| |
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN. 13-08-2000 : GIÁ TRỊ CỦA MÌNH THÁNH CHÚA. CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN. 20-08-2000 : BÁNH TRƯỜNG SINH. CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN. 27-08-2000 : MẪU GƯƠNG TRUNG THÀNH. CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN. 03-09-2000 : GIÁ TRỊ CỦA Ý HƯỚNG. Chúa Nhật XIX Thường Niên 13-08-2000 GIÁ TRỊ CỦA MÌNH THÁNH CHÚA "Bánh Hằng sống bởi trời xuống, chính là Ta! Ai ăn bánh này, thì sẽ được sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, ấy là thịt mình Ta vì sự sống thế gian" (Gn 6:51). Bánh Hằng Sống mà Ðức Giêsu ban cho nhân loại, trong đó có tôi, chẳng phải là tấm bánh không men, ép mỏng, cắt tròn, không chứa tới ba calori, không đủ nuôi sống cơ thể bất cứ con người nào trong vòng một ngày--làm sao có thể gọi là "Hằng Sống"--nếu như đó không phải là chính Ngài. Thế nhưng khi rà xét lại lòng mình, tôi tự hỏi: Tôi đã từng đón nhận Ðức Giêsu với thái độ nào? Tâm hồn tôi có "đói Chúa" đủ để nhận chân ra giá trị của Tấm Bánh mà tôi rước lấy mỗi ngày hay mỗi tuần không? Phải chăng vì quen quá nên hoá nhàm, thay vì qua giá trị của miếng bánh mì cho thể xác tôi khám phá giá trị vô biên của Mình Thánh Chúa cho sự sống linh hồn, thì tôi đã tầm thường hoá Tấm Bánh Cực Thánh thành một miếng ăn thiếu sinh tố và không hấp dẫn? Thế nhưng, nếu có những người nhìn Mình Thánh với cái nhìn trần tục, xem Tấm Bánh Hằng Sống còn thua xa biết bao tấm bánh họ ăn hằng ngày, thì cũng có rất nhiều người qua tấm bánh vật chất bình thường biết hướng đến những giá trị thiêng liêng vô giá. Nếu với cái nhìn khoa học mà có người đã đánh mất nhận thức linh thánh, thì cũng không ít người đã nhờ khoa học mà khám phá rõ hơn sự hiện diện đích thựïc của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Ví dụ, ngày nào mà tôi đã không lấp đầy bao tử của mình bằng những cơm, rau, thịt, cá... hay bấc cứ thức ăn nào mà tôi có thể kiếm được. Thế rồi không lâu sau, những cơm rau thịt cá đó lại trở nên những tế bào của da, thịt, máu, xương. Bao tử của tôi đã làm được một việc mà không chiếc máy tối tân nào trên thế giới có thể thực hiện được. Tức là sau khoảng 15 tiếng đồng hồ, nó biến những của ăn hằng ngày nên các thành phần trong cơ thể. Tiến trình đó xảy ra ngay trên con người tôi, nhưng có lẽ lắm khi nhìn vào bàn tay hay đôi chân, hoặc bất cứ một phần nào đó của thân xác, tôi đã không hề nghĩ rằng: đây là do nước mắm, cơm canh chua, cá kho tộ,... kết hợp mà tồn tại. Từ ý nghĩ đó mang lại một hệ luận: bao tử và các cơ phận nơi thân xác tôi phải cần một khoảng thời gian nào đó để biến một thức ăn thành tế bào máu, thịt, xương, da của tôi. Còn Thượng Ðế, Ðấng siêu vượt trên thời gian, chẳng lẽ Ngài không làm cho một tấm bánh trở nên máu thịt của con người ngay tức khắc sao? Và Ngài lại không quyền phép hơn chiếc bao tử của tôi khi muốn biến tấm bánh đó thành xác thịt của chính Ngài sao? Tất nhiên Tạo Hoá bao giờ cũng tài năng hơn tạo vật. Thiên Chúa phải quyền phép hơn chiếc bao tử của tôi rồi. Nhưng dẫu sao đây cũng mới là những lý luận của trí óc, mà Bí tích Thánh Thể thì đâu chỉ giới hạn trong phạm vi lý trí. Song nó vươn cao trên những gì là lý trí để tiến đến một chiều kích bao la và sâu rộng hơn. Ðó là chiều kích niềm tin. Chính trong niềm tin, chứ không phải những cảm xúc được ghi nhận bởi giác quan, mà ta gặp gỡ và hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa trong Ðức Giêsu. Một linh mục đã viết: "Phải có đức tin, mới có thể vượt qua dấu chỉ khả giác là bánh và rượu, để khám phá và đón nhận chính ngôi vị sống động đang hiện diện và muốn trao ban chính mình. Phải có đức tin, mới có thể vượt qua con người thừa tác viên, mà khám phá sự hiện diện và tình yêu của chính Chúa Giêsu." Vì yêu thương con người mà Ðức Kitô đã lập nên Bí tích Thánh Thể để lưu lại với con người. Nhưng sự lưu lại này không chỉ là một sự hiện diện, song còn là một nỗi khát mong được kết hợp. Và sự kết hợp sâu xa nhất là được trở nên một xương, một thịt qua việc "ăn, uống": "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì lưu lại trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy" (Gn 6:56). Và chỉ ai ăn thịt và uống máu Ngài kẻ đó mới có sự sống dồi dào phong phú trong mình (Gn 6:53). Những ai có lòng yêu mến Thánh Thể cách chân thành sẽ cảm nhận được thế nào là sức sống dồi dào phong phú mà Ngài hứa ban (Gn 10:10). Lòng yêu mến chân thành này luôn đi kèm với thái độ kính trọng, dọn mình sốt sắng để lãnh nhận Ðức Kitô. Hơn nữa, trước sự cao cả của bí tích yêu thương này, người ta sẽ không thể không khiêm nhường bái thờ mà thưa với Chúa: "Domine, non sum dignus, ut intres sub tectum meum, sed tantum dic verbo, et sanabitur anima mea"("Lạy Chúa, con chẳng đáng đón Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời, thì linh hồn con sẽ được lành mạnh." Chớ gì bạn và tôi tìm được giá trị của sự sống sung mãn, không chỉ siêu nhiên nhưng còn cả tự nhiên, qua lòng tin yêu và thái độ cảm mến chân thành đối với Chúa Giêsu Thánh Thể.
Chúa Nhật XX Thường Niên 20-08-2000 BÁNH TRƯỜNG SINH
"Bánh này là bánh bởi trời xuống; không phải như cha ông các ngươi đã ăn và đã chết; ai ăn bánh này sẽ sống đời đời" (Gn 6:58) Có vở kịch tựa đề "Hai Mươi Phút với Một Thiên Thần" kể lại câu chuyện hai người đàn ông Nga, trong một chuyến đi công tác xa, đã ăn uống say sưa và vô độ đến nỗi tiêu sạch số tiền đi đường. Lâm cảnh túng bấn, họ đành phân công nhau đi đến các xóm làng láng giềng mượn tạm vài ba rúp, nhưng ai cũng từ chối. Cả hai lại dắt nhau vào một quán ăn để xin thực khách giúp đỡ. Họ cũng bị từ chối nốt. Cuối cùng, một người lạ xuất hiện. Ông vào quán dùng cơm, và khi nghe thấy tình cảnh khốn đốn của hai người, Khômutôp—tên của người khách lạ và cũng là một nhà kỹ sư—đã trao cho họ 100 rúp. Nhưng chuyện gì đã xảy ra sau đó? Khômutôp bị xem là một kẻ say rượu, là tên điên, là người ngu, là quân ăn cắp, một thằng lưu manh. Kết quả, ông ta bị hai kẻ say sưa kia đánh đập, sỉ nhục trong suốt 20 phút, vì một lý do duy nhất: họ muốn biết ý đồ và mục đích của hành động CHO KHÔNG một số tiền quá sức tưởng tượng kia. Vở kịch Hai Mươi Phút với Một Thiên Thần không những là lời báo động về sự đảo lộn nhân cách và niềm tin giữa người với người, nó còn cho thấy khi lòng ích kỷ hay chủ nghĩa cá nhận hưởng thụ chiếm ngự tâm hồn người ta, thì sẽ đến một lúc nào đó tình trạng "bão hoà với cái xấu, dị ứng với điều tốt" sẽ xảy ra. Việc keo kiệt không bố thí cho người sa cơ lỡ bước vài ba đồng sẽ là chuyện thường tình, chẳng ai bị lương tâm cắn rứt vì quá hà tiện. Trái lại, hành động quảng đại giúp người sẽ bị coi là trá hình, lừa đảo, bất thường. Phải chăng một vài chủ nghĩa bất nhân nào đó đã và đang tạo ra những thái độ mất tính người và làm nghịch đảo phẩm cách đạo đức trong nhân loại như thế? Vở kịch trên nhắc tôi về một câu chuyện xảy ra cách đây gần 2000 năm: Hôm đó trước cảnh đói khát, đoạ đày, lầm than của con người, một tình yêu vời vợi xuất hiện, một lòng quảng đại bao la được phơi bày. Số là một vị khách có tên Giêsu đã bước vào thế giới, trao cho nhân loại không phải một số tiền lộ phí rất lớn, cũng chẳng phải một lượng bánh manna thật nhiều, nhưng là trao trọn vẹn chính Ngài, không chỉ để làm bạn đồng hành, song còn là lương thực, hành trang, và lộ phí cần thiết cho suốt hành trình hồi hương về Miền Ðất Hứa trên trời: "Ta là Bánh bởi trời xuống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời. Không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna trong sa mạc và đã chết. Ai ăn Bánh này sẽ sống đời dời." Nhưng dường như vì đã sống quá lâu trong tình trạng ích kỷ, khởi đi từ ngày ông bà nguyên tổ lỗi nghĩa yêu thương—không biết qui hướng về Thiên Chúa mà chỉ lo làm thoả ý mình—nên trước sự trao ban tận tình và trọn vẹn của Ðức Giêsu, người ta đã không còn tin nỗi ở tai mình. Họ xô xát tranh luận với nhau: "Làm sao ông nầy có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được" (Gn 6:52). Có người lắc đầu và chán nản thốt lên: "Lời gì mà sống sượng quá! Ai nào có thể nghe nổi?" Thế rồi đã có không ít ngườøi phản đối, khước từ, rút lui... thậm chí có kẻ còn phản bội, lên án, hành hạ, đánh đập, sỉ nhục, và hạ sát Ngài. Có lẽ vì tâm thức của con người quá hạn hẹp, nên không hình dung và cảm nhận hết được tình thương vô biên trong sáng kiến độc đáo của Thiên Chúa. Biến bánh rượu nên Thịt Máu của mình để đồng hành và dưỡng nuôi con người—những kẻ đã vì một lần sa ngã, ăn uống sai lầm và vô độ—quả là một hành động yêu thương vô cùng. Lý trí và giác quan nhân loại không thể hình dung. Và như thế nếu không có sự trợ giúp của niềm tin, tất sẽ khó tránh khỏi sự phản bác, phản bội, hay phản động. Ngày nay, bị ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa hưởng thụ... phản ứng tương tự cũng đang xảy ra trong đời người Kitô hữu, khi mà thay vì xác tín hơn vào sự hiện diện đích thực của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, người ta lại chỉ nhìn thấy hình ảnh của bánh manna mà người Do thái đã ăn trong sa mạc. Thay vì chay tịnh phân minh cả xác lẫn hồn—giữ mình sạch tội trọng và kiêng ăn uống (ngoài nước lạnh) một giờ trước khi rước lễ—người ta lại cứ đi ăn Bánh Thánh trong tình trạng tội trọng. Vì sợ người khác nghi ngờ dèm pha. Thay vì năng tìm đến với sức sống và hơi ấm yêu thương, người ta lại nại lý do "không mấy sốt sắng" hay đang có "mấy tội lẩm cẩm" để phai nhạt với Tình Chúa và Mình Chúa. Ngày xưa, sau thời trung cổ, bè phái Jansenist và Arnould đã dạy dân chúng phải ăn chay đánh tội lâu ngày, sau đó mới được rước lễ. Họ không muốn giáo dân được quyền ăn Bánh Thánh thường xuyên. Nhưng Giáo hội đã xác định giáo thuyết của họ là lầm lạc. Chính Ðức Giáo Hoàng Piô X, vào ngày 20.12.1905, đã khuyến khích giáo dân hãy rước lễ mỗi ngày. Không gì có quyền ngăn cản một người sạch tội trọng và có ý ngay lành đi đón nhận Ðức Kitô. Về ý ngay lành Ðức Piô X đã giải thích rằng: người giáo dân tránh việc lãnh nhận Thánh Thể như một thói quen thường lệ, hay do một danh dự trần tục hoặc một phương diện thế gian nào đó thúc đẩy, nhưng là do mục đích làm đẹp lòng Chúa, hoặc muốn được kết hợp chân tình với Ngài trong đời sống bác ái, hoặc tìm kiếm một sự chữa lành thiêng liêng cho những yếu đuối và thiếu xót của mình. Mặc dầu luật Giáo hội buộc giáo dân phải rước lễ mỗi năm ít là một lần vào Mùa Phục Sinh, tức là từ Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay cho đến Lễ Chúa Ba Ngôi, tuy nhiên Giáo hội vẫn không ngừng khuyên bảo người Công giáo hãy đón nhận Mình Máu Chúa Kitô thường xuyên, hằng tuần và cả hằng ngày nữa. Với thái độ kính trọng và yêu mến việc rước Chúa Giêsu, người Kitô hữu, không những sống trọn vẹn nhân cách đối với tình thương và lòng quảng đại vô biên của Thiên Chúa, nhưng còn đón nhận cho mình cả một bảo chứng là sự sống và niềm vui sung mãn đời đời. Vậy, "Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Thiên Chúa thiện hảo dường bao"(Tv 33:9a -- Ðáp ca).
Chúa Nhật XXI Thường Niên 27-08-2000 MẪU GƯƠNG TRUNG THÀNH
"Bỏ Ngài con biết theo ai?"(Gn 6: 68) Ngày 12 tháng 3 năm 2000, báo chí khắp nơi đưa tin Ðức Hồng y Inhaxiô Kung Pin-mei, nguyên giám mục giáo phận Thượng Hải, đã từ trần trong cảnh lưu đày tại Stamford, tiểu bang Connecticut, Hoa Kỳ, hưởng thọ 98 tuổi. Ðiều được giới truyền thông ghi nhận trước hết về con người của Ðức Hồng Y quá cố là sự bất khuất, không chịu khước từ niềm tin và lòng trung thành với Giáo hội Công giáo Rôma. Chính điều này đã khiến chính quyền cộng sản Trung quốc cầm tù và quản chế ngài trong suốt 30 năm. Cách đây gần ba phần tư thế kỷ, vào ngày 28.05.1930, thầy Inhaxiô Pin-mei được thụ phong linh mục, và 19 năm sau, được tấn phong làm giám mục Thượng Hải, khi cộng sản đã hoàn toàn cai trị Trung Hoa. Trong lúc Giáo hội Trung Hoa bị bách hại, Ðức Cha Pin-mei đã chọn năm 1952 làm năm Thánh Mẫu. Thế là trong suốt năm, người ta thấy dân Công giáo không ngừng luân phiên nhau lần hạt trước tượng Ðức Mẹ Fatima. Bức tượng được di chuyển hết gia đình này qua gia đình khác. Ngày cuối năm Thánh Mẫu, bức tượng được đưa đến Nhà thờ Kitô Vua, nơi các linh mục bị công an bắt giữ trước đó một tháng. Ðức Cha Pin-mei đã đến viếng thăm Thánh đường và chủ toạ buổi lần hạt trước sự chứng kiến đầy căm tức của chính quyền và hàng trăm công an với súng ống vây quanh. Trong buổi cầu nguyện này, người ta đã không quên được lời khẩn xin tha thiết của Ðức Cha Pin-mei dâng lên cho Ðức Mẹ: "Lạy Mẹ Rất Thánh, chúng con không xin có được phép lạ. Chúng con cũng không xin chấm dứt tình cảnh bách hại. Chúng con chỉ xin Mẹ thương trợ giúp chúng con là những kẻ rất yếu đuối." Biết rằng không chóng thì chầy, thế nào mình và các linh mục khác cũng sẽ bị bắt. Ðức Cha lập tức cho huấn luyện hàng trăm giáo lý viên để tiếp tục truyền bá và duy trì niềm tin Công giáo. Những nỗ lực, hy sinh, và lòng trung thành của những giáo lý viên đó đã góp phần bảo tồn Giáo hội Công giáo "hầm trú" tại Trung Hoa cho đến hôm nay. Ngày 8 tháng 9 năm 1955, ngài đã bị bắt cùng với trên 200 linh mục và các chức sắc trong các họ đạo. Mấy tháng sau, ngài bị đưa vào một trường đua chó, nơi đây, hàng ngàn người đã bị thúc ép tập trung để nghe Ðức Giám mục công khai "tự thú và tự kiểm." Ðức Giám mục Kung Pin-mei đã xuất hiện trong bộ pijama với hai tay bị trói thúc ké. Công an đẩy ngài tới trước một chiếc mirco. Mọi người im lặng. Chính quyền cộng sản chờ đợi. Binh lính hầm hầm bao quanh. Và rồi trước sự ngỡ ngàng của đám đông, Ðức Cha dõng dạc hô vang: "Chúa Kitô Vua muôn năm! Ðức Giáo hoàng muôn năm!" Ðám đông đồng thanh đáp lại: "Chúa Kitô Vua muôn năm! Giám mục Pin-mei muôn năm." Ngay lập tức Giám mục Pin-mei bị kéo xuống khỏi sân khấu, đẩy vào một chiếc xe công an đang chực sẵn, và đem đi biệt xứ cho đến khi ngài bị đưa ra toà vào năm 1960 và bị kết án chung thân. Trong đêm trước khi ra toà, viên công tố đã lập lại lời yêu cầu Ðức Cha hợp tác thành lập một giáo hội tự trị với danh hiệu "Giáo hội Quốc doanh Yêu nước." Ðức Cha khẳng khái trả lời: "Tôi là một giám mục Công giáo Rôma. Nếu tôi phủ nhận Ðức Thánh Cha, thì không những tôi chẳng còn là giám mục, mà tôi cũng chẳng còn là một người Công giáo chân chính nữa. Thế nên, các anh có thể chặt đầu tôi, nhưng các anh sẽ không thể tẩy xoá bổn phận [của người chủ chăn] trong tôi." Thế là ngài đã bị đưa vào tù. Không bao lâu sau khi được thả vào năm 1985, Ðức Cha Pin-mei được mời tham dự một buổi tiếp tân do chính quyền cộng sản tổ chức để đón tiếp Ðức Hồng Y Jaime Sin, Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Manila, Phi Luật Tân, trong chuyến thăm viếng hữu nghị. Ngài và Ðức Hồng Y Jaime được sắp ngồi đối diện nhau nơi một chiếc bàn dài, có chừng 20 viên chức cộng sản ngồi giữa hai vị. Trong buổi tiệc, Ðứùc Hồng Y Jaime có đề nghị mỗi người hát một bài để chúc mừng. Khi đến lượt Ðức Cha Pin-mei, ngài đã nhìn thẳng vào Ðức Hồng Y Jaime và hát: "Tu es Petrus et super hanc petram aedificabo Ecclesiam meam" nghĩa là "Con là Ðá, trên Ðá này Ta sẽ xây Giáo hội của Ta" (Lời cầu nguyện cho Ðức Thánh Cha). Ngay sau đó Ðức Hồng Y Sin đã chuyển tin này đến Ðức Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Ðược biết, đang lúc còn nằm tù, Ðức Cha Pin-mei đã được Ðức Thánh Cha phong làm hồng y, và đến ngày 28.06.1991, sắc phong đó đã được Toà Thánh chính thức công bố. Trong buổi lễ trao mũ hồng y do Ðức Giáo Hoàng chủ phong tại Vatican, vị giám mục già nua 90 tuổi của địa phận Thượng hải đã tì người đứng dậy khỏi chiếc xe lăn, đặt chiếc gậy qua một bên, và chầm chậm bước lên bậc cấp, đến quì trước chân của vị Ðại diện Ðức Kitô. Cảm động trước cử chỉ trung thành của vị giám mục cao niên, Ðức Thánh Cha nâng ngài đứng lên, đội chiếc mũ hồng y lên đầu ngài, và kiên nhẫn đứng mãi cho đến khi Hồng y Pin-mei trở về chiếc xe lăn của mình, giữa tiếng vỗ tay hoan hô kéo dài suốt 7 phút của hơn 9 ngàn người tham dự. (National Catholic Register, vol. 76, no. 12, 19/3/2000) "Lạy Thầy, chúng con sẽ đi theo ai? Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con tin cùng nhận biết rằng: Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa" (Gn 6:68-69). Theo gương Thánh Phêrô, người đã thay mặt các tông đồ để tuyên tín như trên, noi gương Ðức Hồng Y Pin-mei--người đã trung thành với Giáo hội và với Ðức Kitô qua vị đại diện là Ðức Thánh Cha cho đến hơi thở cuối đời--và noi gương kiên tâm thờ Chúa của ông Giôsuê cùng những người Do thái được nhắc đến trong sách Giôsuê, ta hãy đồng thanh cất lên lời tuyên xưng vững vàng: "Không thể có chuyện chúng tôi bỏ Chúa mà tôn thờ những thần ngoại" (Jos 24: 16).
Chúa Nhật XXII Thường Niên 03-09-2000 GIÁ TRỊ CỦA Ý HƯỚNG "Dân này kính Ta ngoài môi ngoài miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và luật lệ loài người"(Mc 7:6-7) Ðược biết ngoài 613 khoản luật được viết thành văn, người Do thái còn có hàng trăm điều luật bất thành văn khác, thường được gọi là luật truyền khẩu. Ða số những luật truyền khẩu này phát xuất từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên khi một số ký lục muốn sắp đặt và phân tích lại cách thức áp dụng các điều luật đã được viết ra. Ðiều đáng chú ý là khi thực hiện việc giải thích và sắp xếp các khoản luật đó, những người ký lục thời bấy giờ muốn làm nổi bật ý nghĩa này: người ta phải cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa không chỉ trong Ðền thờ, nhưng còn trong mọi sinh hoạt của cuộc sống hàng ngày; và bởi Thiên Chúa là Ðấng Thánh, nên con người cũng cần thánh hoá chính mình để xứng đáng được sống trong sự hiện diện của Ngài. Theo luật Do thái được ghi lại trong sách Lêvi, tất cả mọi tư tế phải giữ mình thanh sạch, bởi vì họ phải thường xuyên đụng chạm đến các vật tế tự. Như thế, một tư tế sẽ bị nhơ uế nếu họ đụng đến người phong cùi, ăn uống hay đụng tới các súc vật bị cấm kị như rắn rít hay các loài bò sát, những con thú bị chết ngạt hay bị giết bởi các loài thú khác. Người tư tế cũng sẽ bị nhơ uế khi đụng đến người chết, ngoại trừ trong hàng thân thích ruột thịt như cha mẹ, anh em, con cái. Riêng đối với vị thượng tế, người tư tế lớn nhất trong các tư tế, thì không được phép chạm đến bất cứ một xác chết nào. Ngoài ra các tư tế còn không được giao du hay lấy làm vợ các thành phần mất trinh, mất chồng, hay mất nết (Lv 21:1-15). Luật thanh sạch còn cấm tư tế không được đụng đến cả các đồ vật mà xúc vật hay người dơ đụng vào. Việc tri hoan vợ chồng cũng làm cho họ mất thanh sạch suốt cả ngày hôm đó. Một khi bị nhơ uế, người tư tế không được phép dùng các thức ăn được thánh hiến nếu trước đó không thi hành lễ nghi tẩy uế. Phần chính yếu của lễ nghi này thường là việc tắm rửa (Lv, chương 15-26). Ðiểm đáng ghi nhận là các ký lục trong thế kỷ thứ V trước khi Chúa Giêsu sinh ra đã muốn nới rộng việc áp dụng luật thanh sạch dành cho các tư tế đến tất cả mọi người Do thái, vì họ là "đoàn dân tư tế." Thế nhưng, lần hồi theo năm tháng, đến thời Chúa Giêsu, tinh thần thanh tẩy và thánh hoá cho xứng đáng với sự hiện hữu của Thiên Chúa bị biến mất. Luật thanh tẩy chỉ còn là những nghi thức vô hồn. Ố nhơ được thuần túy ghi nhận như một sự dơ bẩn về thể lý. Tính chất luân lý bị đánh mất. "Tại sao môn đệ của ông không giữ tập tục của tiền nhân mà lại dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch?"(Mc 7:5). Các luật sĩ biệt phái, khi lấy luật thanh sạch và nhơ uế để hạch sách Ðức Giêsu, cũng chỉ dừng lại ở khía cạnh thể lý không hơn không kém. Sự tra vấn này không phải để nhắc nhở hay xây dựng, nhưng là bắt bẻ, gây khó khăn, đồng thời khoe mình là người tôn trọng luật pháp hẳn hoi. Ðời là thế. Lắm khi người ta nhân danh chính nghĩa để đả kích hay đập phá. Rồi cứ tự cho lối mình đi, đường mình bước, là đúng. Ðang khi đó không nhận thức được rằng tất cả chỉ là vỏ bọc vô cốt, nghi thức đầy đủ nhưng vô nghĩa vô hồn. Ðó phải chăng cũng là thái độ của loại người Kitô hữu vụ hình thức mà một linh mục đã nhận xét: "Họ có mặt trong các ngày Chúa nhật và lễ buộc. Họ nhớ các tập truyền. Họ giữ đạo vì thói quen, chiếu lệ hoặc vì tự ái sợ dư luận. Họ thuộc và chịu đọc kinh. Họ có mặt trong các buổi rước kiệu cung nghinh. Họ làm gọi là cho có, hay để khỏi bẽ mặt thua kém những người khác. Họ thích ganh đua. Người tổ chức rước sách thì ta cũng phải có cờ kiệu. Người có đoàn thể này đoàn thể nọ thì ta cũng phải có nhóm này hội kia. Người tổ chứùc tĩnh tâm thì ta cũng phải có cấm phòng. Họ làm như thế không phải do động lực nhu cầu thiêng liêng xui khiến thúc đẩy, nhưng hoàn toàn vì hình thức bên ngoài.... Họ làm các việc đạo đức vì hư danh, hay vì một lý do nào khác chứ không phải vì nghĩa vụ của người Kitô. Họ rước xách linh đình, khua chiêng gõ trống, hội hè mà không cần biết lợi ích thiêng liêng như thế nào... Họ không cần biết Thiên Chúa có vui hay có hài lòng vì lối sống đạo như thế hay không. Họ cũng chẳng quan tâm tự xét đời sống tâm linh của họ thăng tiến thế nào. Ðiều quan trọng là họ làm cho có, cho vui cửa vui nhà; cho khỏi nghĩ ngợi với người khác; cho nở mày nở mặt với người ta." (Trần Khả, Sống Ðời Sống Kitô Giáo, tr.91-92) Sống đạo mà không quan tâm đến khía cạnh nội tâm, không xét mình tự kiểm để khám phá và điều chỉnh động lực chi phối hành vi đạo đức bác ái, tất sẽ khó tránh khỏi lời quở trách của Thiên Chúa qua ngôn sứ Isaia: "Dân này kính Ta ngoài môi ngoài miệng, nhưng lòng chúng lại ở xa Ta" (Is 29: 13). Dù rằng "Ðức tin mà không có việc làm là đức tin chết,"như lời Thánh Giacôbê quả quyết, nhưng việc làm chỉ có ý nghĩa và mang lại sức sống khi nó là hành vi biểu thị chiều sâu của niềm mến tin. Có thể việc tôi làm không vĩ đại lắm, có thể tài trí tôi còn thua kém nhiều người, có thể sức lực thời giờ của tôi không dư giả bao nhiêu, nhưng nếu được hiến dâng và thi hành trong lòng mến tin Thiên Chúa và xây đắp hạnh phúc con người, chắc chắn giá trị sẽ dâng cao gấp bội. Chuyện kể tại một nhà dòng nọ, một thầy trợ sĩ sau khi đọc xong cuốn sách của một anh em linh mục cùng dòng viết, đã đi tìm vị linh mục tác giả và ca ngợi: "Chắc là sau này cuốn sách của cha sẽ mang lại cho cha một phần thưởng rất lớn ở trên trời, vì con thấy sách hay quá, chắc là giúp được cho nhiều linh hồn lắm." Vị linh mục thưa lại với thầy: "Thầy ạ, vào ngày phán xét, tất cả những cuốn sách của tôi và cái chổi của thầy cũng sẽ có cùng giá trị. Và nếu trong những khi quét nhà, ý hướng của thầy đẹp lòng Chúa hơn những ý hướng của tôi trong khi viết sách thì phần thưởng của thầy sẽ lớn hơn và thầy sẽ được cất nhắc cao hơn tôi nhiều ở trên thiên đàng." Ý hướng của tâm hồn có thể làm gia tăng hay giảm sút giá trị thiêng liêng của một hành vi. Thế nên, trước bao công việc tông đồ, mục vụ, đạo đức, bác ái, dấn thân, tôi phải không ngừng đi vào phía trong của tâm hồn để đối diện và trả lời với chính mình: "Tôi đang tôn thờ và phụng sự Thiên Chúa, hay tôi đang dùng Ngài như bình phong che đậy cho những tìm kiếm bất chính và ước mơ hão huyền?" Chân thành trả lời là khởi sự xây đắp cho mình một ý hướng ngay lành, để nhờ đó tôi thanh tẩy cuộc đời khỏi mọi nhơ uế bên trong, và cũng nhờ đó, tha nhân sẽ thấy rõ hơn dung mạo của một Vì Thiên Chúa yêu thương được phản chiếu qua mọi diễn tả của tâm hồn.
Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao |