VIỆT NAM GIÁO SỬ Lm Phan Phát Huồn, CSsR PHẦN THỨ TƯ NHỮNG
NĂM KIẾN THIẾT CHƯƠNG BA MƯƠI Công cuộc truyền giáo tại Việt Nam từ 1888 đến 1933
I.- CÁC TU SĨ DÒNG ÐA MINH ESPANHA
. Nhận thấy trật tự và hòa bình đã từ từ vãn hồi trên đất Bắc, Ðức cha Colomer liền khởi công xây cất Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh và đã trù liệu cho giám mục kế vị. Ðức cha đã truyền chức Giám mục cho Cha Maximiano Velasco với sự hiện diện của Ðức cha Puginier và Onate, và của viên Toàn Quyền Pháp tại Ðông Dương. Người dân Bắc Kỳ chỉ được hưởng hòa bình trong thời gian ngắn, giặc giã lại nổi lên phá phách tại các giáo phận Bắc, Trung và Ðông. Chủng viện do cha Muguruza điều khiển đã bị bao vây trong vòng 8 tháng, nhưng cha cùng với các chủng sinh và dân chúng đã tổ chức hệ thống tự vệ một cách khéo léo, nên cha đã được thưởng Bội Tinh năm 1901. Tới năm 1903, dần dần chấm dứt những cuộc cướp bóc và chém giết giáo dân nên số tân tòng từ từ tăng lên. Thật ra từ năm 1884 trở đi, có ít nhiều công chức đã công khai chống đối và làm trở ngại cho việc truyền giáo, cách riêng ở Hưng Yên và Bắc Ninh, nhưng công việc tông đồ vẫn đi đến chỗ tốt đẹp. Như ở giáo phận Trung, trong vòng 12 năm Ðức cha Onate đã chinh phục được 83 làng xã về với Chúa. Ðang lúc các thừa sai cố gắng để rao giảng lời Chúa thì những kẻ đến đất nước này nói là để binh vực đạo Chúa, đã trở nên những kẻ phá đạo vì những ý tưởng vô thần và hành vi vô luân của họ. Mặc dù thế, đạo Công giáo vẫn tiếp tục phát triển nhưng sự phát triển trong thời gian này không do số tăng của dân tân tòng cho bằng số tăng của trẻ con Công giáo. Có những làng không có một người Công giáo nào, vả lại trong những làng có người Công giáo thì những người ấy thường ở chung vào một khu vực với nhau. Giáo phận Trung cũng một phần nào chịu ảnh hưởng của cuộc chính biến Việt-Pháp, giáo phận này gồm những giáo dân cựu trào và rất hãnh diện về những vị tử đạo của mình. Một điều đáng chú ý là đời sống trụy lạc do quân đội viễn chinh Pháp đưa đến không có ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dân trong giáo phận này. Trái lại cuộc chính biến Việt-Pháp đã có ảnh hưởng rất xấu trên giáo phận Bắc và đã ngưng bước tiến của công việc tông đồ trong khu vực này. Dù thế năm 1893 toàn giáo phận cũng có đến 900 người lớn tân tòng và năm kế tiếp cha Nicanor Lisumdia lập xứ Phủ Lạng Thương, tỉnh lỵ của xứ Bắc Giang, và sau cùng cha này lập xứ Lạng sơn gần biên giới Trung Hoa. Sau đây là tình hình Công giáo tại các giáo phận thuộc dòng Ða Minh vào năm 1892.
1. Giáo Phận Trung Ðàng Ngoài (Bùi Chu 1892-1898) Tại giáo phận Trung, công cuộc kiến thiết được xúc tiến mạnh mẽ: Một khu nhà lớn được xây cất bằng vật liệu nặng tại Bùi Chu làm trường Thần Học, một công trình lớn lao của Ðức Cha Onate Thuận, ban đầu không thành. Ðức Cha còn xây Tòa Giám Mục, Thánh đường Chính tòa và một Nhà Thiên Thần nuôi trẻ mồ côi. Nhiều nhà chung, Nhà Thiên Thần khác đều được Ðức Cha giúp tiền bạc để thực hiện, như Nhà chung Hưng Yên, Nhà chung Phú Nhai. Giáo phận Trung cũng như những giáo phận khác không tránh được những thiệt hại vật chất do những cuộc chính biến Pháp-Việt gây ra nhưng vì ở vào một địa thế cách biệt, nên giáo dân giáo phận ít chịu ảnh hưỏng xấu của quân đội Pháp. Năm 1892, tại Giáo phận Trung có Ðức cha Onate Thuận ở Bùi Chu, cha chính Maximo Fernandez Ðịnh ở Phú Nhai, 9 thừa sai, 4 linh mục dòng người Việt, 52 linh mục Triều, 15 thầy có chức, 231 thầy giảng, 50 chủng sinh lý đoán, 80 chủng sinh Latinh, 577 học sinh trường Thử, 1 nhà Phước dòng có 400 dì, 170.562 giáo dân (trên tổng số 4 triệu) chia làm 33 hạt, 71 giáo xứ và họ đạo, 630 nhà thờ nhà nguyện, 3 nhà nuôi trẻ ngoại đạo chuộc được. Tháng 5, 1898, Cha chính Maximo Fernandez Ðịnh nhận được sắc Tòa Thánh đặt làm Giám mục, kế vị Ðức Cha Onate Thuận từ trần năm trước. Khi ấy giáo phận Trung đã trở nên thịnh vượng và được xếp vào hạng nhất, gồm có 1 thừa sai, 4 cha dòng người Việt, 66 linh mục triều, 9 thầy có chức, 52 chủng sinh, 66 tiểu chủng sinh, 19 nhà phước dòng Ba, 3 bệnh viện, 3 trại phung (cùi), 35 giáo xứ, 710 họ đạo, 189.110 giáo dân (4,7%) (1).
2. Giáo phận Ðông Ðàng Ngoài (Hải Phòng 1882-1892) Giáo phận Ðông Ðàng Ngoài vào năm 1882-1892 gồm các tỉnh Hải Yên, Hải Ninh, do Ðức cha Terrés Hiến cai quản, ngài đã trao việc quản trị giáo phận trong tay cha Garcia Liêm kể từ năm 1889. Cha tổng đại diện Garcia Liêm là một nhà truyền giáo có nhiều khả năng và ưa hoạt động có nhiều uy tín đối với nhà cầm quyền. Tại Kẻ Sặt, cha xây trường Thần học, Thánh đường, chỉnh trang đường phố, chỉnh trang làng xã, xây cất chủng viện, nhà phước, nhà chung. Từ năm 1883, Ðức cha đã mời nữ tu dòng thánh Phaolô đến Hải Phòng,lập những cơ sở từ thiện bác ái và giáo dục. Các nữ tu diều khiển trường St. Dominique. Năm 1892, giáo phận Ðông có những con số nhu sau: 8 thừa sai, 2 cha dòng người Việt, 32 linh mục Triều, 8 thầy có chức, 82 thầy giảng, 30 chủng sinh lý đoán, 20 chủng sinh Latinh, 281 học sinh trường thử, 3 nhà Phước dòng Ba với 51 dì, 6 nữ tu dòng Phaolô điều khiển một trường học: 22 nội trú, 54 ngoại trú, 41.120 giáo dân (trên tổng số dân 2 triệu, 2,05%) chia làm 21 hạt 208 giáo xứ và họ đạo, 1 bệnh viện có 29 bệnh nhân, 4 nhà nuôi trẻ (2).
3. Giáo phận Bắc Ðàng Ngoài (1882-1889) Giáo Phận Bắc Ðàng Ngoài gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng do Ðức cha Colomer Lễ cai quản, để có người kế vị ông đã tấn phong giám nục cho cha Maximiano Velasco. Việc lương dân tiếp tục vào đạo thật đáng kể. Năm 1892, trên 100 người lớn chịu phép Rửa. Ở Thái Nguyên, cha Foronda Băng được chính quyền cho một thửa đất để xây cất Thánh đường. Năm 1894, cha Lisundia Nghi lập giáo xứ Phú Lạng Thương (Bắc Giang) và cũng năm ấy cha lập xứ Lạng Sơn, sau khi được tướng Galliéni nhường cho Giáo Hội một khu đất đẹp nhất trong thị trấn. Năm 1892, Ðịa phận Bắc Ninh tình hình như sau: Ðức cha Colomer Lễ ở Hưng La, Ðức cha phó Velasco Khâm ở Bắc Ninh, cha chính Wenceslao Fernández Sung ở Xuân Hòa, 6 thừa sai, 26 linh mục Triều, 5 thầy có chức, 41 thầy giảng, 8 chủng sinh lý đoán, 29 chủng sinh Latinh, 231 học sinh trường thử, 1 nhà Phước dòng Ba với 41 dì, 23.765 giáo dân (trên tổng số dân 2 triệu rưởi, 0,95%) chia làm 15 hạt, 160 giáo xứ và họ đạo, 140 nhà thờ, nhà nguyện, 7 nhà nuôi trẻ (3).
II. Các Giáo Sĩ dòng Ða Minh thuộc tỉnh Lyon, Pháp (1913-1933 )
Năm 1883 tại Bắc Việt đã có 3 giáo phận do các cha Ða Minh Espanha tỉnh Philippines coi sóc. Giáo phận Bắc thì phía bắc giáp hai tỉnh Quảng Yên, Hải Phòng, Hà Ðông, Sơn Tây. Phía Tây là Sông Cả. Phần đất lớn của giáo phận này trên miền đồi núi, khí hậu xấu và thưa thớt người ở. Năm 1907, giáo phận này có 31.000 dân, 18 cha Ða Minh Espanha và 21 linh mục bản quốc, có 177 nhà thờ và nhà nguyện, Trường thử và trường Latinh ở Ðạo Ngạn có 48 chủng sinh. Giám Mục giáo phận là Ðức cha Velasco ở tại Bắc Ninh. Vào các năm 1902-1905 chính phủ L. Combes rất gay gắt đối với người Công giáo sống dưới quyền bảo hộ Pháp. Riêng tại Hải Phòng, nhà cầm quyền Pháp tỏ ra đố kỵ với các cha Ða Minh Espanha, có lúc các cha đã lo sợ sẽ bị trục xuất khỏi Ðông Dương. Năm 1898, Ðức cha Colomer Giám mục Bắc Ninh đã gửi thư sang Rôma bày tỏ những mối lo ngại đối với nhà cầm quyền và nền hành chính Pháp, đã thiết lập tại đây từ năm 1882. Sau khi đã có sự thỏa thuận giữa Tỉnh dòng Lyon và Tỉnh dòng Manila, ngày 9.1.1902, ba cha Ða Minh Pháp đầu tiên đặt chân xuống Hải Phòng là cha Cothonay 48 tuổi, cha Bardol 26 tuổi và cha Brébion 35 tuổi. Vào tới nơi thì Ðức cha Terres Hải Phòng xin cha Cothonay ở lại thành phố này để phụ trách các giáo dân người Pháp. Cha Brébion vẽ kiểu nhà thờ Ðồ Sơn xong, được lên Phủ Lạng Thương thuộc giáo phận Bắc Ninh. Cha Bardol ở lại học tiếng tại Quảng Yên thuộc giáo phận Hải Phòng. Trong vòng 5 năm, tám cha dòng Ða Minh Pháp đã làm việc rải rác trong ba giáo phận Ða Minh do các cha Ða Minh Espanha điều khiển. Mối cường lực với nhà cầm quyền Pháp đã bắt đầu dịu dần xuống và các cha Espanha vẫn tiếp tục làm việc như thường. Lúc này cha Cothonay vận động để các cha Ða Minh Pháp có một mảnh đất riêng làm việc hoặc tại Hưng Yên, hoặc tại miền Quảng Yên, Móng Cái. Các giám mục Espanha tỏ ra rất thông cảm về nguyện vọng chính đáng này, nhưng bất thình lình dòng Manila chối phắt không muốn nhượng bộ một phần đất nào cả. Năm 1908 cha Cothonay trở về Pháp. Trong khi ấy thì Ðức cha Velasco mới lên giám mục Bắc Ninh khuyên các cha Pháp nên đi thăm dò hai tỉnh miền Lạng Sơn, Cao Bằng. Hai tỉnh này thuộc giáo phận Bắc Ninh nhưng khí hậu và địa dư khác hẳn với miền Trung châu. Tại các thôn làng thì có nền hành chính bản xứ. Tất cả các miền Thượng chưa hề nghe nói đến đạo Thiên Chúa bao giờ. Năm 1876 tại Cao Bằng có chừng 300 giáo dân là những người Công giáo bị các vua bắt đạo đầy lên đây, trong đó có Thầy sáu Trần Lục sau này là linh mục đã xây cất khu Nhà thờ Phát Diệm nổi tiếng nhất tại Việt Nam. Suốt biên giới Trung Hoa có nhiều đồn lũy Pháp canh phòng để giặc cướp Tàu khỏi tràn qua. Binh sĩ Pháp đóng tại các đồn này từ năm 1886, rất ít có dịp gặp linh mục, phải xuống Phủ Lạng Thương cách đấy 100 cây số mới gặp được linh mục. Ông cũng cho biết các cha Ða Minh Espanha chỉ làm việc tại đồng bằng thôi, và ông mong muốn có các tuyên úy Pháp tại vùng Lạng Sơn, Cao Bằng. Ông cũng nhấn mạnh là điều đó sẽ không làm tổn thương gì cho quyền lợi của các cha Ða Minh Espanha cả. Một tháng sau khi nhận bức thư trên, tòa giám Mục Bắc Ninh đã gởi lên Lạng Sơn một linh mục, ông đến lập nhà nguyện tại khu Văn Miếu, chung quanh có chừng năm chục giáo dân từ miền xuôi lên tụ họp ở đây. Vì có sự khuyến khích của Ðức cha Velasco giám mục Bắc Ninh là vị vốn lưu tâm tới số 30.000 người sống tại miền Lạng Sơn, Cao Bằng, nên từ năm 1908 cha De Bellaing đã tới lập trụ sở đầu tiên tại Bản Quấn trên khu cao nguyên chân núi Mẫu Sơn, ở giữa một miền có mỏ than lộ thiên gọi là Na Dương. Lúc cha Brébion còn đang ở Bắc Ninh, đức cha Velasco đã đề nghị nhường phần đất Lạng Sơn, Cao Bằng cho các cha Ða Minh Pháp (4). Cha Laboré lên giữ chức giám tỉnh Dòng năm 1910 đang do dự chưa muốn nhận ngay vì còn thiếu nhân sự thì ngày 30.12.1913 có Sắc dụ Rôma lập tòa Phú doãn Lạng Sơn Cao Bằng và trao miền này cho tỉnh dòng Lyon. Phú doãn tông tòa này gồm hai tỉnh Lạng Sơn Cao Bằng và một phần tỉnh Hà Giang lấy sông Lô làm ranh giới. Hội Truyền giáo khuyến khích các cha chóng làm cho chốn hoang vắng này trổ bông. Tòa Thánh đặt cha Cothonay 60 tuổi lân làm vị Phú doãn đầu tiên. Lúc đó miền hoang vu này gồm có 12.000 người Việt Nam. 6000 người Tàu ở tại những nơi có buôn bán, 170.000 người Thổ và người Nùng, 15.000 người Mán và Mèo. Tất cả các dân thiểu số này đều có tiếng địa phương của họ.
1. Ðức Ông Cothonay Phú doãn Lạng Sơn (1913-1925) Theo Sắc lệnh Tông Tòa ngày 30.12,1913 thì Phú doãn Tông tòa Lạng Sơn gồm hai tỉnh Cao Bằng Lạng Sơn và một phần đất tỉnh Hà Giang (phía tây sông Lô) được thành lập do đức Ông Cothonay đứng đầu. Ông đã đặt trụ sở tại Văn Miếu. Cơ sở Văn Miếu gồm căn nhà ba gian, và một nhà nguyện nhỏ. Chung quanh có chừng 50 giáo dân từ miền xuôi được mộ lên đấy ở. Các cha đã cho dựng gấp một căn nhà lá để có chỗ chứa trọ 8 cha và 25 chủng sinh. Chẳng may trận bão lụt lớn chưa từng thấy ngày 14.7.1914 đã gây thiệt hại lớn cho cơ sở này. Mãi đến năm 1923 mới bắt đầu xây nhà thờ chính tòa do cha Brébion vẽ kiểu. Các cha còn lập ra xứ Mỹ Sơn, chiêu mộ dân từ đồng bằng lên và lập tiểu chủng viện tại đây. Ðức Ông Cothonay đã đến thăm Cao Bằng, một thành phố nằm trên bán đảo giữa sông Bằng Giang và sông Hiềm. Tại Cao Bằng có hơn kém 100 giáo dân. Ðức Ông cũng đến thăm Cao Bình về phía Bắc Cao Bằng 10 cây số. Từ khi tới đây cha Bardol đã rửa tội được ba người và đức Ông Cothonay đã ban phép thêm sức cho 8 người tại đây. Ðức Ông viết: "Tình hình Cao Bằng khả quan hơn. Trước đây hầu như không có một người giáo dân nào; cha Fraisse đã mua hơn một mẫu tây đất ở cuối đảo. Ngài dựng một nhà thờ bằng gạch dài 23 mét rộng 8 mét có tháp chuông, và nhà xứ lợp ngói. Hiện nay số giáo dân đã lên tới trăm người. Chủ nhật trước tôi đã ban phép Thêm sức cho 51 người trong đó có 3 trẻ người Pháp." (5). Sau đi kinh lý miền Cao Bằng về thì có dự định mở thêm các xứ Tà Lùng, Pò Mã, Thất Khê. Nhưng từ năm 1913 chỉ còn lại có 6 vị truyền giáo tại chỗ nên Ðức Ông đã kêu cầu với Bắc Ninh và họ gửi lên 4 vị Linh mục. Ngay kỳ ấy giáo phận cũng xin các Dì Ðức Mẹ Truyền giáo (Notre Dame des Missions) tới giữ khu Văn Miếu để lo cho các con gái lai. Ðệ nhất thế chiến vừa chấm dứt thì giáo phận nhận được 5 LM. Pháp. Năm 1920 cha Brébion được đặt làm phó tỉnh Dòng đầu tiên. Tháng 10 năm 1920, Ðức cha Ruiz giám mục Hải Phòng gửi thư cho đức Ông Cothonay đề nghị nhường một phần phía Bắc cho Lạng Sơn. Ðề nghị này rất quyến rũ vì khu này hiện có 20.000 giáo dân và nhiều thầy giảng. Nhưng điều mà các cha Espanha đã từ chối năm 1908 thì lúc này Lạng Sơn không nhận được vì thiếu nhân sự. Theo bản phúc trình của Tòa Phủ doãn gởi cho hội đồng tỉnh Dòng cuối năm 1921 thì lúc đó giáo phận có 408 người tân tòng đang theo học đạo, 1877 người công giáo trong đó có 597 người Pháp. Mới nhận việc được từ 7 năm mà đã có 9 cha Ða Minh kể cả vị Phủ doãn, một cha Thừa sai Paris, 4 linh mục bản quốc do Bắc Ninh cho mượn, 19 thầy giảng, 11 chủng sinh, 7 người theo học triết lý. Giáo phận đã có 22 nữ tu sống trong 6 nhà Dòng, có 4 trường tiểu học Pháp Á. Trong năm 1921 đã rửa tội được 220 người, 40 người chịu phép Thêm Sức. Tháng 12.1921, đức cha Lecroart S.J. đến kinh lược Phủ doãn Lạng Sơn, tiếp đến năm 1923 cha Périer, giám tỉnh Lyon đến kinh lý và năm 1925 có sắc lệnh của bộ Truyền giáo đặt cha Maillet làm vị Phủ doãn thứ hai giáo phận Lạng Sơn, thay thế đức Ông Cothony đã già cả. (6)
2. Ðức Ông Maillet, phủ doãn Lạng sơn (1925-1929) Vừa mới nhận chức Phủ doãn, Ðức ông Maillet đã xây hẳn một cơ sở lớn lao: Chủng viện Mỹ Sơn. Ðức ông Maillet chỉ mải miết lo cho chủng viện và bỏ rơi các cha đang làm việc tông đồ rải rác ở các nơi hẻo lánh trên miền Thượng Du. Trong cả miền chỉ có hai thị tứ đáng kể là Lạng Sơn với chừng 3.000 dân số, và Cao Bằng thì ít hơn chút nữa. Dân chúng trong miền sống rất tản mát. Mỗi xóm chỉ có hai ba gia đình ở rải rác trong các thung lũng, xóm to hơn nữa cũng chỉ được sáu bảy gia đình. Họ ở trên các nhà sàn rất thô sơ làm bằng tre hay bằng những khúc gỗ để gồ ghề, giữa những khóm cuối và tre um tùm. Việc hành chính chia làm hai ngành: Pháp và Nam. Giới Pháp thì giữ thái độ trung lập đối với các tông giáo. Nếu các cha khéo đi lại ngoại giao thì mỗi khi cần đến cũng có thể can thiệp vào những vụ bất công, và nhờ vậy các cha gây được cảm tình với dân chúng; đôi khi có những gia đình vì đấy mà xin đi đạo. Các miền chia thành Châu thay và Phủ và Huyện nơi đồng bằng. Các ông Tri Châu và tùy viên của họ tỏ ra rất lễ độ đối với các cha, nhưng trong thâm tâm họ không ưa thích gì người khác xin theo đạo công giáo, và không muốn cho các giáo dân thuật lại các công việc hành chánh với các cha. Trong cả giáo phận có 20 vị truyền giáo và 5 linh mục bản quốc. Vì các cha ít có gặp dân chúng, nên phương pháp thích hợp hơn cả trong việc giảng đạo là sự hiện diện của các thầy giảng lại là người Thượng. Vấn đề tuyển chọn thầy giảng cũng rất tế nhị, vì người Thượng không dễ chấp nhận đời sống độc thân như các thầy miền xuôi. Tại Trung Hoa, các thầy giảng đều có vợ con và hoạt động đắc lực. Nhưng ở Việt Nam xem ra dân chúng không tín nhiệm ở các thầy giảng có vợ. Năm 1930, số thầy giảng độc thân trong giáo phận là 13 thầy; công việc thường ngày của họ là trợ lực với các thừa sai, và nhất là dậy học. Hết thảy các thầy này là người Kinh từ miền xuôi di cư lên. Về số các dòng nữ thì có 8 dì người Âu châu thuộc hai dòng thánh Phaolô de Chartres ở Mỹ Sơn, và dòng Ðức Mẹ truyền Giáo (Notre Dame des Missions) ở khu Văn Miếu. Ðắc lực hơn cả và lăn lộn với dân chúng thì có 25 dì Phước Việt Nam thuộc dòng Ba Ða Minh nhưng không có lời khấn. Họ xuất thân từ dân chúng, đi lại dễ dàng với dân chúng, lại tận tâm và hoạt động hiệu lực bên cạnh các đàn bà con trẻ. Họ sống bằng nghề bán thuốc viên cao lương hoàn tán. Tại nhà thờ họ giữ mục đọc kinh chung để giúp dân chúng cầu nguyện và thông hiểu lẽ đạo. (7). Giáo Phận có 5 trường tiểu học gồm 80 trẻ nam và 60 trẻ nữ, và một trường hỗn hợp đón 120 trẻ đa số là người ngoại đạo. Ngoài ra còn có một nhà dưỡng lão, 3 nhà dục anh, một trại cùi, 3 sở phát thuốc miễn phí. Về các tổ chức thì kể là còn ít oi, nhưng điều yên ủi hơn cả là thấy các dân thiểu số miền núi tỏ ra thiện tình đối với công giáo. Trong miền không có sư vãi, chỉ có các Mo và Then; họ thường được mời đến khi trong nhà có người bệnh nặng hoặc có đám tang. Các cha rất ít dịp gặp các Mo Then này. Riêng năm 1930 có 223 người xin học đạo Công giáo. Tháng 9 năm 1930 Ðức cha Dreyer Khâm Sứ Tòa Thánh lên thăm tất cả các địa điểm truyền giáo trong giáo phận. Ngài tỏ ra thông cảm các nơi khó khăn của mỗi nơi và tỏ lòng rộng rãi trong việc ủy lạo tiền của. Ngài khuyên nên gửi các Ðại chủng sinh về theo học tại trường thánh Anbêtô Khoái Ðồng Nam Ðịnh các cha dòng Espanha mới mở. Thế là 7 thầy đại chủng sinh được gửi đi học tại Nam Ðịnh năm ấy. Chú Thích: 1. Sử Ký Ðịa Phận Trung: trg.112. Ðoạn này viết theo Bùi Ðức Sinh: Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam. Tập III 2 trg.610-611 (Roneo). 2. Viết theo Bùi Ðức Sinh Op.cit tập III 2 tr 609-610 (Roneo). 3. Launay Histoire générale de la Société des Missions Etrangères. Quyển III trg. 548. Số giáo dân trong 6 giáo phận của dòng Ðaminh 235.947 người. Viết theo Bùi Ðức Sinh Op. cit. Tập III 2 trg. 608-609 (Roneo). 4. Thư của Cha Velasco ngày 14-2-1895. 5. Thư ngày 8.2,1915. 6. Ông mất ngày 27.5.1926. 7. Muốn rõ chi tiết xem Phạm Phúc Khánh: Lược Sử Ðịa Phận Lạng Sơn. trg. 30-42 về tiểu sử Ðức Ông Hedde xem ở trg. 43. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |