HỘI XUÂN BÍCH

CÔNG CUỘC ÐÀO TẠO LINH MỤC

Linh mục Bart. Nguyễn Quang Anh

LTS: Vào ngày 27-29.06.2000 sắp đến đây, tại Nhà thờ Chính toà Phủ Cam, Giáo phận Huế sẽ có Ðại Lễ kỷ niệm đánh dấu 150 năm thành lập Giáo phận. Nhân dịp này, Cha Bartôlômêo Nguyễn Quang Anh, một giáo sư của Ðại Chủng viện Kim Long ở Huế (một trong bốn Ðại Chủng viện của cả nước), trình bày công cuộc đào tạo linh mục của Giáo tỉnh Huế với phần đóng góp công sức quan trọng của các cha thuộc Tu hội Xuân Bích. Tiện đây, chúng tôi thiết tha kêu gọi sự tiếp tay của quý độc giả cho công cuộc đào tạo linh mục ở quê nhà. Mọi liên lạc và đóng góp cho Ðại Chủng viện tại Huế, xin gủi về: Linh mục Giám đốc Ðại Chủng viện Nguyễn Bình Tĩnh hay Linh mục đặc trách Ơn gọi Micae Phaolô Trần Minh Huy, 24 Kim Long, Huế, Việt Nam.

 

1. Nguồn gốc và tinh thần Hội Xuân Bích :

Hội Xuân Bích do Cha Jean-Jacques Olier (1608-1657) sáng lập tại Paris vào những năm 1641-1642 để đào tạo các cha sở tương lai theo tinh thần Công Ðồng Trente, hầu phục hưng công cuộc truyền giáo. Ở Pháp, Ðức Hồng Y Bérulle và Cha Charles de Condren đã khởi xướng Phong trào nầy bằng việc "canh tân bậc linh mục". "Chủng viện" theo tinh thần cha J.J. Olier được hình thành từ năm 1641 tại giáo xứ Saint-Sulpice, và cũng từ đó được gọi là Chủng viện Xuân Bích. Ðể điều khiển Chủng viện, một nhóm linh mục cùng chí hướng được thành lập: liên kết với nhóm bằng đức ái huynh đệ và tận hiến đời sống linh mục để phục vụ việc đào tạo các linh mục tương lai. "Họ phải được khơi động bởi một đời sống tâm linh, với tất cả các đặc tính: tinh thần tông đồ, ý thức cầu nguyện và đời sống nội tâm. Ðược tập trung vào sự kết hợp với Ngôi Lời Nhập Thể, sự sống thiêng liêng nầy phải được nuôi dưỡng bằng Kinh Thánh, và phải được đổi mới bằng Thánh Thể và Nguyện gẫm. Lòng sùng kính Ðức Mẹ và các Tông đồ giữ một địa vị quan trọng" (Lịch sử Hội Xuân Bích, tr. 117).

Hội Xuân Bích được nhiều địa phận mời đến để hướng dẫn việc đào tạo cho các linh mục ở Pháp. Ðến năm 1651 sang Montréal (Canada). Năm 1791, Ðức Cha Caroll, Giám Mục tiên khởi Hoa Kỳ mời sang Mỹ. Số các Chủng viện lên dần dần từ 15 chủng viện ở Pháp, và số thành viên cứ lớn lên từ 70 (1704) đến 140 (1789)... Vào suốt thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, Hội đã phát triển tại Pháp, Canada và Hoa Kỳ.

2. Chủng viện Liễu Giai :

Một giai đoạn mới của lịch sử Hội đã được ghi dấu bằng việc trở lại phong trào truyền giáo, với việc đi Việt Nam của hai hội viên người Pháp (1929), của hai người Canada đi Nhật Bản (1933) và đi Trung Quốc (1934). Năm 1950, Hội đảm nhiệm nhiều chủng viện tại Châu Mỹ Latinh và Châu Phi.

Năm 1929, hai cha Paliard và Paul Uzureau đến Hà Nội, rồi cha Jean Raison năm 1930. Ðịa phận Hà Nội đã mời các cha Xuân Bích đến lập chủng viện Liễu Giai, để đón nhận các chủng sinh của các địa phận Hà Nội và Thanh Hóa. Ngày tựu trường đầu tiên 01.09.1933 với 31 chủng sinh, có cả của các địa phận khác như Phát Diệm, Hưng Hóa, Bùi Chu và Nam Vang cũng gởi chủng sinh đến. Ðến năm 1945, số chủng sinh lên đến 145. Sau thời gian gián đoạn do chiến tranh Ðông Dương gây nên, Chủng viện lại được tăng cường thêm bởi nhiều cha mới đến, như các cha Antoine Carret, Daniel Bouis, Yves Hémon, Pierre Gastine và Raymond Deville ...

Sau Hiệp định Genève (1954), một ban giáo sư mới được hình thành gồm có các cha Emile Stutz (từ Trung Quốc sang), Courtois (Lịch), A. Villard (Vi), Vincent Corpet (Xuân), Mic. Barnouin (Sơn) và Fr. Bouyer (Bình) đến Vĩnh Long (1954-1956) và Thị Nghè - Saigòn (1956-1962). Còn thêm ba cha Trần Thái Ðỉnh, Nguyễn Khắc Xuyên và Ðông Anh đến tăng cường thêm.

3. Chủng viện Huế kế thừa Liễu Giai :

Năm 1962, do lời mời của Ðức Cha Ngô Ðình Thục, Tổng Giám mục Huế, Chủng viện Liễu Giai đã chính thức dừng bước tại Kim Long, bên cạnh Hoàng thành Ðại Nội Huế với danh hiệu là "Chủng viện Huế", để đặc trách việc đào tạo các chủng sinh thuộc Giáo tỉnh Huế gồm các địa phận : Huế, Ðà Nẵng, Kontum, Qui Nhơn, Nha Trang, Ban Mê Thuật, có thể nói là Chủng viện Miền. Số chủng sinh ngày càng gia tăng, từ con số 129 (năm 1962) đến con số 150 (năm 1972). Số các cha giáo sư cũng tăng dần lên: B. Nguyễn Sơn Lâm và P. Nguyễn Bình Tĩnh (1964), Trịnh Thiên Thu (1967), Ant. Trần Minh Hiển, Bùi Châu Thi, Jos. Nguyễn Chính Duyên, Dom. Trần Thái Hiệp, Bart. Nguyễn Quang Anh, JB. Trần Ngọc Quỳnh và Mai Ðức Vinh (1969), Hồng Kim Linh (1972).

Năm 1964, cũng từ Huế theo lời mời của Ðức Cha Nguyễn Văn Thiện, Giám Mục Vĩnh Long, đồng ý với Ðức Cha Trần Văn Thiện, Giám Mục Mỹ Tho, Cha P. Gastine với ba cha Fr. Bouyer, B. Nguyễn Sơn Lâm và B. Nguyễn Quang Anh (mới chịu chức) trở về lại Vĩnh Long để lập thêm một chủng viện mới trên cơ sở "Nhân vị cũ". Hai chủng viện Huế và Vĩnh Long hoạt động đồng hành với nhau cho đến mùa Xuân 1975.

Năm 1966, Ðại chủng viện Huế có một bề trên mới là cha B. nguyễn Sơn Lâm để tiếp tục công việc giáo dục. Chủng viện phát triển tốt đẹp lắm, số chủng sinh tăng thêm nhiều quá, nên năm 1973 phải mở thêm một phân khoa Triết tại Ðà Nẵng, tức là Ðại Chủng Viện Hòa Bình với các cha Phạm Năng Tĩnh, Trịnh Thiên Thu, FX. Nguyễn Tiến Cát, P. Nguyễn Lân Mẫn, JB. Nguyễn Văn Ðán... Niên khóa 1974-1975, Ðại Chủng viện Hòa Bình có đến 120 chủng sinh. Ðầu năm 1975, cha B. Nguyễn Sơn Lâm được chọn làm Giám Mục Ðàlạt và cha J. Nguyễn Chính Duyên lên thay thế.

Biến cố 75 bắt buộc Chủng viện ngưng hoạt động : các cha Pháp trở về lại xứ sở, các cha Việt Nam dần dần đi làm mục vụ trong các địa phận. Mấy cha lưu lại ở Ðà Nẵng cũng cố gắng thích nghi Chủng viện tại Phú Thượng với hoàn cảnh xã hội mới cho đến năm 1982.

4. Chủng viện Huế được phục hồi :

Mùa Xuân 1994, Ðức Cha Têphanô Nguyễn Như Thể được đặt làm Giám Quản Tông Tòa Tổng Giáo Phận Huế. Công việc đầu tiên là chính thức mời các cha Xuân Bích trở lại Huế làm việc. Chủng viện mở cửa vào ngày 22. 11. 1994 đón nhận 40 chủng sinh khóa I của ba địa phận Huế, Ðà Nẵng và Kontum. Cha P. Nguyễn Bình Tĩnh làm Giám đốc. Ban giáo sư mới gồm có các cha B. Nguyễn Quang Anh, FX. Nguyễn Tiến Cát, P. Nguyễn Lân Mẫn, JB. Trần Ngọc Quỳnh. Một năm sau, cha JB. Nguyễn Văn Ðán từ Ðà Nẵng ra tăng cường. Tiếp đến, các cha Ant. Trần Minh Hiển, D. Trần Thái Hiệp, J. Trịnh Văn Thậm hợp lực thêm, rồi từ Pháp cha L. Nguyễn Văn Bính về năm 1996 và cha Micae-Phaolô Trần Minh Huy năm 1999. Ðến nay (năm 2000), với ba khóa (94-96, 96-98, 98-2000), số chủng sinh được 92 và 15 tu sinh của hai Dòng Thiên An , Thánh Tâm.

5. Một mùa gặt đầy khích lệ ... hướng về tương lai :

Số các linh mục cựu sinh viên Xuân Bích rải rác từ Bắc chí Nam, từ năm 1933 đến 2000, khá đông. Tờ Liên Lạc "Giỗ Tổ Xuân Bích 1993" ghi lại được 383 linh mục từ sông Gianh trở vào. Số linh mục cựu sinh viên Xuân Bích ở phía Bắc không kiểm kê được, song hiện có các nhân vật tiêu biểu như Ðức Hồng Y Giuse-Phaolô Phạm Ðình Tụng, Ðức Cha Phụ Tá Giuse Nguyễn Ðắc Trọng, Cha Chính địa phận Trần Văn Tông và Cha Giuse Nguyễn Ngọc Oánh, Giám học Ðại Chủng viện Hà Nội, Ðức Cha FX. Nguyễn Văn Sang - Giám Mục Thái Bình, Ðức Cha Bat. Nguyễn Sơn Lâm - Giám Mục Thanh Hóa, Cha Quynh - Tổng Ðại Diện Ðịa phận Hải Phòng, Cha JB. Lưu Văn Khuất - Tổng Ðại Diện Ðịa phận Thanh Hóa, ...

Hằng năm ngày 21.11 lễ Ðức Mẹ Dâng Mình vào Ðền Thánh, các cựu sinh viên Xuân Bích tụ họp nhau về Ðại Chủng Viện Huế để gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm mục vụ, gặp gỡ các cha giáo cũ và các em chủng sinh để tạ ơn Chúa và nhắc lại lời hứa Linh mục, hầu tiến thêm một bước mới trong đời sống tông đồ.

Huế, Lễ Thánh Giuse Năm Thánh 2000


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com