lu mờ những hình ảnh sinh hoạt tôn giáo tại Giêrusalem. Ðây là một mưu đồ chính trị nhằm tiếp tục việc chia đôi đất nước và phân rẽ một dân tộc mà Giavê Thiên Chúa đã tuyển chọn để tái tạo sự hiệp nhất giữa trời cao với đất thấp--giữa Thiên Chúa và con người. Nhưng Giavê không thể làm ngơ trước cảnh tượng đó. Ngài đã chọn Amos, một người chăn chiên tại Tekoa, bên bìa sa mạc Giuđa, để đi làm ngôn sứ cho Giavê Thiên Chúa bên nước Israel. Nhân danh Thiên Chúa, Amos cảnh cáo những âm mưu nuôi dưỡng tình trạng chia rẽ để trục lợi, lên án những cuộc sống sa đoạ bất công trong xã hội, công kích sự an tâm giả tạo khi người ta lấy lễ nghi tôn giáo để che đậy cho những việc làm xấu xa. Sau một thời gian ngắn thi hành sứ vụ tại Bethel và Samria, Amos đã bị trục xuất ra khỏi Israel. Khi mà quyền lợi bị đụng chạm, miếng cơm bị đe doạ, người ta khó lòng để yên. Vì thế Amasia, một tư tế của đền thờ Bethel đã cậy vào uy thế của vua Giêrôbôam và nhân danh hàng tư tế của vương quốc miền Bắc để đuổi Amos về lại Giuđa. Ông cho Amos là hạng thầy bói nói mò hòng kiếm miếng cơm. Amasia cấm Amos không được tuyên sấm ở Bethel nữa, vì theo ông, những sứ điệp đó không phù hợp với đường lối chính trị của nhà vua và của vương quốc Israel. Nhưng Ngôn sứ Amos không chấp nhận lập luận của Amasia. Ông khiêm nhường nói với vị tư tế bụt thần này rằng ông không làm nghề tiên tri, cũng không phải là con của một tiên tri. Trước kia ông chẳng hề nghĩ đến việc đi tuyên sấm, ông chỉ biết chăn chiên và hái trái sung. Nhưng rồi một hôm, đang lúc bước theo đàn chiên, Giavê Thiên Chúa đã gọi ông và truyền phải đi tuyên sấm cho nhà Israel, cảnh báo cho họ về một tai hoạ khủng khiếp sẽ giáng xuống: quân thù sẽ dày xéo đất nước, tàn sát dân chúng, bắt đi lưu đày những kẻ còn sống sót (Am 7:17). Như vậy việc Amos đi loan truyền sứ điệp tiên tri cho các vua quan, tư tế, và dân chúng, không vì khả năng tự nhiên hay tài đức hơn người, song là vì Giavê đã trao Lời và sai ông ra đi. Thế nên sứ mạng của ông không gì khác hơn là nói lại Lời đó trong vai trò của một ngôn sứ. Có thể sứ điệp do ông truyền đạt ra sẽ được nhiều người đón nhận, nhưng cũng không chắc sẽ tránh khỏi tình cảnh bị từ khước, xua đuổi, hay giết hại. Dù sao thì người được sai đi vẫn ra đi và không ngừng tiến bước. Không nản lòng. Không thất vọng. Không đầu hàng. Ðó phải là thái độ của người môn đệ Ðức Kitô. Phúc âm tường thuật việc Chúa Giêsu sai mười hai tông đồ đi đến các làng mạc miền Galilê, rao giảng sự ăn năn thống hối. Ngài thấy trước những thất bại có thể xảy ra, và sự thất bại đáng kể nhất sẽ là bị khước từ. Song thất bại không thể là yếu tố làm chùn bước chân của vị sứ giả Tin Mừng: Bởi vì như lời Ðức Giêsu phán dạy: "Nếu nơi nào không tiếp đón các ngươi thì hãy ra khỏi chỗ đó, phủi bụi chân lại" (Mc 6:11) rồi tiếp tục tiến bước. Cũng như trong bài Phúc âm tuần trước khi bị những người đồng hương đồng hạt khinh dể thì "Chúa Giêsu đã rảo qua các làng xung quanh và giảng dạy" (Mc 6:6b). Khách quan mà xét, hành trình rao giảng của Chúa Giêsu cũng có thất bại, nhưng không vì đó mà Ngài thất vọng ngã lòng. Trái lại Ngài vẫn tiến bước ra đi. Ði cho đến chặng đường cuối cùng là thập giá. Như thế, người tông đồ của Ðức Kitô cũng không thể tránh khỏi thập giá, vì "môn đệ không thể hơn thầy." Nhưng dù có gặp từ khước, khó khăn, trắc trở, lao tù, xiềng xích trên hành trình rao giảng, Lời Chúa vẫn "không bị xích xiềng" và "Ðức Kitô vẫn được truyền rao" (Ph 1:18). Thế nhưng tôi tự hỏi: "Nếu ngày nay Lời Chúa bị xiềng xích và Ðức Kitô không được rao truyền là bởi các lý do bên ngoài hay những yếu tố bên trong? Vì người ta không nghe Tin Mừng tôi loan báo hay vì những tham lam, lợi nhuận, bất công, và cả những hình thức, lễ nghi trang trọng nhưng vô hồn, như của dân Israel trong thời ngôn sứ Amos, đã trói buộc chân lý Phúc âm? Thế nên, Lời Chúa lại nhắc nhở tôi về thái độ nghèo khó để được tự do trong khi rao giảng: không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi, không mặc tới hai áo. Giá trị của Tin Mừng không hệ tại nơi áo quần, tiền bạc, cơm bánh. Chúa Giêsu không chọn con đường cứu nhân độ thế bằng sự đáp ứng của cải vật chất, song là chính Lời Hằng Sống của Ngài. Vì vậy, hành trang rao giảng của người môn đệ Chúa Kitô phải luôn là Ðức Giêsu Kitô—Lời Thiên Chúa mà họ đã tiếp cận và tìm thấy "sự sống phong phú dồi dào" (Gn 10:10b)—chứ không phải bao bị, dày dép, tài năng, bạo lực hay bạc tiền. Ðây cũng chính là nguyên lý căn bản mà Giáo hội đã dùng để trả lời cho thần học "giải phóng" khi xác định: Chỉ có "chân lý mới giải thoát con người"(Gn 8:32). Và chân lý đó chính là Ðức Giêsu. Vì Ngài là đường, là chân lý, và là sự sống cho nhân trần mọi thời và mọi nơi.
Chúa Nhật XVI Thường Niên 23-07-2000 Gr 23:1-6; Ep 2:13-18; Mc 6:30-34 QUYỀN NĂNG GIẢNG DẠY
"Ngài chạnh lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn, và Ngài dạy dỗ họ nhiều điều" (Mc 6:34). Trong thời Tiên tri Giêrêmia, các nhà lãnh đạo dân Israel không có khả năng lãnh đạo. Các vị vua bất tài nối tiếp nhau trên ngai Ðavit đã mang đến hậu quả là toàn dân bị rơi vào tay vua Nabucôđônôsô. Nhiều người bị giết. Lắm kẻ bị bắt lưu đày biệt xứ tại Babylon. Nhà tiên tri đã lớn tiếng quở trách: "Khốn cho các mục tử làm tản mác và xâu xé đoàn chiên Ta. Các ngươi đã phân tán xua đuổi và không trông nom đoàn chiên của Ta. Ta sẽ xét xử những hành động gian ác của các ngươi" (Gr 23:1-2). Trước cảnh đàn chiên bị tan tác vì sói bắt trộm lùa--bởi lẽ những người mục tử nhà Israel đã chỉ lo tưởng đến những lạc thú riêng tư, "họ đã bỏ giao ước của Giavê và đi thờ lạy phụng sự các thần khác"(Gr 22:9)--Thiên Chúa không thể làm ngơ. Ngài đã quyết định "qui tụ phần còn lại của đoàn chiên từ khắp các xứ, Ngài lùa chúng về đồng cỏ xanh tươi, để chúng lớn lên và tăng số. Chúng sẽ không còn phải sợ hãi và kinh hoàng, và sẽ không còn bị thiếu thốn gì nữa." Tiên tri Giêrêmia đã nhìn thấy hình ảnh của Ðấng Thiên Sai. Người sẽ xuất hiện từ chi tộc Ðavit để đem lại sự công chính và hoà bình cho xứ sở, sẽ trở thành vị mục tử tốt lành luôn biết hy sinh vì đàn chiên. Và hình ảnh đó nay đã viên thành nơi con người của Ðứùc Giêsu Kitô. Trong thơ gởi tín hữu Ephêsô, Ðức Kitô được xác quyết như vị Mục Tử đã dùng khổ đau của thập giá mà liên kết dân Do thái và dân ngoại, những kẻ ở xa và những người ở gần, những gì là tan tác phân ly, thành một thân thể trong bình an và hiệp nhất của Thiên Chúa. Hình ảnh của Ðức Kitô, người Mục Tử Nhân Lành, một lần nữa được làm nổi bật qua trình thuật của Thánh Marcô: Hôm ấy, sau những ngày truyền giáo vất vả mệt mỏi, các môn đệ trở về bên Chúa, kể lại cho Ngài nghe những gì đã xảy ra. Thái độ lắng nghe các môn đệ tâm sựï và chia sẻ của Chúa Giêsu được đúc kết bằng một lời chăm sóc chân tình: "Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút." Nhưng Thánh Marcô không dừng lại với hình ảnh của một người Thầy tận tình lo lắng cho các đồ đệ, những cộng sự viên thân tín, song đã làm rõ nét chân dung của một mục tử "động lòng thương dân chúng, vì họ như đàn chiên không có người chăn." Thái độ của Chúa Giêsu trước đoàn người bơ vơ mới là điểm trọng yếu mà Thánh sử Marcô muốn ghi nhận: Số là đang lúc thầy trò đi tìm một nơi thanh vắng để nghỉ ngơi, thì đám đông dân chúng, khi thấy các ngài lên thuyền rời bến, liền hiểu ý. Thế rồi từ khắp nơi, người ta đã kéo nhau đến đón đầu các ngài. Lúc vừa lên bờ, trông thấy dân chúng đông đảo tiến đến với mình, thay vì bực bội khó chịu do bị phá rối giấc nghỉ ngơi, thay vì trách mắng hoặc xua đuổi người ta về nhà chờ lúc khác, Ðức Giêsu đã chạnh lòng thương xót. Sự xót thương đó không chỉ dừng lại bằng một xúc cảm của tâm hồn, song đã được bộc lộ ra bằng hành động "dạy dỗ họ nhiều điều." Tại sao khi thấy người ta bơ vơ như đàn chiên không người chăn dẫn--tức là những con chiên đang mong có đồng cỏ non, đang chờ một giòng nước mát-- Chúa Giêsu lại không làm phép lạ hoá bánh để nuôi sống mà lại dạy dỗ trước? Và nội dung của việc dạy dỗ không chỉ là một vài điều căn bản, song là "nhiều điều"? Tại sao chỉ sau khi dạy dỗ, Chúa Giêsu mới ban của ăn cho họ? Phải chăng Thánh sử Marcô muốn nhấn mạnh đến tiếng kêu của người Mục Tử, khi đi tìm những con chiên bị tản mác, lạc lỏng khắp nơi. Tiếng kêu, hay lời rao giảng, hoặc sự dạy dỗ chính là công việc thiết yếu trước tiên nhằm qui tụ đàn chiên--trước khi "lùa chúng về đồng cỏ để chúng lớn lên và tăng số." Ðây chính là hình thức phụng vụ mà Giáo hội đã áp dụng từ bao đời nay: tập họp và rao giảng Lời Chúa cho Dân Chúa, trước khi tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể. Ngoài ra, trong cách trình bày, Thánh Marcô cũng làm nổi bật giáo huấn và vai trò của Chúa Giêsu: một vị tiên tri dạy dỗ người ta "như đấng có uy quyền chứ không như các ký lục" (Mc 1:22). Ngay từ trang đầu của sách Phúc âm, vị Thánh sử đã khẳng định như vậy. Thế nên việc "dạy dỗ", "rao giảng", hay "nói Lời" (Mc 1:22,39; 2:2) được xem như những việc làm rất căn bản trong sứ mạng đem tình thương và niềm vui cứu độ đến cho muôn người của Ðức Giêsu. Qua phân tích trên, người Kitô hữu có ý thức gì về vai trò và hiệu quả của Lời Chúa trong đời sống của mình, nhất là đối với những người được trao phó trách vụ "dạy dỗ, rao giảng, và nói Lời"? Tưởng cũng nên nhắc lại: thừa tác vụ rao giảng luôn gắn liền với thành phần có chức thánh như giám mục, linh mục, và phó tế. Họ là những người được Chúa ban cho tác quyền linh thánh để phục vụ Dân Ngài. Thế nên, dù là một linh mục hay phó tế, người có chức thánh không thể trốn tránh sứ mạng nói Lời như tiên tri Giôna xưa, song họ phải sẵn sàng tiếp đón và giảng dạy để mang sức sống thần linh cho đoàn chiên Chúa. Dù rằng vẫn tồn tại ở đó biết bao thiếu sót, yếu đuối, mệt mỏi cần "một nơi thanh vắng" để nghỉ ngơi tịnh dưỡng, dù rằng vẫn xuất hiện trước mắt những trắc trở, khó khăn, thiếu chấp nhận, thiếu cảm thông, nhưng còn cần biết bao một cõi lòng thao thức, một tâm hồn xót thương như Chúa Giêsu, để nhờ đó, đàn chiên được thâu họp và chăm nom tận tình. Giavê Thiên Chúa đã tuyên phán: "Ta sẽ cho chúng có những chủ chăn để họ chăn dắt chúng. Chúng sẽ không còn sợ hãi và kinh hoàng. Chúng sẽ không còn thiếu thốn gì nữa"(Gr 23: 4). Như thế, với sự ủy thác của Thiên Chúa, Hội Thánh và các môn đệ Ðức Kitô sẽ vững tâm thi hành sứ vụ, và như Thánh Phaolô, họ cũng sẽ xác quyết rằng: "Lời tôi nói, việc tôi rao giảng đã không cốt nơi lời lẽ có sức thuyết phục của khoa khôn ngoan, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thựïc của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa ban. Ngõ hầu việc anh em tin không dựa vào sựï khôn ngoan của ngườøi phàm, nhưng dựa vào quyền phép của Thiên Chúa" (1 Cor 2: 4-5). Nhưng khi thành tâm xét mình, thử hỏi niềm tin của tôi đang dựa trên quyền năng và Thần Khí yêu thương của Thiên Chúa hay đang bị các "xảo ngôn mê hoặc", các "truyền thống người phàm", và các "nhân tố trần gian" đẩy đưa(Col 2:4-8)? Tôi có yêu thích Lời Chúa đến nong nả ra đi và tới trước các ngài, như dân Do Thái xưa, để được gặp gỡ và lắng nghe lời giảng dạy chăng? Ðặt câu hỏi hầu xác định một thái độ cần có đối với phần Phụng Vụ Lời Chúa trong các Thánh Lễ quả là một điều cần thiết cho đời sống đạo hôm nay. Chúa Nhật XVII Thường Niên 30-07-2000 2 V 4:42-44; Ep 4:1-6; Ga 6:1-15 BA HÌNH ẢNH CỦA CHÚA GIÊSU TRONG MỘT PHÉP LẠ
Phải có tầm mức quan trọng lắm thì phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều mới được cả bốn thánh sử ghi lại. Ðiều này cho thấy câu chuyện hoá bánh đã giữ một vai trò và giá trị đặc biệt trong lời rao giảng và đời sống của Giáo hội thời sơ khai. Theo trình thuật thì phép lạ đã được thực hiện vào một ngày của mùa xuân—khoảng giữa tháng Ba và tháng Tư, vì Thánh Gioan có ghi nhận: "Lễ Vượt qua của người Do Thái đã gần." Thời gian Chúa Giêsu thực hiện phép lạ là vào lúc bốn hay năm giờ chiều, vì dân chúng đã theo Ngài từ sáng sớm, và họ không có gì để ăn." Nơi phép lạ xảy ra là một đồi cỏ bên phía đông của bờ hồ Galilê. Chính tiếng đồn về những lời rao giảng và các việc làm của Chúa Giêsu đã lôi kéo đám đông dân chúng đi theo Ngài. Họ quá say mê nghe Ngài nói đến nỗi quên mất trời tà bóng ngã, bữa ăn chiều đã gần kề. Chắc hẳn nhiều người trong họ đã đói, nhưng cái đói thể lý đã không khuất phục được sự khát khao tâm linh. Tuy dân chúng không màng chi vấn đề "có thực mới vực được đạo," nhưng Ðức Giêsu lại quan tâm đặc biệt đến họ cả hồn lẫn xác--không chỉ vì tâm linh của họ "vất vưởng bơ vơ như chiên không người chăn," song còn vì thân xác họ đã ở với Chúa Giêsu cho đến giờ này là "quá chiều," "nơi đó lại hiu quạnh, và lại đã quá giờ."ù Sự quan tâm nào cũng phát xuất từ tình yêu. Ðức Giêsu có thực hiện phép lạ nuôi dân cũng chỉ vì Ngài đã "chạnh lòng thương xót họ." Nếu để ý chúng ta sẽ thấy trong tất cả những phép lạ Chúa Giêsu thực hiện cho người ta trước đây đều khởi đi từ một lời cầu xin hay thỉnh nguyện, nhưng trong phép lạ hoá bánh ra nhiều thì chính Ðức Giêsu đã ngỏ lời. Ngài hỏi Philipphê: "Ta mua đâu được bánh cho những người này ăn đây?" Câu hỏi này đã làm ngỡ ngàng người môn đệ: một phần trong túi tiền chung của thầy trò không biết có còn được 200 đồng không, mà nếu còn, thì cũng không thể nào đáp ứng cho số "năm ngàn người đàn ông" để "mỗi người được một chút." Ðó là chưa kể tới số đàn bà và trẻ em, có thể lên đến trên 10 ngàn, và nhất là dù có đủ tiền cũng chưa chắc sẽ mua được bánh, vì nơi họ đang ở là "chốn hiu quạnh," không phải làng mạc hay trang trại (Lc 9:12). Hoàn cảnh vô vọng. Lực bất tòng tâm. Trong lúc này, trước mắt các môn đệ không thể có một giải pháp nào hay hơn là giải tán dân chúng. "Ðối với loàøi người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể" (Mc 10:27). Hai môn đệ Philipphê và Anrê nhìn nhận tình cảnh và tỏ bày sự bất lực của mình qua câu nói "Ngần ấy thì thấm vào đâu cho bấy nhiêu người." Nhưng chính nơi sự yếu hèn của nhân loại mà quyền năng Thiên Chúa đã toả sáng. Có lẽ đây là sắc thái riêng biệt trong cách trình bày của Thánh sử Gioan: làm nổi bật vai trò và công việc của Chúa Giêsu. Làm cho năm chiếc bánh và hai con cá, khẩu phần của một em bé, thành của ăn nuôi được năm ngàn người, và còn dư tới 12 giỏ đầy, phải là quyền phép phát xuất tự trời cao chứ không thể từ hạ giới. Như thế Ðức Giêsu không phải là người thường, nhưng là người trời. Và Thánh Gioan đã đặt lời tuyên xưng đầy kinh ngạc lên môi miệng của những kẻ đang mục kích phép lạ: "Hẳn Ngài là vị Tiên tri, Ðấng sẽ đến trong thế gian" (Gn 6:14). Thánh Gioan không chỉ khẳng định Ðức Giêsu là vị tiên tri mà Cựu ước hằng loan báo và dân chúng hằng trông mong, song còn nói đến Ðức Giêsu như vị vua của muôn tâm hồn. Ðiều này được khẳng định bằng lối ẩn phủ định: "khi biết được họ sắp bắt Ngài để tôn làm vua, thì Chúa Giêsu rút lui lên núi một mình." Bởi vì Ngài không đến để giải phóng con người khỏi nghèo nàn thể xác hay dẫn đưa dân tộc thoát cảnh áp bức của ngoại bang, nhưng là mang lại tự do và hạnh phúc cho tâm hồn con người bằng chân lyù. Thánh Gioan đã ghi nhận lời Chúa Giêsu nói với Philatô: "Tôi là Vua! Chính vì lẽ này mà tôi đã sinh ra, và chính vì lẽ này mà tôi đã đến trong thế gian: ấy là để làm chứng cho sự thật"(Gn 18:37). Chỉ sự thật mới giải thoát con người. Chúa Giêsu không chỉ là Tiên Tri, Vương Ðế, song còn là vị Tư Tế thượng phẩm. Khi trình thuật việc Ðức Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn, phân phát cho người ta... Thánh sử Gioan đã mô tả lại hình ảnh và các câu văn trong phụng vụ Thánh Thể. Chắc chắn ngài viết như thế không chỉ đề cao bí tích Thánh Thể vốn đang được giáo dân trong thời đại ngài sùng mộ, song còn xác định Chúa Giêsu chính là vị Thượng Tế cao cả, Ðấng đã thiết lập Nhiệm tích Yêu thương, lưu truyền cho mọi thời việc tự hiến bản thân làm Bánh nuôi sống nhân loại. Qua phép lạ hoá bánh, sau khi trình bày Ðức Giêsu như một Ngôn Sứ, một vị Vua, và là một Thượng Tế, Thánh Gioan đã kết thúc bài tường thuật với hình ảnh Chúa Giêsu trốn lên núi một mình. Có lẽ chính nhờ việc rút lên núi để rồi tại đó, với việc cầu nguyện, kết hiệp cùng Thiên Chúa Cha, mà sứ mạng của Chúa Giêsu được tiếp nối và hoàn thành. Ðiều này gợi lên một suy tư căn bản: Bằng việc nhận lãnh phép rửa, người Kitô hữu mặc lấy Chúa Kitô, được thông ban cho ba chức năng tư tế, tiên tri, và vương đế. Bằng việc rước lễ, người Kitô hữu nhận lấy Chúa Kitô, làm kiên vững những chức năng mình đang có. Bằng đời sống cầu nguyện, kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa trong Ðức Kitô, người Kitô hữu chu toàn các chức năng mà mình đã lãnh nhận. Giữa cuộc sống đầy dẫy những cạm bẫy của vật chất thế gian, của gian dối lọc lừa, và của tục hoá mọi thứ, vẫn cần làm sao những phút giây "rút lui lên núi một mình," để nhờ đó những giá trị thiêng liêng, chứ không phải vật chất, chân lý chứ không phải súng đạn gươm giáo, tự hiến chứ không phải chiếm hữu tích thu, sẽ trở nên nền tảng căn bản của đời sống con người.
Chúa Nhật XVIII Thường Niên Lễ Chúa Hiển Dung 06-08-2000 Ðn 7:9-10,13-14; 2 Pr 1:16-19; Mc 9:2-10 CHIẾC BÁNH BẺ ÐÔI
Ðầu năm 1999 giới điện ảnh Hollywood có quảng cáo một số phim nổi bật như Saving Private Ryan ("Giải Cứu Anh Lính Binh Nhì Ryan"), Life is Beautiful ("Ðời Vẫn Ðẹp"), hay Shakespear in Love ("Khi Shakespear Biết Yêu"). Tôi nhận thấy trong bất cứ một phim hay nào, ngoài tài nghệ diễn xuất điêu luyện của diễn viên, ngoài nội dung thâm thuý của truyện phim, và ngoài một số kỹ thuật cần thiết khác như âm thanh, ánh sáng, vẫn còn đó một yếu tố không thể thiếu được: diễn viên chính bao giờ cũng đẹp. Nếu là nam thì cao ráo, khoẻ mạnh, đẹp trai, hùng tính. Còn nếu là nữ thì gương mặt thân hình tất nhiên phải rất xinh xắn, hấp dẫn. Bởi vì làm sao khán giả có thể can đảm và kiên nhẫn xem hết cuốn phim nếu cứ phải nhìn đi trông lại một gương mặt không mấy lôi cuốn hay gợi cảm tí nào. Thế rồi khi xem những người đẹp trong phim, đã có không ít kẻ đem lòng yêu mến, ngưỡng mộ, có khi còn thần tượng hoá các tài tử đó luôn. Người thì ước sao mình được xinh đẹp như họ, kẻ lại mơ tìm được người bạn đời đẹp như các tài tử. Có người lại mong con mình tươi xinh duyên dáng nên trong thời gian thai nghén đã trưng bày các hình tài tử như Châu Nhuận Phát, Lương Kiều Vỹ, Lý San San, Lâm Mỹ Linh..., với hy vọng nhìn các hình người đẹp thì rồi con mình sinh ra cũng sẽ được đẹp như thế. Khát mong được đẹp, tìm kiếm cái đẹp, hay thích làm đẹp là một tính chất rất tự nhiên nơi con người. Có những nhà kinh doanh biết đầu tư và khai thác tính chất tự nhiên này mà trở thành triệu phú. Không kể đến những trang phục căn bản như áo quần giày dép và các đồ trang sức là những thứ được gắn thêm vào cơ thể hầu che đậy những chỗ xấu hay làm tăng thêm những nét duyên, người ta còn sửa đổi cả các phần cơ thể để làm cho nó đẹp hơn. Thế là nghành y khoa thẩm mỹ ra đời, với những khả năng không thua gì phép lạ: nào là cắt mí mắt, sửa sống mũi, căng da mặt, nâng gò má, độn cằm, hút mỡ... Biết bao công sức, tiền của, tài năng, thời giờ được đổ vào cho mục tiêu làm đẹp, hay nói cách khác, cho một cuộc biến hình: biến từ một hình hài không được ưa chuộng sang một hình ảnh được quí mến hơn, tin yêu hơn, ít là trong cái nhìn chủ quan nào đó. Phải chăng chính Ðức Giêsu cũng muốn được yêu mến và tin tưởng hơn khi Ngài biến hình trước mặt các môn đệ? Kinh Thánh kể rằng Ðức Giêsu đem theo ba ông Phêrô, Gioan, và Giacôbê lên núi, và Ngài biến hình trước mặt các ông. Qua tường thuật của các thánh sử, người ta ghi nhận được rất nhiều gương mặt của Chúa Giêsu: nào là Chúa Giêsu lúc 12 tuổi với gương mặt khôn ngoan thông thái khi đứng giữa các luật sĩ biệt phái để biện luận và lý giải Kinh Thánh; nào là Chúa Giêsu với gương mặt hiền lành khiêm nhường khi cúi đầu chịu thanh tẩy trên sông Giođan; nào là Chúa Giêsu với gương mặt uy quyền khi giảng dạy và làm phép lạ; hay gương mặt bị bầm dập với máu me đầm đìa trên thánh giá. Ði theo Chúa đã lâu, tiếp xúc Ngài đã nhiều, chứng kiến việc Ngài bị người đời chê ghét đòi đẩy xuống núi cho chết đi, hay khi dân chúng rần rần chạy theo ca tụng tôn vinh, xin Ngài làm vua, nhưng dường như chưa có lúc nào dung nhan của Ngài được các tông đồ yêu mến và quí chuộng cho bằng lúc biến hình trên núi. Thánh Kinh nói rằng khi biến hình thì áo của Ngài trắng phau như ánh sáng. Trên thế gian chưa ai có thể làm chiếc áo sáng đẹp hơn thế. Còn gương mặt của Ngài thì tươi đẹp đến nỗi các môn đệ cứ ngẩn ngơ mà ngắm, mê mệt như người ta chiêm ngưỡng người yêu vậy. Và rồi, như khi người ta gặp được đối tượng của tâm hồn, chỉ muốn dừng chân xây một túp lều lý tưởng để chung sống với nhau--cho dù túp lều đó có xiêu vẹo miễn sao trong đó có hai quả tim vàng--thì trước dung mạo tuyệt vời của Ðức Giêsu, Phêrô đã thốt lên: "Lạy Thầy, đừng đi đâu làm chi nữa; hãy ở lại đây thôi. Xin để chúng tôi làm ba lều: một cho Thầy, một cho Elia, và một cho Môisen." Lạ quá! Không nhắc đến một chiếc lều nào cho riêng các ông. Thế mới hay khi yêu ai và yêu chân thành thì người ta quên đi chính mình. Có phải vì yêu cái đẹp nơi dung mạo của Ðức Kitô mà Phêrô đã quên đi chính mình? Yêu cái đẹp, mê người đẹp, thích làm đẹp là tính chất rất tự nhiên nơi con người. Không chỉ nơi phái nữ, nhưng luôn cả phái nam. Có điều là trọng tâm hay cách diễn tả của mỗi người mỗi khác, mỗi phái mỗi khác. Quan tâm đến cái đẹp là một bản năng tự nhiên, không có gì là sai trái. Nhưng nếu chỉ dừng lại với việc yêu mến, chăm sóc và chiêm ngưỡng cái đẹp của thân xác, nét đẹp bị giới hạn bởi thời gian, thì quả người ta đang đi vào ngõ cụt. Bởi vì có gắng sức lắm và có nhiều tiền lắm cũng không hơn gì một số tài tử Hollywood: sau mấy mươi năm ra vào viện thẩm mỹ liên tục cũng đành phải chào thua thời gian và tuổi tác. Thánh Kinh nhắc bảo tôi về một nét đẹp mà thời gian không thể đánh gục: nét đẹp của tâm hồn, nét đẹp siêu nhiên, nét đẹp của nhân đức, nét đẹp không bao giờ bị phai tàn, nét đẹp được tìm thấy sau những lúc vất vả leo núi, tức là sau những hy sinh, đấu tranh với tội lỗi đam mê để tiến lên núi cao của Thiên Chúa. Nhận thức như thế, tôi tự hỏi: "Mối quan tâm cho sắc đẹp của tâm hồn đã đạt đến mức độ nào? Thời gian, sức lực, tiền bạc, trí óc được đầu tư cho cái đẹp và những nhu cầu của thân xác vẫn quá nhiều và chênh lệch khi so với những đầu tư tôi dành cho nét đẹp của nhân đức và tâm hồn không?" Ðặt câu hỏi như thế là để soi gương lòng mình, nhìn xem dung mạo của tâm hồn ta có vết nám hay chỗ nào còn ghồ ghề, xần sùi để có thể xác định một cuộc giải phẫu chỉnh hình cho thích hợp, hầu làm cho dung nhan tâm hồn ta được tươi sáng và đáng yêu hơn. Bởi vì nếu không có một lần soi gương lòng mình thì làm sao thấy được hồn ta xấu hay đẹp để mà chăm sóc và sửa sang. Nếu không một lần rà soát nhìn lại lòng mình thì những vết nám, vết thẹo, những dấu hiệu của xấu xí vẫn nằm đó trên gương mặt tâm hồn tôi, và điều tệ hại hơn, là tôi không thấy được dung nhan mỹ miều của Chúa Giêsu trong người khác. Gương mặt không được tươi đẹp đã là một sự đau lòng. Nếu trên gương mặt đó đôi mắt, một bộ phận tối quan trọng, lại không được tinh anh hoặc mù loà thì không biết nỗi đau buồn sẽ lên đến đâu. Cũng thế, dung mạo tâm hồn tôi không được sáng sủa đã là một điều tệ hại, nếu như đôi mắt tâm hồn lại bị nhạt nhoà, không tinh tường để trông rõ dung nhan Thiên Chúa trong cuộc đời và trong tha nhân thì nó tệ hại và khốn nạn biết bao. Giống như các tính chất của đôi mắt xác thịt, đôi mắt tâm hồn tôi cũng có thể đang trong tình trạng mù loà, cận thị hoặc viễn thị: cận thị thì không thấy được xa mà chỉ thấy được những thứ ở gần, và gần nhất có lẽ là chính con người mình. Chỉ thấy những gì của mình cũng tốt, đúng, và có lý, còn của kẻ khác thì vô liêm sỉ, vô học thức, vô luân, vô nghĩa hết. Ðôi mắt viễn thị thì ngược lại: cái gì ở gần lại không thấy rõ, chỉ trông được những thứ xa xa. Ðiều gì ngoài kia cũng tốt: thấy sao cô bạn trong sở làm cứ là đẹp hơn vợ mình, hoặc chồng của người ta sao mà lại dễ tính, hào phóng hơn chồng mình, con cái của nhà người ta sao cứ giỏi hơn con cái nhà mình. Còn đôi mắt mù loà thì ôi thôi, Chúa có biến hình ngay trước mặt tôi, tôi còn không biết, huống gì là nói đến thấy Chúa trong anh em! Thế nhưng, dù đang bị mù loà, cận thị hay viễn thị, dù dung mạo tâm hồn có đang bị méo mó xấu xí, xần sùi cỡ nào thì tôi cũng cần đến một bác sĩ giải phẫu lành nghề. Tất nhiên không bác sĩ giải phẫu tâm linh nào lành nghề cho bằng Ðức Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Chính nơi Bí tích này mà tôi được chứng kiến một cuộc biến hình tuyệt diệu: từ một tấm bánh bình thường nên xác thịt của Con Thiên Chúa, Vua của đất trời, để rồi chính Thiên Chúa trong hình bánh đó sẽ biến đổi con người tội lỗi và bất toàn của tôi nên tươi sáng. Có đến gặp Chúa Giêsu Thánh Thể mới được giải phẫu và biến hình tâm linh. Vì chính nhờ Thánh Thể mà người ta sẽ thấy được những nét đẹp của Thiên Chúa trong anh em--trong người vợ, người chồng, con cái, bạn hữu, đồng nghiệp. Nhờ Thánh Thể mà ta có sức làm đẹp tâm hồn, và rồi tha nhân sẽ thấy được dung nhan Thiên Chúa biến hình rạng ngời trong ta.
Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |