VIỆT NAM GIÁO SỬ Lm Phan Phát Huồn, CSsR PHẦN THỨ TƯ NHỮNG
NĂM KIẾN THIẾT CHƯƠNG BA MƯƠI Công cuộc truyền giáo tại Việt Nam từ 1888 đến 1933
III.- Hoạt động của các hội Dòng khác
Ngoài các thừa sai Pháp và các cha Dòng Ða Minh truyền giáo tại Việt Nam còn có tu sĩ khác cũng truyền giáo tại đây trong thời kỳ này. Vào năm 1933, Dòng Mến Thánh Giá hoạt động tại Giáo phận Hà Nội (Kẻ Sải, Kẻ Vồi, Bái Vàng, Kẻ Ðầm, Công Xá, Phú Ða, Kẻ Non, Kẻ Nghệ, Bút Ðông), Phát Diệm (Lưu Phương), Thanh Hoá, Vinh, Huế (Phú Cam, Dương Sơn, Cổ Vưu, Di Loan, Tam Tòa, Kẻ Bảng), Qui Nhơn (Gia Hựu, Gò Thị, Tân Dinh, Kim châu, Bình Cang, Mằng Lăng, Ðinh Thủy), Saigon (Chợ Quán, Thủ Thiêm), Vĩnh Long (Cái mơn, Cái Nhum). Dòng Nữ tu Thánh Phaolô hoạt động tại Hà Nội (trường Ste Marie 1894, bệnh viện, phế viện St Paul, Hưng Hóa (Sơn Tây và Yên Bái), Lạng Sơn, Ðáp Cầu, Bắc Ninh, Hải Phòng (Institution Saint Dominique, Nam Pháp, Hải Dương), Bùi Chu 1914, Thái Bình, Vinh, Xã Ðoài, Huế, Qui Nhơn (Tourane, Gò Thị, Kim Châu, Kontum, Tuy Hòa), Saigon (trường St Paul 1874, Chợ Lớn, Thị Nghè, Tân Ðịnh, Mỹ Tho, Di Linh). Dòng Nữ tu Carmel có mặt tại Hà Nội, Bùi Chu 1923, Thanh Hoá, Huế, Saigon. Dòng Nữ tu Ðức Bà Truyền Giáo Phát Diệm 1924, Thanh Hoá 1926, Sầm Sơn 1929, Lạng Sơn. Dòng Nữ tu Phan Sinh Thừa Sai Ðức Mẹ, Vinh 1932, Tuy Hòa, Quy Hòa. Dòng Nữ tu Chúa Quan Phòng, Cù Lao Giêng, Cần Thơ. Dòng nữ tu Ða Minh, Bùi Chu, Bắc Ninh, Lạng Sơn. Dòng Con Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Huế, Phú Xuân. Dòng Mến Thánh Giá Phục Hưng, Kim Ðôi (Huế) do cha Trần Văn Trang. Dòng nữ tu Thánh Vinh Sơn Phaolô, Qui Nhơn, Kontum, Ðakao (Gia Ðịnh 1928), Saigon 1934. Dòng Thánh Giuse do cha Sion Khâm lập 1926 Qui Nhơn. Dòng sư Huynh Lasan, Hànội trường Puginier 1908, Phát Diệm 1932, Qui Nhơn, Saigon trường d’Adran từ 1866 đến 1883, trường Taberd 1889, Hải Phòng 1906, Nam Ðịnh 1924, Huế Pellerin 1904. Ðan Viện Xitô, Mỹ Ca (Qui Nhơn). Dòng Sư Huynh Kitô Vua do hai thừa sai Gernot Quý và Ritter Giáo lập năm 1870, Cái Nhum, Vĩnh Long. Hội St Sulpice Xuân Bích Hà Nội 1933. Dòng Phan Sinh Vinh 1928. Dòng Sư Huynh Thánh Tâm Huế 1925. Riêng về Dòng Chúa Cứu Thế, vào năm 1925, LM Eugène Larrouche đã dẫn một phái đoàn Dòng Chúa Cứu Thế Canada thuộc tỉnh Sainte de Beaupré đến Huế do lời mời của Ðức Cha Allys Lý. Tại Huế các cha đã mở một nhà đệ tử cho 150 chủng sinh, đến năm 1928 các cha lại mở tu viện tại Thái Hà, Hà Nội, gồm có Học viện, Tập viên và đến năm 1933 mở tu viện tại Saigon. Khắp nơi trên cõi Việt Nam các cha Dòng Chúa Cứu Thế đã rao giảng Lời Chúa bằng những cuộc cấm phòng cho mọi giới, tu sĩ đến ngừơi lương dân, đồng thời các cha cũng quảng bá lòng sùng kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp mà Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã giao cho dòng vào năm 1863. Chỉ trong một thời gian rất ngắn mà việc tôn sùng Mẹ Hằng Cứu Giúp đã đựợc phổ biến từ Bắc chí Nam, từ thành thị đến thôn quê, có thể nói được rằng không có gia đình nào mà không có ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp.
IV. CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO Trở về Rôma sau hơn 20 năm truyền giáo tại Việt Nam, ngày 2-8-1650 cha Ðắc Lộ đã trình bày trước Thánh Bộ Truyền Giáo về tình hình đạo công giáo tại đất nước này. Ðể trả lời cho đòi hỏi của giáo hữu mỗi ngày một tăng thêm, cha Ðắc Lộ khẩn khoản nài xin Tòa Thánh hãy lập hàng giáo sĩ bản quốc và gởi đến Việt Nam một số Giám mục. Ðề nghị hữu lý và sáng suốt của cha Ðắc Lộ được Tòa Thánh chấp thuận vào tháng 8 năm 1658. Vì từ chối không nhận chức Giám mục nên Giáo tông Innocentê cử hai cha Francois Pallu và Lammbert de la Motte làm Giám mục hai giáo phận Ðàng Trong và Ðàng Ngoài. Với 2 Giám mục ấy, cuộc truyền giáo tại Việt Nam được trao qua tay các vị thừa sai Pháp. Từ đây, trong ngót 300 năm xây dựng lịch sử Hội Thánh Việt Nam, các vị Thừa sai Paris đã đóng vai trò quan trọng. Mặc dù không tránh những lỗi lầm, các Thừa sai Paris đã nêu gương hy sinh, can đảm, hăng say với sứ mệnh. Mồ hôi, máu, nước mắt của các ngài đã vun tưới Hội Thánh Việt Nam từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Chúng ta phải nhận thấy rằng nhờ các ngài mầm mống Ðức Tin đã vươn thành cây cao và trổ nhiều hoa quả. Giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn kiến thiết Hội Thánh Việt Nam. Các Thừa sai cũng như giáo dân Việt Nam đã được lòng hăng say đó, một phần lớn do hai cuộc tấn phong Chân phước Tử Ðạo Việt Nam. Ngày 27-5-1900 Tòa thánh đã phong chân phúc cho 53 vị Tử Ðạo tại Việt Nam, và đến ngày 2-5-1909, lại một lần nữa Hội Thánh Việt Nam đuợc hiên ngang long trọng mừng kính 20 đấng tử đạo được tấn phong chân phước. Việc tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu và việc lần chuỗi Mân Côi đã sớm được giáo dân Việt Nam ưa chuộng, và đó cũng là sức mạnh đã luôn luôn thúc đẩy và duy trì lòng đạo hạnh trong các gia đình công giáo Việt Nam. Chúng ta không thể nói đến công cuộc truyền giáo mà không nói tới một sự kiện quan trọng đã xảy ra hồi tháng 3 năm 1900, cuộc hội nghị các Giám Mục Việt Nam tại Kẻ Sặt, nhiều quyết định quan trọng cho đường hướng Hội Thánh Việt Nam đã được chấp thuận, và hội nghị đã mở đường cho bước tiến của Hội trong giai đoạn đầu thế kỷ XX.
1. Công cuộc truyền giáo tại Bắc Kỳ (1888-1933) Tại nhà Chính hội Truyền giáo Paris, còn lưu niệm bức thư của Ðức Cha Marcou, Giám Mục phụ tá Ðức Cha Gendreau, tóm lược về công cuộc truyền giáo tại miền tây bắc Việt Nam năm 1900 như sau: "Vì kỷ niệm đau xót về cuộc bách hại vẫn còn quá mới mẻ trong trí óc đoàn chiên, tương lai vẫn còn đầy đe dọa. Các nhà thờ là những ngôi nhà được xây cất như kiểu chùa chiền, một lối kiến trúc độc nhất tại xứ sở này. Tình hình truyền giáo có thể khả quan hơn, nếu có an ninh hơn. Sự thật là bổn đạo phải hy sinh nhiều để làm cho nhà Chúa thêm tươi đẹp. Các Thừa sai và các linh mục bản xứ đã phải tự tay xây cất Thánh đường..." Không ai còn lạ gì về sự thiếu sót mọi mặt của Giáo Hội vừa thoát ra khỏi những năm bách hại. Thiếu nơi thờ tự, thiếu nhà đào tạo, giáo dục tuổi trẻ, thiếu những hoạt động xã hội bác ái... Nhưng các Thừa sai đã mạnh dạn, một đàng xây cất các nhà thờ, các cơ sở chủng viện, nhà trường, nhà phước, nhà thương, một đàng xúc tiến công cuộc truyền giáo giữa công chúng, mặc dù bao khó khăn vẫn còn đó để ngăn cản và phá hoại. Mở trường học, xây cất bệnh viện và các công tác từ thiện là những công việc mà các Thừa sai đã làm, cũng như các Linh mục bản xứ, chính là những công việc rao giảng lời Chúa. Muốn rao giảng Lời Chúa, việc tối cần là phải có những cán bộ, những tông đồ tương lai, do đó hàng giáo sĩ một mặt đã lập nhiều Tiểu Chủng Viện, là nơi đào tạo và giáo dục những vị Linh mục có khả năng tiếp tục sứ mạng tông đồ mà Chúa đã giao phó trước lúc Ngài về Trời, một mặt các Giáo sĩ ấy mời các giáo đoàn như Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Xuân Bích, Dòng Ða Minh Pháp đến cộng tác để mở mang việc tông đồ. Ngoài các dòng này, tại giáo phận Hà Nội đã có các bà Dòng Kín, dòng chị em Mến Thánh Giá. Dòng này vào năm 1920 có 17 tu viện và quy tụ trên 300 nữ tu trong Giáo phận Hà nội (2). Vào năm 1900 giáo phận vẫn còn đặt Tiểu Chủng Viện tại Hoàng Nguyên, và Ðại Chủng Viện tại Kẻ Sở. Nếu có những lớp người đang chuẩn bị lâu năm công việc tông đồ trong các Chủng viện thì cũng có các lớp khác đang hăng say hoạt động trên những cánh đồng tông đồ bát ngát tại miền Bắc, và nhờ vậy số người tòng giáo ngày một tăng thêm, đặc biệt ở những vùng Giang Xá, Hà Nội, Nam Ðịnh. Riêng vùng núi Hoàng Xá các cha Marty, Fourneuve, Bourgeaux cho biết công việc có vẻ tiến chậm. Nhưng xứ Ðồng Gianh lại có vẻ tiến triển khả quan. Cha Fourneuve phàn nàn vì Cha đang ở núi phun lửa, hôm nay bình thản nhưng ngày mai có thể tái phát. Theo cha thì công việc truyền giáo tại các bộ lạc Mường rất khó khăn. Nhiều Thừa sai đã trở nên quá già yếu, trong số 2 Giám mục và 32 Thừa sai chỉ còn 26 vị còn có thể làm việc được. Cũng may là đến giai đoạn này số linh mục bản xứ tại giáo phận Hà Nội tăng thêm nhiều. Tuy nhiên chưa thể đáp ứng đủ với nhu cầu các xứ đạo. Trong Giáo phận Hà Nội, có các Mục Sư Tin lành Hoa Kỳ bắt đầu đến truyền giáo, ngày Chúa Giêsu Lên Trời các ông đã làm lễ rửa tội cho 15 người gần xứ sở họ, trước một số đông dân chúng hiếu kỳ đến xem, vì chưa thấy cách rửa tội dưới sông bao giờ. Tại Giáo phận Vinh, Thừa sai Massardier thường phàn nàn trong 30 năm qua ít có người trở lại Công giáo và trong tương lai cũng không hy vọng gì cho lắm, vì những trắc trở ngày càng nhiều về phía chính quyền địa phương, các quan luôn làm khó dễ người Công giáo. Cha Kerbaol Giám hạt Kỳ Anh đã cố gắng lập thêm xứ EO (3). Xứ này xa trung ương, và có chừng 600 bổn đạo. Giáo phận Vinh cũng ở trong tình trạng thiếu linh mục, mặc dù nhiều bổn đạo phải đi sang Lào hay vô Nam để tìm kế sinh nhai, số người chịu phép rửa tội trong những năm ấy lên tới 735 người. Ðược tách ra khỏi giáo phận Hà Nội, năm 1895 giáo phận Thượng (Hưng Hóa) và năm 1902 giáo phận Duyên Hải (Phát Diệm). Ðến năm 1932 Giáo phận Thanh Hóa lại được tách ra khỏi giáo phận Phát Diệm. Tại Hưng Hóa, số giáo hữu năm 1895 chỉ có 17.000 nhưng đến năm 1930 đã lên tới 45.316 người, không kể số giáo dân tản mát tại miền núi, vì có nhiều người đến Lào Cai, Yên Bái kiếm ăn sinh sống bằng cách đi làm phu ở. Nhờ đường sá mở mang, các cha bản xứ có thể đi xe đến một xứ nhỏ gần Hòa Bình, đến các đồn bót quân nhân và giới tiểu thương ở xa vẫn có thể giữ được lòng đạo đức. Ðời sống công giáo phát triển dần dần. Thừa sai Hue chính xứ Nỗ Lực và Phụng Gia mà thường giáo hữu gọi là Cố Hương đã để tâm thúc dục con chiên năng rước lễ ngày Chúa nhật. Cha đã đóng góp nhiều vào việc nghiên cứu ngữ học. Cha thường viết báo chí Việt ngữ, đính chính các điều sai lạc trong sách báo lưu hành có hại đến Ðức Tin công giáo. Cha còn phổ biến cách sử dụng các thứ thuốc Âu Mỹ, nhờ đó nhiều người được cứu sống. Cha Chabert chính xứ Vĩnh Lộc đã rửa tội cho hơn 500 em ngoại giáo, 300 người lớn, khu vực của Cha có thể gọi là toàn tòng. Bổn đạo rất tôn sùng Thánh Nữ Têrêsa. Cha Massard ngoài xã Bạch Lộc kiêm luôn tỉnh Sơn Tây. Tại Hưng Hóa, cha Vandale Vạn nhận thấy số bổn đạo trong thành phố tiến triển ít. Cha Savina phụ trách các người Mèo từ Hà Giang, Lai Châu đến Lào. Vùng này có chừng 350.000 người dân. Các người Nùng, Mèo, Thổ, Hán, Mán cần phải được rao giảng Tin Mừng. Gần Yên Bái, Cha Corneille và Doussoux phụ trách xứ Nghĩa Lộ, các bổn đạo xứ này bỏ đi làm mỏ ở miền xa. Cha Granger phụ trách miền tả ngạn sông Hồng, có cha bản xứ cộng tác nhưng vì bổn đạo ở rải rác và đường sá xa xôi nên việc tông đồ rất khó khăn. Tại Phát Diệm, theo nhận xét của Giám Mục Marcou từ năm 1920 đến 1930 số người chịu phép rửa tội kém hơn những năm trước, tình trạng suy giảm này có những lý do mà Cha Canilhac đã cho hay: Dân chúng Muồng Khang đã xin trở lại đạo từ 1905 đời cha Banchard rồi đến đời cha Picot, nhưng năm 1908 họ có vẻ trễ nải trong vấn đề giáo lý, mãi tới năm 1924, các gia đình của một số kỳ mục trong làng xin theo đạo, các cha mới dậy giáo lý kỹ càng và cuối 1926 họ mới được chịu phép rửa tội. Cha Mironneau tiếp tục công tác giáo vụ, rửa tội thêm cho nhiều dự tòng. Cha Bruyère thành công trong việc làm một bộ lạc người Kha trở lại và dựng cho người Kha một căn bản đạo đức khá vững chắc. Ðây là một dân tộc lạc hậu và nghèo khổ hơn cả trong giáo phận và hạt Chau Lào. Cha Martin mặc dù tuổi già sức yếu, đã cố gắng làm cho khu vực Sầm Sơn tăng thêm nhiều bổn đạo mới. Cha Bourget đã xây xong nhà thờ Thanh Hóa và rửa tội thêm cho 800 tân tòng, tương lai nhiều hứa hẹn. Cha còn lập thêm 7 nhà dạy giáo lý và đào tạo thêm nhiều thầy giảng giáo lý. Trong tỉnh Ninh Bình, số tân tòng tăng rất đáng kể. Cha Soubeyre đã rửa tội hơn 2.000 tân tòng (4); nhiều Cha và thầy giảng bản xứ đã rao giảng Ðức Tin và giúp cho nhiều người ngoại giáo trở lại. Số bổn đạo mới trong địa phận tăng gần gấp đôi. Chú Thích: 1. Muốn rõ chi tiết xem Phạm Phúc Khánh: Lược Sử Ðịa Phận Lạng Sơn. trg. 30-42 về tiểu sử Ðức Ông Hedde xem ở trg. 43. 2. Sociéte des Missions Etrangères: Compte rendu Paris 1920 p. 67. 3. Société des Missions Etrangères: Compte rendu Paris 1930 p. 133. 4. Missions Etrangères: Compte rendu Paris 1920 p. 146. Home | Nguyet
San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |