TỰ THUẬT

(Kỳ 3)

Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, C.Ss.R.

 

LTS: Thầy Marcel Nguyễn Tân Văn, Dòng Chúa Cứu Thế, sinh ngày 15.03.1928 và qua đời ngày 10.07.1959 tại Việt Nam, đang là một "hiện tượng lạ" trong đời sống của người Công Giáo trẻ tại Âu Châu, cách riêng ở Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi của Thầy Marcel Văn theo mẫu gương cậy trông vào Chúa của Chị Thánh Têrêxa Hài Ðồng Giêsu đã lôi cuốn nhiều người trẻ Công Giáo ở Châu Âu đang chới với giữa những bấp bênh của một xã hội tiêu thụ khám phá lại hình ảnh Thiên Chúa từ nhân luôn quan tâm chăm sóc đến con cái của Ngài. Từ số tháng 05.2000, Nguyệt San Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp đã khởi đăng "Tự Thuật" của Thầy Marcel Văn được viết ra vào những năm 1945-1946 theo lời yêu cầu của Cha Giáo tập Antonio Boucher sau khi ngài đã sớm nhận ra nơi Thầy Văn một tấm gương sống đạo đức, nhiệt thành và phó thác.

 

Tình huynh đệ

Gia đình con, trong có ba anh em, con vẫn còn là bé út. Hai anh chị con thì ngày ngày cắp sách đến trường làng, còn mỗi mình con ở nhà với thày mẹ. Những lúc ấy thật là buồn, nhưng con rất chú ý, hễ động nghe tiếng ra chơi, là con thoăn thoắt chạy ra cổng trường để đón anh chị, những lúc ấy con được rất nhiều hình, những hình ảnh voi ngựa bé bủn, tuy chẳng có gì là ý nghĩa, thế mà cũng làm con vui thú lắm. Rồi tức tốc con chạy về đem khoe mẹ những món quà kỳ khôi ấy, và hễ mẹ có cho bánh kẹo gì, con cũng chạy đem chia cho các anh chị con ngay.

Ô, hồi ấy chúng con sống có những ngày rất yêu thương, mặn nồng. Ngoài những giờ phải đi học, còn thì lúc nào con cũng được anh chị quây quần nô giỡn. "Em bé" cái tên cưng nhất con được nghe mỗi khi anh chị gọi con đi chơi, hay cho tặng một món quà.

Trong các ngày thứ Năm, ngoài giờ mẹ dậy bổn, vì con tuy bé nhưng cũng phải có chương trình học hành như hai anh chị, chỉ khác có một điều là các anh chị thì học chữ còn con thì học bổn, hay tập chào hỏi, ăn nói lễ độ.v.v. và chính mẹ làm bà giáo dậy con. Nhưng hễ hết giờ học ấy thì con lại được chị Lê đem lại bên án thư để dậy con học chữ. Nhưng đó chỉ là một lẽ để chị dành phần giữ con, thế cho cô ở mà thôi, chứ thật ra chị chỉ dậy con vài ba chữ A B C qua quýt rồi đùa nghịch với con, hay giở hình ra cho con coi. Rồi chúng con, cả ba đem nhau ra vườn rước kiệu, hoặc dựng nhà dựng cửa, xây thành đắp lũy, đào ao, tát chuôm, làm làng lập ấp, rất là vui thú.

A! con nhớ đến những cuộc rước kiệu chúng con tổ chức, thì thật là buồn cười; đôi khi có cả trẻ con hàng xóm đến dự. Những vật dụng trong cuộc rước kiệu thì rất sơ sài; kiệu nặn bằng đất sét, chuông cũng bằng đất sét, mà những thứ đó thì tuyền là do bởi bàn tay khéo léo của anh Liệt tạo ra. Tuy nhiên, không kém phần mỹ thuật. Cờ quạt thì toàn bằng lá chuối chen lẫn với những cánh hoa tươi đủ mầu, chăng trải từ đầu nọ đến đầu kia, thật không khác gì những sợi tơ màng nhện được trang điểm. Tất cả được bày giãi do trí tưởng tượng non nớt của chúng con. Duy chỉ có mẩu ảnh Ðức Mẹ là lấy ở đầu giường đem ra.

Khi việc trang hoàng đã xong, chúng con đánh trống bằng miệng, thổi kèn cũng bằng miệng, triệu tập tất cả lại chung quanh kiệu Ðức Mẹ, bé bằng nắm tay; rồi chúng con hát; hát xong thì cắt phần việc cho mỗi người; anh thì làm cha, anh thì làm đồng nhi, anh thì làm phường trống, anh thì thổi kèn; còn các cô con gái phải đóng vai học trò, và bà dòng để đọc kinh. Nhưng có nhiều lúc thiếu chân, nên một người mà đóng hai ba vai, như anh làm cha, thì một thể phải khiêng kiệu, và làm phường trống; phải chia quãng ra mà hành sự; phải đọc kinh lìu xìu một tí, rồi thỉnh thoảng phải đánh trống "tung tung" để mọi người đi theo đều. Lúc nào lần hạt thì kiệu ngừng lại một chỗ. Sau cùng đến cuộc chầu phép lành. Chúng con không có "hào quang" nên chỉ rung chuông và cúi đầu trước ảnh Ðức Mẹ mà thôi.

Ô, cái cảnh tượng hồn nhiên ấy, nếu các thiên thần trên trời có đưa mắt nhìn xem, chắc các đấng không thể khỏi nín cười được, và với cặp mắt Mẹ hiền dịu, không thể nào không theo dõi từng cử chỉ bé bủn của lũ bé chúng con. Con cảm tưởng như khi ấy Mẹ đã mỉm cười với đàn con thơ bé ấy, và biết đâu, chính Mẹ cũng đã đến dự cuộc rước ấy với chúng con.

Thưa cha, những cuộc rước ấy rất vui, không những xác, mà còn làm cho cả hồn con càng có một giây thân mật bền chặt với Mẹ trên trời nữa. Bởi thế, có bao giờ thày mẹ cấm chúng con rước kiệu đâu? Chỉ có cô ở là không bằng lòng, vì cô phải quét sân.

Sau những cuộc rước ấy, con còn được anh đưa di chơi xa. Có thể nói được là đi săn. Thưa cha thú lắm. Muốn dễ dụ con theo, anh cũng thường lấy cái mốt cho con "đi ngựa" như thày, để anh đưa đi bắn chim, hoặc săn chuột. Anh con có cái tài bắn ná cao su đặc biệt, và tìm hang chuột rất giỏi. Thường là về mùa gặt, các cánh đồng khô cạn và quang đãng, anh thường đem con vện đi ra đồng săn chuột. Các chú chuột nhắc bé tí, nhũn nhặn, hiền lành, coi rất dễ thương. Thường con rất ưa chơi với những con vật ấy, nhưng ít khi chơi được lâu, vì bà mèo thường hay ghen, nên đã cướp mất của con bao nhiêu là sự vui thú ấy. Các chú chim cũng phải trong cơ hội ngặt nghèo như thế, nên đã làm cho chúng con mất cái thú nghe chim hót trong nhà.

Nhưng những cuộc đi săn thường hay quyến dũ anh em nhà thiện xạ đi xa quá trớn. Lắm lần bị trẻ con làng bên đón đường đột kích, cùng ý của chúng chỉ là muốn bỏ bụng vài ba chiếc bánh, hay gói kẹo, mà không cần phải xin ai, nên hễ cứ thấy trẻ lạ mặt là ào ra hạch họe để thỏa sự thèm khát.

Nhưng anh em chúng con lắm lần cũng chả sợ. Cái sức mạnh đã làm cho anh hiên ngang lắm, và đã chiến thắng nhiều phen, là chiếc ná cao xu. Nhưng cũng có lần phải cấp tốc rút lui, vì lực lượng chúng đông. Khổ một nỗi, là cuộc giao tranh như vậy thường xẩy ra, nên về sau mẹ đã ra lệnh cấm anh em nhà thiện xạ không được xông pha quá trớn nữa.

Thưa cha, chắc cha cũng thừa hiểu rằng: những câu truyện đánh đấm nhau ấy, có thể đưa con trẻ đến một chỗ vô giáo dục được, vì thế mẹ đã cấm. Nhưng cũng tỏ ra tình anh em rất bền chặt.

Anh con chẳng khi nào chịu lùi bước khi chưa lấy lại được cho đứa em chiếc bánh đã bị cướp, hoặc gói kẹo đã bị xâm chiếm. Dầu nguy hiểm mấy anh cũng cứ xông pha. Có lần bị sưng cả mặt lên vì kháng chiến cho em. Mà con, cũng thấy lòng dũng cảm, tuy bé thì bé, con cũng biết nhặt đá cho anh bắn, và khi có thể, con xông vào đám chiến như con chó dữ, dùng răng để cắn, nhất là khi thấy anh đã bị thương. Và sau mỗi lần bình chiến là anh em lại thấy giây thân mật ghì kết chặt chẽ đôi lòng lại.

Song thảm thay! ngày vui đang tươi sáng, thì đột nhiên, một vòm mây đen xám vụt đến xô che ánh mặt trời. Anh con, Chúa đã sớm dắt vào con đường đau khổ. Vừa được 13 tuổi, thánh giá tàn tật đã đặt để trên vai anh.

Anh bị đau mắt một dạo, rồi không rõ, mắt anh cứ bị mờ dần đi, và cho tới ngày nay anh vẫn còn phải ở trong cảnh huống u mờ ấy. Song với sức can trường anh vẫn nói: Nếu Chúa không muốn anh lành lặn, anh xin vui lòng chịu cho đến ngày được gặp ánh thiều quang trên quê hằng sống!.

Ðời anh thế là đã chìm mờ trong bóng tối như đôi tròng ngươi mất sáng.

Ôi! Thánh ý Chúa! Thánh ý Chúa là tất cả mọi sự đẹp đẽ của lòng người yêu Chúa!

Trong lòng con từ đây khuyết hẳn một nụ cười.

 

Hai Chị Em

Anh Liệt sống trong bóng tối. Chị Lê từ nay biến thành người tâm phúc của con. Ðối với đứa em bé nghịch ngợm, không bao giờ chị chịu thua ai trong cách tỏ tình âu yếm. Chị cũng có cái cách chiều con quá đáng như bà nội, lại hay làm tốt cho con lắm nữa. Chị thật có tấm lòng rộng rãi, và hay tha thứ như người mẹ, cho nên con rất quí mến chị và vẫn thường gọi là "Mẹ nhỏ". Ngày ấy đi đâu chúng con cũng phải có hai chị em, mà thường hễ gặp ai con cũng nghe họ hỏi:

- Hai chị em sau này lớn thì sẽ làm gì?

Mà lần nào con cũng nghe chị Lê đáp:

- Cháu đi tu.

Và con tuy chả hiểu tu là gì con cũng theo chị đáp:

- Cháu cũng thế, cháu sẽ đi tu với chị.

- Không, cháu là con trai, phải ở nhà làm thợ may với bố chứ?

- Chả, cháu thích đi tu hơn.

Những câu trả lời ấy đã rất được gia đình chú ý, và hay nhắc tới để đợi xem đứa bé hay "hám mẹ" ấy, sẽ có thể lìa xa gia đình bằng cách nào?

A ! bằng cách nào? Một khi Chúa đã muốn tuyển lựa một linh hồn, thì dù nhiêu khê đến mấy, sức Chúa vẫn kể nó là như không. Sau này khi con đã hiểu tu là gì rồi, tự con không còn lấy cái phải xa mẹ làm khổ nữa, tuy nhiên con biết nó sẽ sâu xé lòng con luôn mãi. Nhưng câu truyện về sau ấy chưa đến, con xin tiếp lại cái câu truyện chị em hiện thời.

Hễ cứ chiều, sau lúc tan học là chị em đem nhau ra vườn trồng hoa; chính chị đã dậy con cách cầm cuốc xới đất và tưới cây. Vườn hoa của chúng con có cái vẻ đẹp ngây thơ lắm; hoa tươi thì sáng nào cũng nở đầy vườn, nhưng chiều lại, thì bao nhiêu hoa điều đã mất sắc và tàn ỉu hết. Vì sáng nào cũng thế, muốn cho vườn của chúng con có vẻ là trồng hoa, nên chị em cứ ra đồng lượm hoa về để cấy.

Thưa cha, câu truyện cấy hoa ngày nay nó chỉ tỏ ra một trong những cử chỉ hồn nhiên của tuổi trẻ, nó ngây thơ và ngộ nghĩnh thật, nhưng đã đượm một ý nghĩa sâu xa cho đời con; nó đã gợi cho con liên tưởng đến một ngày sau đây, qua cái buổi mai tưng bừng của tuổi thơ xinh đẹp này, con sẽ phải qua một thời mưa nắng và tàn khô, như bông hoa con cấy, đã tàn tạ dưới nắng chiều.

Chỉ còn đợi một ngày mai trên quê hằng sống. Mai ấy mới là mai vui vẻ trọn niềm thôi.

Con cũng còn nhớ những ngày trong tháng năm được chị đem đi hái hoa về để dâng cho Ðức Mẹ.

Ngày tháng năm! A, ngày ấy là những ngày xinh tươi độc nhất của tuổi con. Ngày ấy mưa phùn đã tạnh, các cánh đồng về đầy hoa bát ngát; cảnh vật xinh tươi, gió đưa nhè nhẹ, và như xông hương thơm ngát vào lòng người. Cảnh vật ấy quyến rũ chúng con không sức nào gượng được. Ngày nào chúng con cũng phải có mặt ở ngoài đồng để hưởng cái thú thiên nhiên, cái thú mà người nhà quê thường gọi là cái thú quyến dũ của Ðức Mẹ. Thật, tháng năm là tháng của Ðức Mẹ, và Ðức Mẹ đã reo rắc vui tươi xinh đẹp vào cảnh vật để thúc đẩy chúng con cách ân tình tríu mến. Vả Hội Thánh đã chọn tháng năm để dâng kính Ðức Nữ Trinh Maria, thật không còn gì phải lẽ hơn. Mà Mẹ lại đã được gọi là Mẹ muôn hương thơm nghìn sắc đẹp.

Con lại còn có cái cảm tưởng riêng gọi mùa tháng năm là mùa các thiên thần đi tung hoa, vì nhìn đâu cũng thấy hoa, hoa nở la liệt trên khắp mặt đồng.

Dưới nền trời trong dịu của đồng quê, chị em chúng con như hai con bướm, nhởn nhơ chơi giỡn bên những khóm hoa xinh đẹp, lòng đầy êm sướng, tay hái hoa, và miệng ngêu ngao hát những câu ca vãn về Ðức Mẹ. Vì thế những cảm tình về Ðức Mẹ đã ăn sâu vào đáy lòng chúng con. Chúng con đã lượm được ở nơi đồng cỏ những cảm tình đắm yêu đối với Ðức Mẹ. Riêng phần con, con đã quyết rằng con sẽ là một bông hoa không có trái, để trọn đời tung hương thơm trước tòa Mẹ. Ý nghĩ đi tu của con do đó ngày một thêm mạnh mẽ.

Rồi, tối nào cũng thế, chúng con đem hoa đã hái, bày trong một chiếc đĩa nhỏ, rồi đem đến nhà thờ để dâng cho Ðức Mẹ. Chị Lê thì đã vào sổ đồng nhi, nên tối nào chị cũng phải đóng bộ áo "Tiểu nữ" vào để đi dâng hoa. Chị ăn vận coi như một công chúa rất xinh; áo mặc như Ðức Mẹ, đầu lại đội vòng hoa hột, lóng lánh như kim cương. Theo nghi thức tiến hoa, thì những tiểu nữ của Ðức Mẹ phải vừa ngâm vãn vừa tiến hoa theo nhịp trống, văn ngâm đến đâu, nhịp trống sẽ nhắc cho các cô dâng, quì, bái, tiến. Thật không khác gì một cảnh thiên thần vui cả trước tòa Mẹ. Nghi thức ấy rất hay, rất làm cho con thèm ước, chỉ phiền con là con trai, nên không được hân hạnh cầm hoa tiến lên như chị. Nhưng bao nhiêu tâm thành ý tốt của con điều dồn để cả trên bàn thờ Mẹ, con tha thiết nhìn Mẹ, và chỉ mong Mẹ nhận lấy lòng con như một búp hoa non bé nhỏ, gió đời còn nưng niu chiều chuộng. Song con sợ một ngày có lẽ sẽ héo đi, nên con xin dâng ngay tự hồi thơ trẻ này, để nhờ Mẹ ấp ủ chở che, để hồn con lúc nào cũng được vui tươi cho đến mãi cùng đời.

Từ khi ấy trong lòng con thấy nở hẳn một niềm vui chan chứa. Con chắc Ðức Mẹ đã nhìn con, đã nở trong tâm hồn con một nụ cười bí mật, và chính niềm vui ấy là chứng tỏ lời Mẹ đã cam kết bảo vệ hoa lòng con tươi tắn mãi.

A! thưa cha thân mến, con cảm thấy dường như lúc này trí con không được minh mẫn mấy thì phải? Con đã viết chữ lộn xộn, và cũng không hiểu tự sao con có cái lộn xộn ấy? Con xin ngưng bút và để tỉnh táo viết sang câu truyện khác.

 

(còn tiếp)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com