TRANG HỒI KÝ CỦA TÒA GIẢI TỘI

NGUYỄN TẦM THƯỜNG

Ngày 10 tháng 6

Tôi là một tòa giải tội bằng gỗ. Tôi đứng ở đây lâu lắm rồi. Năm tháng đi qua với dòng đời đổi thay, tôi đứng đây nhìn cuộc đời. Trải qua mấy thế hệ rồi, những người cùng thời với tôi đã từ giã cõi đời từ lâu. Thế hệ này sang thế hệ khác, tôi chứng kiến những đổi thay trong cái họ đạo này. Ðời tôi là vô vàn những trang hồi ký.

Cuộc gặp gỡ nào cũng là một lịch sử. Biến cố nào cũng có ý nghĩa. Dòng chữ tôi đang viết đây là một mẩu ngắn trong dòng thời gian đó. Chuyện hai con chuột nhắt nói với nhau. Câu chuyện của chúng nó có liên quan về tôi.

Con chuột đứng cạnh bờ tường lên tiếng:

- Kỳ này mày có khỏe không?

Con kia trả lời:

- Nhức đầu quá!

Chúng tiếp tục câu chuyện. Tôi là tòa giải tội, tôi lắng nghe. Con cạnh bờ tường nói:

- Tao cũng nhức đầu quá.

- Tại sao vậy?

- Nhà tao ở, suốt đêm lúc nào cũng carao ôkê!

- Khu chung cư của tao thì chúng ồn ào ôi thôi là ồn ào. Hết đám con nít khóc, lại đến người lớn cãi nhau. Chán mớ đời!

- Thế trước đó mày ở đâu?

- Tao đổi nhà bao nhiêu lần rồi, chỗ nào cũng chỉ được vài hôm.

Con chuột phía bên kia cúi xuống gặm chân. Miếng báo cũ nó tha về đã trải gọn gàng. Nó thở dài rồi lại tiếp tục câu chuyện:

- Cuộc sống hôm nay phức tạp quá, suốt ngày ồn ào. Người lớn cũng vậy mà con nít cũng thế, chúng không bao giờ biết thinh lặng. Tao tìm hết nhà này đến nhà kia, chỗ nào cũng rứa. Khó ngủ quá. Tao từng ở ngoài chợ, rồi kho hàng, rồi nhà chùa, rồi nhà thờ, bây giờ thì ở gầm cái tòa giải tội này.

- Mày nghĩ chúng ta sẽ được yên thân nơi này không hay cũng bị mất ngủ?

Tôi chưa viết về sự cố vì sao hai con chuột nhắt này lại gặp nhau ở đây. Bắt đầu là thế này. Ngày xửa ngày xưa ở cái tòa giải tội này, tôi lúc nào cũng bận rộn đón người qua lại. Sáng, chiều, có một cha già, chẳng mấy khi không ngồi ở đây đón tín đồ. Lúc ấy khác bây giờ lắm, nhà thờ vang câu kinh, người lớn, con nít, ôi thôi đủ là hát xướng, vui ơi là vui. Hồi ấy người ta sốt sáng đạo đức, chiều kinh tối, sáng thánh lễ, lúc nào cũng có người ra vào tòa giải tội. Thế rồi từ từ lòng người thay đổi, cha già chết đi. Những người cùng thế hệ tôi cũng vậy. Sau cùng thì tôi là chiếc tòa giải tội vắng khách. Mạng nhện chăng dần. Bụi bắt đầu mờ. Chả thấy ai quét bụi nữa. Tôi là tòa giải tội đứng buồn hiu như một chợ chiều không còn người. Nghĩ mà nhớ những ngày tháng xa xưa. Tôi chả quên được dĩ vãng nhiều kỷ niệm ấy.

Rồi có một con chuột già đi ngang qua, nó thấy yên tĩnh lạ thường, nó dừng lại đôi ngày rồi khám phá ra cái không gian không bóng người ghé qua lại này, sau cùng thì nó vô cùng thích thú chọn nơi đây làm quê hương dưỡng già, ngủ ngon giấc. Yên tĩnh lắm. Con chuột ấy thế mà tinh khôn. Nó chui vào đây ở yên tĩnh thảnh thơi cho đến ngày nó biết mình sắp qua đời thì nhường lại khu vực êm ả cho hai con chuột nhắt.

Hai con chuột nhắt nói chuyện lúc nẫy là mới dọn vào đây đấy, chúng còn ngỡ ngàng lắm. Thôi, bây giờ tôi kể tiếp về hai con chuột nhắt nói với nhau:

- Ừa, tao nghĩ nơi đây sẽ yên tĩnh và chúng ta sẽ ngủ ngon!

- Sẽ không bị bước chân người quấy phá như ở ngoài đời!

Hai con chuột nhắt cười đùa khoái chí. Chúng đố nhau:

- Ðố mày chúng ta sẽ được yên tĩnh bao lâu? Một tuần? Một tháng? Hay một năm thì lại có người vào đây?

Con chuột nhỏ hơn trầm ngâm một chút rồi gục gặc cái đầu, nó không trả lời mà đối lại con kia bằng câu đố khác:

- Ðố mày ai là kẻ đầu tiên vào đây phá giấc ngủ chúng ta? Người hay lại gã mèo già tìm nơi yên mà ngủ?

n

 

Ngày... tháng....năm....

Ðã lâu không có ai vào đây, nhưng một mùa Chay nọ, câu chuyện xẩy ra.

Người thanh niên ngồi dưới cuối nhà thờ lâu lắm. Người ấy có đến đây mấy lần, chỉ ngồi trong nhà thờ thôi, không vào đây. Tôi là tòa giải tội lâu ngày không có người vào. Tôi cầu nguyện, tôi xin cho có một người vào đây với Chúa đi. Cây thánh giá treo trên tường cũng bụi bám, vắng thật vắng. Tôi cầu nguyện nhiều, và sau cùng tôi thấy anh ta từ từ bỏ ghế ngồi đi lên. Lòng tôi hồi hộp cầu nguyện thêm, tôi xin cho anh đừng bỏ cuộc. Sau cùng thì người thanh niên đến gần, ngó vào tòa giải tội, ngại ngùng. Tôi lại lấy hết tâm hồn cầu nguyện cho anh. Dáng đi của người thanh niên vất vả, có ai kéo anh lại? Tôi cầu nguyện thêm, cầu nguyện thêm. Sau cùng, người thanh niên giơ tay đẩy nhẹ cánh cửa, rồi bước vào.

Tôi là tòa giải tội ở đây bao nhiêu thế hệ rồi, gần trăm năm nay rồi còn gì, từ thế hệ cha ông của những người trong họ đạo này cơ mà. Như tôi viết ở trên, tôi chứng kiến rất nhiều thăng trầm của cuộc đời. Nhưng nhất là nhìn thấy không biết bao nhiêu biến cố lạ lùng đã xẩy ra từ chỗ này. Trong góc nhỏ nhà thờ này mà chứa không biết bao nhiêu phép lạ. Vì nó rất hạnh phúc và rất riêng tư nên người ta muốn giữ kỷ niệm đó cho riêng mình, ít người nói ra.

Người thanh niên nói với Chúa:

- Lậy Chúa, mỗi lần đến với Chúa qua tòa giải tội này là đời con được tái sinh, con hạnh phúc hơn, yêu đời hơn, mà sao con cứ ngại ngùng hả Chúa?

Trên bóng thánh giá, Chúa nhìn người thanh niên trả lời:

- Con ạ, ma quỷ rất sợ tòa giải tội. Nơi đây là trận chiến thất bại nhất của nó. Con có kinh nghiệm mỗi lần đến với Cha rồi ra về, lòng con vui hơn, cuộc đời nhẹ thênh thang, nhưng con vẫn ngại vì ma quỷ không muốn buông tha một người đang trên đường thuộc về nó. Lúc nào con ngại tòa giải tội là lúc ma quỷ gần con nhất. Nó đang giữ chân con lại. Chính lúc đó là lúc con lại cần tòa giải tội hơn lúc nào hết.

- Thưa Chúa, Chúa biết mọi tội con rồi sao con lại còn phải đến đây, sao Chúa không tha cho con đi?

- Con rất yêu quý của Cha, con hiểu lầm tình yêu của Cha trong tòa giải tội này rồi. Lòng của Cha luôn bao dung. Con không nhớ trước khi người con hoang đàng trong Phúc Âm trở về thì cha nó đã mong chờ nó rồi sao? Mong nó về là tha thứ hết rồi. Cha nó có hỏi tội nó đâu? Trước khi con đến đây, ngay khi con phạm tội, hôm đó lòng Cha buồn khôn tả. Con phạm tội xong, con bước đi u buồn lững thững, con giấu diếm Cha, con giấu diếm người chung quanh. Cha thấy thương con quá đỗi. Cha tha cho con ngay hôm đó rồi.

Người thanh niên im lặng lắng nghe. Anh trầm ngâm suy nghĩ. Một phút tĩnh mịch trôi qua. Lòng nhà thờ có con chim sẻ kêu nhiêm nhiếp. Chúa thấy người thanh niên im lặng, Ngài nói tiếp:

- Cha chán tội, Cha không muốn nghĩ đến tội. Cha chỉ nghĩ đến tình thương và sự đau khổ. Cha thấy con lầm lũi đi, con không dám nhìn trời, con giấu diếm Cha. Con rước lễ mà lòng con chán ngán. Cha biết con đau khổ. Cha nghĩ đến khổ đau trong con. Con ạ, con là con của Cha.

Chúa mới nói tới đó thì người thanh niên cúi xuống tay ghế quỳ chảy nước mắt. Con chim sẻ bay ngơ ngác với tiếng kêu nhiêm nhiếp. Trong dòng nước mắt, người thanh niên cố nói như muốn trách thêm Chúa:

- Thế sao con lại phải đến đây?

- Con yêu quý, nhưng như con thấy, chỉ khi nào người con hoang đàng trở về nhà thì nó mới có ăn. Nếu không về thì nó chết vì đói bên bày heo. Cho dù người cha tha lâu rồi, nhưng không về nó vẫn chết vì đói. Sự tha thứ đã được ban ra, nhưng để lãnh nhận con phải giơ tay. Nhà cha có cơm gạo nhưng con sẽ đói nếu không ăn. Con hiểu ý của Cha không?

Cũng như chiều nay, khi con ngồi trầm ngâm trong nhà thờ, Cha thấy con, Cha thấy rõ con chứ. Cha tha cho con lâu rồi. Cha tha cho con ngay khi con bước đi buồn bã vì tội trong con. Cha thương và Cha tha ngay.

Trong tiếng xót xa, người thanh niên hỏi Chúa:

- Cha tha mà sao lòng con cứ bối rối hoang vu?

- Con ạ, con không thể cảm nghiệm được tình thương của Cha cho đến khi con giơ tay lãnh nhận. Huyền diệu của tình yêu là chỉ khi nào người kia lãnh nhận thì tình yêu ấy mới thật sự thành tình yêu. Sự cao cả của tình yêu là tự do nên tình yêu không bao giờ đến từ một chiều. Khác biệt huyền diệu của tình yêu và sự thù ghét là sự tự do ấy. Khi thù ghét, người ta dùng bạo lực mà bắt người kia đau khổ. Nhưng tình yêu thì không, phải có người nhận tình yêu mới là tình yêu. Tình yêu cho đi mà không người nhận, tình yêu lại trở về với người cho đi thôi.

Người thanh niên lắng nghe, quỳ im lặng. Tôi là tòa giải tội. Mỗi lần xẩy ra như thế, lòng tôi hạnh phúc xót xa. Trong tôi có vui lẫn bùi ngùi. Trong xót xa có cái tiếc nuối, có thương tội nghiệp, có thật thà. Tôi mong có người đến với tòa giải tội là thế. Nơi ấy giữa Chúa và người ta gặp nhau cách kỳ diệu nhiệm mầu. Rồi người ta ra về với một trời mới, đất mới. Cỏ cây xanh tươi. Nắng chan hòa ấm cúng trong lòng người ta. Cứ mỗi lần chứng kiến như thế, đời tôi cũng hạnh phúc vô cùng. Vì thế mà tôi cứ muốn đứng làm tòa giải tội ở đây cho dù cả tháng có vài người tới thôi tôi vẫn cứ muốn ở đây. Tôi lắng nghe tiếp Chúa và người thanh niên đang nói chuyện:

- Con đến tòa giải tội không phải là tìm sự tha thứ mà là để cảm nghiệm sự tha thứ. Cũng như người con hoang đàng, không phải về để cha tha, mà để cảm nghiệm sự tha thứ và được sống.

Ngày con phạm tội, con ơi, con bước đi u buồn, con không dám nhìn Cha. Cha nhìn xuống tội nghiệp con. Về phần Cha, Cha luôn tha thứ cho con, nhưng để con cảm nghiệm tình yêu ấy vào trong hồn con thì lại tùy ở con.

Con yêu dấu, khi con đến tòa giải tội giơ tay lãnh nhận, tình yêu là ơn cứu độ trên bàn tay mang dấu đinh ở cây thánh giá này đổ xuống tay con.

Cha quý ơn sủng của Cha vì bàn tay Cha rất đau, nên khi cho ai ơn sủng ấy Cha nhớ người đó mãi. Con có thể quên ngày hôm nay, cũng như con đã quên những lần xưng tội trước vì khi lãnh nhận con chỉ giơ tay. Tay con không đau như tay Cha. Còn Cha, Cha không thể quên con vì tay Cha đã rất đau đớn với ân sủng này.

Con ơi, khi cho người nào ân sủng ấy, Cha nhớ người đó.

Con chim sẻ lại bay. Nó ngơ ngác như muốn tìm một đường bay nào đó mà không rõ. Tiếng kêu nhiêm nhiếp vang trong lòng nhà thờ vắng. Người thanh niên vẫn cúi đầu. Nói với Chúa:

- Lậy Cha, xin thương xót con. Xin cho con cảm nghiệm được tình thương của Cha.

Chúa nhìn người thanh niên rồi rất chậm rãi nâng bàn tay rất đau đớn ôm lấy người thanh niên. Người thanh niên cúi đầu lãnh nhận. Tôi thấy cả thiên đàng vui mừng. Mắt người thanh niên rướm lệ. Còn tôi, chiếc tòa giải tội gỗ, tôi lại chứng kiến một trời mới và một mùa xuân thiêng liêng mới nở trong lòng nhà thờ.

(trích tập suy niệm CÔ ÐƠN và SỰ TỰ DO, sắp in)


Home | Nguyet San | Bao Moi | Bao Cu | Mua Bao
E-mail : ducme@cuuthe.com